Chuẩn bị thức ăn

Thức ăn là không thể thiếu cho gà nhưng đây cũng là khâu mà các chủ trại ít quan tâm tới nhất.

- Làm khô máng trước khi cho thức ăn vào.

- Máng bổ sung cần được cung cấp trong 7-10 ngày đầu có thể dưới dạng khay, nắp hoặc giấy.

- Khay ăn cần được cung cấp với tỉ lệ 1 chiếc/50 gà.

- Máng ăn bổ sung cần đặt giữa đường ăn và uống chính và gần đèn sưởi.

- Máng ăn bổ sung cần được nạp thức ăn ít nhất 3 lần một ngày cho đến khi tất cả gà đều có thể tiếp cận được hệ thống ăn chính, thường là vào cuối tuần đầu tiên. Hệ thống ăn chính và uống chính là hệ thống ăn, uống tự động của trại trong giai đoạn úm ta có bổ sung thêm các máng ăn, máng uống phụ giúp gà có thể tiếp cận thức ăn nước uống nhanh và đầy đủ.

- Thức ăn: cần cung cấp thức ăn mảnh nhỏ chất lượng tốt, mỗi ngày cho gà ăn 6 – 8 bữa tránh hiện tượng máng ăn hết cám.

- Nếu sử dụng máng ăn bổ sung là giấy thì khu vực ăn cần tối thiểu là 50% khu vực úm. Giấy cần đặt gần hệ thống uống để gà dễ dàng ăn và uống.

- Không đặt thức ăn, nước uống trực tiếp dưới nguồn sưởi vì có thể làm giảm chất lượng thức ăn và nước uống.


Nhà thuốc thú y – Một số lưu ý khi chuẩn bị nhập đàn gà mới

Chuẩn bị nước uống

Lắp 14-16 máng uống/1,000 gà (bao gồm cả máng bổ sung) trong khu vực úm trong đó 8-10 chiếc là loại máng uống tròn.

Tất cả máng uống đều được vệ sinh và khử trùng trước khi sử dụng cho gà.

Điều chỉnh áp lực để có thể tạo ra giọt nước nhìn thấy ở mỗi núm mà không chảy nhỏ giọt xuống.

Kiểm tra các lỗ rò nước và khóa nước.

- Đảm bảo các núm uống ngang tầm mắt gà.

- Nước uống phải sạch và mới.

- Máng uống bổ sung cần đặt để gà có thể uống được ở cả máng bổ sung và hệ thống uống.

Khi thả gà vào quây úm nên cho gà uống nước có bổ sung Glucoze để tăng sức đề kháng, giảm stress sau khi được vận chuyển một quãng đường dài.

Nếu bổ sung thuốc bổ, thuốc kháng sinh vào nước uống nên thay ít nhất 2h một lần tránh hiện tượng thuốc bị phân hủy

Yêu cầu quản lý

Đưa gà cùng một nguồn giống và lứa tuổi vào một chuồng. Cần đảm bảo nguyên tắc cùng ra, cùng vào.

Chậm đưa gà vào chuồng sẽ gây mất nước cho gà, tăng tỉ lệ chết và giảm tỉ lệ tăng trưởng.

Giảm cường độ ánh sáng khi đưa gà vào để giảm stress, tắt bớt hệ thống chiếu sáng trong quây úm chỉ dùng bóng úm khi đưa gà vào quây úm.

Gà cần được đưa vào cẩn thận và và bố trí đều trong khu vực úm gần thức ăn và nước uống. Khi sử dụng máng ăn bổ sung là giấy, đặt gà lên giấy.

Cân 5% hộp đựng gà để xác định trọng lượng 1 ngày tuổi.
Đèn chiếu sáng trở lại cường độ bình thường khi tất cả gà đã được đưa vào.

Sau giai đoạn 1-2 giờ thích nghi, kiểm tra tất cả hệ thống và có điều chỉnh phù hợp về nhiệt độ hay số quây úm, vị trí quây úm . . .

Quan sát chặt chẽ biểu hiện của đàn gà trong vài ngày đầu. Đây là một cách để phát hiện ra các vấn đề với hệ thống ăn, uống, thông gió và sưởi ấm.

BiotechVET tổng hợp

Bình luận bài viết

Biotech -VET - Một số lưu ý trước khi nuôi lứa gà mới

Chuẩn bị thức ăn

Thức ăn là không thể thiếu cho gà nhưng đây cũng là khâu mà các chủ trại ít quan tâm tới nhất.

- Làm khô máng trước khi cho thức ăn vào.

- Máng bổ sung cần được cung cấp trong 7-10 ngày đầu có thể dưới dạng khay, nắp hoặc giấy.

- Khay ăn cần được cung cấp với tỉ lệ 1 chiếc/50 gà.

- Máng ăn bổ sung cần đặt giữa đường ăn và uống chính và gần đèn sưởi.

- Máng ăn bổ sung cần được nạp thức ăn ít nhất 3 lần một ngày cho đến khi tất cả gà đều có thể tiếp cận được hệ thống ăn chính, thường là vào cuối tuần đầu tiên. Hệ thống ăn chính và uống chính là hệ thống ăn, uống tự động của trại trong giai đoạn úm ta có bổ sung thêm các máng ăn, máng uống phụ giúp gà có thể tiếp cận thức ăn nước uống nhanh và đầy đủ.

- Thức ăn: cần cung cấp thức ăn mảnh nhỏ chất lượng tốt, mỗi ngày cho gà ăn 6 – 8 bữa tránh hiện tượng máng ăn hết cám.

- Nếu sử dụng máng ăn bổ sung là giấy thì khu vực ăn cần tối thiểu là 50% khu vực úm. Giấy cần đặt gần hệ thống uống để gà dễ dàng ăn và uống.

- Không đặt thức ăn, nước uống trực tiếp dưới nguồn sưởi vì có thể làm giảm chất lượng thức ăn và nước uống.


Nhà thuốc thú y – Một số lưu ý khi chuẩn bị nhập đàn gà mới

Chuẩn bị nước uống

Lắp 14-16 máng uống/1,000 gà (bao gồm cả máng bổ sung) trong khu vực úm trong đó 8-10 chiếc là loại máng uống tròn.

Tất cả máng uống đều được vệ sinh và khử trùng trước khi sử dụng cho gà.

Điều chỉnh áp lực để có thể tạo ra giọt nước nhìn thấy ở mỗi núm mà không chảy nhỏ giọt xuống.

Kiểm tra các lỗ rò nước và khóa nước.

- Đảm bảo các núm uống ngang tầm mắt gà.

- Nước uống phải sạch và mới.

- Máng uống bổ sung cần đặt để gà có thể uống được ở cả máng bổ sung và hệ thống uống.

Khi thả gà vào quây úm nên cho gà uống nước có bổ sung Glucoze để tăng sức đề kháng, giảm stress sau khi được vận chuyển một quãng đường dài.

Nếu bổ sung thuốc bổ, thuốc kháng sinh vào nước uống nên thay ít nhất 2h một lần tránh hiện tượng thuốc bị phân hủy

Yêu cầu quản lý

Đưa gà cùng một nguồn giống và lứa tuổi vào một chuồng. Cần đảm bảo nguyên tắc cùng ra, cùng vào.

Chậm đưa gà vào chuồng sẽ gây mất nước cho gà, tăng tỉ lệ chết và giảm tỉ lệ tăng trưởng.

Giảm cường độ ánh sáng khi đưa gà vào để giảm stress, tắt bớt hệ thống chiếu sáng trong quây úm chỉ dùng bóng úm khi đưa gà vào quây úm.

Gà cần được đưa vào cẩn thận và và bố trí đều trong khu vực úm gần thức ăn và nước uống. Khi sử dụng máng ăn bổ sung là giấy, đặt gà lên giấy.

Cân 5% hộp đựng gà để xác định trọng lượng 1 ngày tuổi.
Đèn chiếu sáng trở lại cường độ bình thường khi tất cả gà đã được đưa vào.

Sau giai đoạn 1-2 giờ thích nghi, kiểm tra tất cả hệ thống và có điều chỉnh phù hợp về nhiệt độ hay số quây úm, vị trí quây úm . . .

Quan sát chặt chẽ biểu hiện của đàn gà trong vài ngày đầu. Đây là một cách để phát hiện ra các vấn đề với hệ thống ăn, uống, thông gió và sưởi ấm.

BiotechVET tổng hợp

Bình luận bài viết
Đọc thêm
Người nuôi cần chú ý một số vấn đề sau để có thể kích thích gà đẻ nhiều trứng chất lượng hơn nhé.

Cho gà ăn theo tỷ lệ đẻ của đàn gà và theo giống gà. Chế độ chiếu sáng ổn định 14 - 16 giờ/ngày. Chuẩn bị đủ ổ đẻ cho gà, trung bình 5 - 6 gà/ổ, ổ đẻ đặt ở những nơi tránh ánh sáng trực tiếp và phân bố đều trong chuồng. Ổ đẻ được lót trấu, rơm rạ sạch, định kỳ thay lót ổ đẻ 2 lần/tuần. Hàng ngày quan sát đặc điểm ngoại hình, hoạt động của gà (màu lông, rụng lông, màu sắc mào…) để biết có chế độ chăm sóc hợp lý, loại bỏ những con gà ốm, gà không đẻ ra khỏi đàn.

Dinh dưỡng trong suốt giai đoạn gà đẻ: gà đẻ rất nhạy cảm với sự biến động chất lượng của thức ăn thể hiện ở năng suất trứng. Cần chú ý rất nhiều trong giai đoạn gà cho năng suất cao điểm. Dinh dưỡng đầy đủ và cân đối sẽ giúp gà cho năng suất ổn định trong thời gian dài. Cho gà ăn 2 lần/ngày, sáng 40% lượng thức ăn và chiều 60% lượng thức ăn. 


Nhà thuốc thú y – Kỹ thuật nuôi gà đẻ nhiều trứng

Quan sát kích thước trứng, vỏ trứng. Nếu vỏ trứng mỏng hoặc đẻ non thì phải bổ sung thêm canxi (trộn thêm vỏ sò, bột xương xay nhỏ) vào thức ăn buổi chiều. Sử dụng Cal ADE hoặc Tăng sản trứng. Nếu vỏ trứng nhỏ hơn bình thường thì phải tăng thêm lượng thức ăn. Muốn cho gà đẻ thương phẩm thay lông đồng loạt để tiếp tục cho trứng thêm một chu kỳ nữa, cần chú ý dự đoán giá bán trứng trong 6 - 8 tuần sắp tới (vì từ khi tiến hành quy trình thay lông thì đàn gà sẽ đẻ lại sau đó 6 - 8 tuần).

Quy trình cho gà thay lông đồng loạt như sau: giảm thời gian chiếu sáng còn 8 - 10 giờ/ngày (tức là chỉ sử dụng ánh sáng tự nhiên của ban ngày). Ngày thứ 1 - 2, cho gà nhịn đói và khát hoàn toàn. Ngày thứ 3 - 9, cứ 1 ngày cho ăn với lượng 40 - 50 g/con/ngày và cho uống nước theo nhu cầu, ngày kế tiếp cho nhịn đói và khát. Ngày thứ 10 - 60, cho ăn với lượng 70 - 80 g/con/ngày (khoảng 75% lượng thức ăn bình thường) và cho uống nước tự do. Từ ngày thứ 61 trở đi cho ăn, uống tự do, tăng thời gian chiếu sáng lên 14 - 16 giờ/ngày. Bình thường gà sẽ đẻ trở lại sau khi thay lông 6 - 8 tuần.

BiotechVET tổng hợp

Biotech -VET - Phương pháp nuôi gà đẻ trứng

Người nuôi cần chú ý một số vấn đề sau để có thể kích thích gà đẻ nhiều trứng chất lượng hơn nhé.

Cho gà ăn theo tỷ lệ đẻ của đàn gà và theo giống gà. Chế độ chiếu sáng ổn định 14 - 16 giờ/ngày. Chuẩn bị đủ ổ đẻ cho gà, trung bình 5 - 6 gà/ổ, ổ đẻ đặt ở những nơi tránh ánh sáng trực tiếp và phân bố đều trong chuồng. Ổ đẻ được lót trấu, rơm rạ sạch, định kỳ thay lót ổ đẻ 2 lần/tuần. Hàng ngày quan sát đặc điểm ngoại hình, hoạt động của gà (màu lông, rụng lông, màu sắc mào…) để biết có chế độ chăm sóc hợp lý, loại bỏ những con gà ốm, gà không đẻ ra khỏi đàn.

Dinh dưỡng trong suốt giai đoạn gà đẻ: gà đẻ rất nhạy cảm với sự biến động chất lượng của thức ăn thể hiện ở năng suất trứng. Cần chú ý rất nhiều trong giai đoạn gà cho năng suất cao điểm. Dinh dưỡng đầy đủ và cân đối sẽ giúp gà cho năng suất ổn định trong thời gian dài. Cho gà ăn 2 lần/ngày, sáng 40% lượng thức ăn và chiều 60% lượng thức ăn. 


Nhà thuốc thú y – Kỹ thuật nuôi gà đẻ nhiều trứng

Quan sát kích thước trứng, vỏ trứng. Nếu vỏ trứng mỏng hoặc đẻ non thì phải bổ sung thêm canxi (trộn thêm vỏ sò, bột xương xay nhỏ) vào thức ăn buổi chiều. Sử dụng Cal ADE hoặc Tăng sản trứng. Nếu vỏ trứng nhỏ hơn bình thường thì phải tăng thêm lượng thức ăn. Muốn cho gà đẻ thương phẩm thay lông đồng loạt để tiếp tục cho trứng thêm một chu kỳ nữa, cần chú ý dự đoán giá bán trứng trong 6 - 8 tuần sắp tới (vì từ khi tiến hành quy trình thay lông thì đàn gà sẽ đẻ lại sau đó 6 - 8 tuần).

Quy trình cho gà thay lông đồng loạt như sau: giảm thời gian chiếu sáng còn 8 - 10 giờ/ngày (tức là chỉ sử dụng ánh sáng tự nhiên của ban ngày). Ngày thứ 1 - 2, cho gà nhịn đói và khát hoàn toàn. Ngày thứ 3 - 9, cứ 1 ngày cho ăn với lượng 40 - 50 g/con/ngày và cho uống nước theo nhu cầu, ngày kế tiếp cho nhịn đói và khát. Ngày thứ 10 - 60, cho ăn với lượng 70 - 80 g/con/ngày (khoảng 75% lượng thức ăn bình thường) và cho uống nước tự do. Từ ngày thứ 61 trở đi cho ăn, uống tự do, tăng thời gian chiếu sáng lên 14 - 16 giờ/ngày. Bình thường gà sẽ đẻ trở lại sau khi thay lông 6 - 8 tuần.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Chăn nuôi gia cầm hiện nay đang phát triển nhanh và giữ một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, đa phần là phương thức chăn nuôi nông hộ, quy mô nhỏ lẻ thiếu tập trung, do đó việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới và công tác phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn. Biện pháp chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học là một phương pháp hiệu quả và an toàn hơn hết…

1. Chọn con giống: 

Giống gia cầm đưa vào nuôi phải có nguồn gốc rõ ràng, được mua từ các cơ sở sản xuất con giống an toàn dịch bệnh, đảm bảo chất lượng và có chứng nhận kiểm dịch của cơ quan thú y. 

2. Kiểm soát chuồng trại: 

Chuồng trại chăn nuôi phải xây dựng riêng biệt, xa bệnh viện, trường học, chợ, công sở và khu dân cư ít nhất 200m, cách xa nguồn nước sử dụng của cộng đồng và được đặt ở cuối hướng gió. Chuồng trại và khu vực chăn nuôi gia cầm cần quy hoạch xây dựng phù hợp với chăn nuôi gia cầm, xây dựng nơi cao ráo, thoát nước tốt, không bị mưa tạt gió lùa, thoáng mát vào mùa hè, ấm áp về mùa đông, diện tích và mật độ nuôi phù hợp với từng giai đoạn nuôi dưỡng phát triển của đàn gia cầm. Chuồng trại có tường rào bao quanh nhằm đảm bảo kiểm soát được người ra vào, ngăn chặn động vật truyền bệnh (chuột, chim…) từ ngoài xâm nhập vào khu vực chăn nuôi.

3. Thức ăn và nước uống cho gia cầm: 

Thức ăn cho gia cầm phải được mua từ các cơ sở sản xuất có uy tín hoặc nếu tự phối trộn thì thức ăn phải đảm bảo đủ các thành phần dinh dưỡng, cân đối phù hợp cho từng loài gia cầm, từng giai đoạn nuôi và hướng sản xuất. Thức ăn phải còn hạn sử dụng và được bảo quản đúng quy định không bị ẩm mốc, không chứa độc chất gây hại. Nước uống phải sạch và được cung cấp đầy đủ. Nguồn nước uống nên sử dụng là nước máy hoặc nước giếng khoan đã qua xử lý loại thải vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng và các chất hữu cơ gây hại.


Nhà thuốc thú y – Kỹ thuật nuôi gà an toàn sinh học

4. Thực hiện vệ sinh phòng bệnh: 

Đàn gia cầm phải được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm theo quy định bắt buộc của ngành thú y. Đối với gà tiêm phòng các bệnh: đậu, gumboro, dịch tả, cúm gia cầm. Vịt, ngan tiêm vắc xin dịch tả vịt, cúm gia cầm… Bên cạnh đó, người chăn nuôi phải theo dõi chặt chẽ sức khỏe đàn gia cầm hàng ngày để sớm phát hiện gia cầm bệnh cách ly và điều trị kịp thời tránh lây lan dịch bệnh, sử dụng các hóa dược dự phòng các bệnh ký sinh trùng cho đàn gia cầm như bệnh cầu trùng gà, bệnh sán lá đường tiêu hóa ngan, vịt… định kỳ vệ sinh quét dọn chuồng trại, định kỳ phun thuốc sát trùng toàn bộ dụng cụ, chuồng nuôi hàng tuần.

5. Xử lý chất thải:

Các chất thải trong chăn nuôi gia cầm như thức ăn dư, phân chất độn chuồng, nước thải được tập trung để xử lý diệt mầm bệnh bằng hóa chất, hố ủ sinh học, biogas trước khi loại thải ra môi trường ngoài để đảm bảo an toàn môi trường và an toàn dịch bệnh.

6. Cách ly, kiểm soát chặt chẽ chăn nuôi:

Nuôi riêng biệt từng loại gia cầm theo từng giai đoạn sản xuất, không nuôi nhiều loại trong cùng một ô chuồng, không nuôi các loại động vật khác trong trại nuôi gia cầm và hạn chế khách tham quan ra vào chuồng trại. Mỗi chuồng nuôi phải có dụng cụ riêng, không mang dụng cụ từ chuồng này sang chuồng khác. Trong chăn nuôi thương phẩm nên thực hiện “cùng nhập cùng xuất”. Sau mỗi lứa xuất gia cầm phải vệ sinh chuồng nuôi, sát trùng chuồng trại và để trống chuồng nuôi 2 đến 3 tuần trước khi lên kế hoạch nhập đàn gia cầm mới

BiotechVET tổng hợp

Biotech -VET - Một số lưu ý trong chăn nuôi gia cầm đảm bảo an toàn sinh học

Chăn nuôi gia cầm hiện nay đang phát triển nhanh và giữ một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, đa phần là phương thức chăn nuôi nông hộ, quy mô nhỏ lẻ thiếu tập trung, do đó việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới và công tác phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn. Biện pháp chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học là một phương pháp hiệu quả và an toàn hơn hết…

1. Chọn con giống: 

Giống gia cầm đưa vào nuôi phải có nguồn gốc rõ ràng, được mua từ các cơ sở sản xuất con giống an toàn dịch bệnh, đảm bảo chất lượng và có chứng nhận kiểm dịch của cơ quan thú y. 

2. Kiểm soát chuồng trại: 

Chuồng trại chăn nuôi phải xây dựng riêng biệt, xa bệnh viện, trường học, chợ, công sở và khu dân cư ít nhất 200m, cách xa nguồn nước sử dụng của cộng đồng và được đặt ở cuối hướng gió. Chuồng trại và khu vực chăn nuôi gia cầm cần quy hoạch xây dựng phù hợp với chăn nuôi gia cầm, xây dựng nơi cao ráo, thoát nước tốt, không bị mưa tạt gió lùa, thoáng mát vào mùa hè, ấm áp về mùa đông, diện tích và mật độ nuôi phù hợp với từng giai đoạn nuôi dưỡng phát triển của đàn gia cầm. Chuồng trại có tường rào bao quanh nhằm đảm bảo kiểm soát được người ra vào, ngăn chặn động vật truyền bệnh (chuột, chim…) từ ngoài xâm nhập vào khu vực chăn nuôi.

3. Thức ăn và nước uống cho gia cầm: 

Thức ăn cho gia cầm phải được mua từ các cơ sở sản xuất có uy tín hoặc nếu tự phối trộn thì thức ăn phải đảm bảo đủ các thành phần dinh dưỡng, cân đối phù hợp cho từng loài gia cầm, từng giai đoạn nuôi và hướng sản xuất. Thức ăn phải còn hạn sử dụng và được bảo quản đúng quy định không bị ẩm mốc, không chứa độc chất gây hại. Nước uống phải sạch và được cung cấp đầy đủ. Nguồn nước uống nên sử dụng là nước máy hoặc nước giếng khoan đã qua xử lý loại thải vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng và các chất hữu cơ gây hại.


Nhà thuốc thú y – Kỹ thuật nuôi gà an toàn sinh học

4. Thực hiện vệ sinh phòng bệnh: 

Đàn gia cầm phải được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm theo quy định bắt buộc của ngành thú y. Đối với gà tiêm phòng các bệnh: đậu, gumboro, dịch tả, cúm gia cầm. Vịt, ngan tiêm vắc xin dịch tả vịt, cúm gia cầm… Bên cạnh đó, người chăn nuôi phải theo dõi chặt chẽ sức khỏe đàn gia cầm hàng ngày để sớm phát hiện gia cầm bệnh cách ly và điều trị kịp thời tránh lây lan dịch bệnh, sử dụng các hóa dược dự phòng các bệnh ký sinh trùng cho đàn gia cầm như bệnh cầu trùng gà, bệnh sán lá đường tiêu hóa ngan, vịt… định kỳ vệ sinh quét dọn chuồng trại, định kỳ phun thuốc sát trùng toàn bộ dụng cụ, chuồng nuôi hàng tuần.

5. Xử lý chất thải:

Các chất thải trong chăn nuôi gia cầm như thức ăn dư, phân chất độn chuồng, nước thải được tập trung để xử lý diệt mầm bệnh bằng hóa chất, hố ủ sinh học, biogas trước khi loại thải ra môi trường ngoài để đảm bảo an toàn môi trường và an toàn dịch bệnh.

6. Cách ly, kiểm soát chặt chẽ chăn nuôi:

Nuôi riêng biệt từng loại gia cầm theo từng giai đoạn sản xuất, không nuôi nhiều loại trong cùng một ô chuồng, không nuôi các loại động vật khác trong trại nuôi gia cầm và hạn chế khách tham quan ra vào chuồng trại. Mỗi chuồng nuôi phải có dụng cụ riêng, không mang dụng cụ từ chuồng này sang chuồng khác. Trong chăn nuôi thương phẩm nên thực hiện “cùng nhập cùng xuất”. Sau mỗi lứa xuất gia cầm phải vệ sinh chuồng nuôi, sát trùng chuồng trại và để trống chuồng nuôi 2 đến 3 tuần trước khi lên kế hoạch nhập đàn gia cầm mới

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm

Ngày 27/10, Bộ Môi trường Hàn Quốc thông báo cơ quan chức năng nước này đã phát hiện một trường hợp nghi nhiễm chủng virus cúm gia cầm có khả năng gây tử vong ở người tại thành phố Anseong, cách thủ đô Seoul 80km về phía Nam.

Bộ Môi trường Hàn Quốc đã lấy mẫu bệnh phẩm của trường hợp nghi nhiễm để gửi đi xét nghiệm và sẽ phải mất từ 3-5 ngày để xác định virus cúm gia cầm này có thuộc chủng nguy hiểm hay không.

Theo bộ trên, mẫu bệnh phẩm đã được gửi đi xét nghiệm và sẽ phải mất từ 3-5 ngày để xác định virus cúm gia cầm này có thuộc chủng nguy hiểm hay không. Hiện các cơ quan chức năng Hàn Quốc đã triển khai các biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn dịch bệnh lây lan tại khu vực phát hiện trường hợp nghi nhiễm nói trên.


Nhà thuốc thú y - Tiêm vắcxin cho gia cầm tại Hàn Quốc

Trước đó, ngày 22/10, giới chức Hàn Quốc xác nhận tồn tại virus cúm gia cầm H5 trong mẫu chất thải của chim hoang dã. Hồi đầu tháng, Hàn Quốc cũng đã thông báo về trường hợp nghi nhiễm virus cúm gia cầm nguy hiểm tại Asan, tỉnh Nam Chungcheong. Tuy nhiên, kết quả kiểm nghiệm sau đó cho thấy chủng virus cúm này không quá nguy hiểm.

Các đợt bùng phát dịch cúm gia cầm tại Hàn Quốc thường xảy ra vào mùa Đông. Năm 2016, nước này đã phải đối mặt với đợt dịch tồi tệ nhất trong lịch sử, kéo dài gần tám tháng. Hơn 30 triệu con gia cầm bị tiêu hủy, dẫn tới thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cung ứng thịt và trứng.

Trường hợp virus cúm gia cầm nguy hiểm có thể gây tử vong ở người gần đây nhất ở Hàn Quốc xảy ra tại Asan hồi tháng 2/2017.

BiotechVET tổng hợp

Biotech -VET - Hàn Quốc: Ca nghi nhiễm virus cúm gia cầm có thể gây tử vong ở người


Ngày 27/10, Bộ Môi trường Hàn Quốc thông báo cơ quan chức năng nước này đã phát hiện một trường hợp nghi nhiễm chủng virus cúm gia cầm có khả năng gây tử vong ở người tại thành phố Anseong, cách thủ đô Seoul 80km về phía Nam.

Bộ Môi trường Hàn Quốc đã lấy mẫu bệnh phẩm của trường hợp nghi nhiễm để gửi đi xét nghiệm và sẽ phải mất từ 3-5 ngày để xác định virus cúm gia cầm này có thuộc chủng nguy hiểm hay không.

Theo bộ trên, mẫu bệnh phẩm đã được gửi đi xét nghiệm và sẽ phải mất từ 3-5 ngày để xác định virus cúm gia cầm này có thuộc chủng nguy hiểm hay không. Hiện các cơ quan chức năng Hàn Quốc đã triển khai các biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn dịch bệnh lây lan tại khu vực phát hiện trường hợp nghi nhiễm nói trên.


Nhà thuốc thú y - Tiêm vắcxin cho gia cầm tại Hàn Quốc

Trước đó, ngày 22/10, giới chức Hàn Quốc xác nhận tồn tại virus cúm gia cầm H5 trong mẫu chất thải của chim hoang dã. Hồi đầu tháng, Hàn Quốc cũng đã thông báo về trường hợp nghi nhiễm virus cúm gia cầm nguy hiểm tại Asan, tỉnh Nam Chungcheong. Tuy nhiên, kết quả kiểm nghiệm sau đó cho thấy chủng virus cúm này không quá nguy hiểm.

Các đợt bùng phát dịch cúm gia cầm tại Hàn Quốc thường xảy ra vào mùa Đông. Năm 2016, nước này đã phải đối mặt với đợt dịch tồi tệ nhất trong lịch sử, kéo dài gần tám tháng. Hơn 30 triệu con gia cầm bị tiêu hủy, dẫn tới thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cung ứng thịt và trứng.

Trường hợp virus cúm gia cầm nguy hiểm có thể gây tử vong ở người gần đây nhất ở Hàn Quốc xảy ra tại Asan hồi tháng 2/2017.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Mô hình chăn nuôi gà ta thả vườn đang phát triển mạnh ở nhiều địa phương trong cả nước bước đầu mô hình đã mang lại hiệu quả cao cho nhiều hộ chăn nuôi.

Chăn nuôi gà ta thả vườn không khó nhưng để nuôi gà ta thành công mang lại hiệu quả kinh tế tối ưu đòi hỏi bà con chăn nuôi phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật, thường xuyên tham khảo báo đài, kinh nghiệm người đi trước áp dụng vào thực tế chăn nuôi hộ gia đình.

Để góp phần giúp các bạn chăn nuôi gà ta thả vườn đạt được hiệu quả, chúng tôi xin giới thiệu qua một số bước quan trọng trong kỹ thuật nuôi gà ta thả vườn mời các bạn tham khảo.

1. Khâu chuẩn bị điều kiện nuôi

  • Trước khi đem gà ta về nuôi cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện vật chất kỹ thuật như:
  • Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày.
  • Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y cần thiết cho đàn gà.
  • Chuồng nuôi đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông.
  • Nền chuồng thiết kế đúng kỹ thuật, cao ráo, thoát nước.
  • Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10 cm được phun sát trùng khi sử dụng.
  • Đảm bảo lưu thông không khí trong chuồng nuôi.


Nhà thuốc thú y – Chăn nuôi gà thả vườn

Chuẩn bị chuồng trại

  • Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để cất chuồng gà. Nên cất chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng sáng và tránh được nắng chiều.
  • Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
  • Nếu nuôi gà thả vườn,chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ là ít nhất 1 con/m2.
  • Mặt trước cửa chuồng hướng về phía đông nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5 m để thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.
  • Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ... tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn chơi, buổi tối cho gà về chuồng.

Chuẩn bị lồng úm gà con

  • Kích thước 2m x 1m cao chân 0,5m đủ nuôi cho 100 con gà.
  • Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75 W dùng cho 100 con gà).

Chuẩn bị máng ăn

  • Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải cám tấm trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
  • Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con.
  • Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.
  • Chuẩn bị máng uống
  • Đặt hoặc treo xen kẻ các máng uống với máng ăn trong vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.

2. Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng

Nên vận chuyển gà ta con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha BTV – Úm gà - vịt cho gà uống, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.

Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng BTV - Sulfalin 1 gr/7 kg thức ăn (hoặc dùng Prococ ).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ.

Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rủ cần cách ly ngay để theo dõi.

Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn.

Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.

Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Bcomplex kết hợp điện giải Gluco C

Do tập tính của gà ta thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.

Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7.

Chú ý: Không nuôi nhiều cở gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.

4. Thức ăn cho gà ta

Gà ta thả vườn là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rửa.

Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.

Đối với gà ta thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà ta nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể.

Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.

Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà.

Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.

Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn.

Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.

Chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.

Chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.

5. Vệ sinh phòng bệnh

Vệ sinh phòng bệnh là vấn đề là công tác chủ yếu, đảm bảo "Ăn sạch, ở sạch, uống sạch". Nên chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.

Áp dụng nghiêm ngặt lịch phòng vaccine tuỳ theo từng địa phương. Ngoài ra, dùng kháng sinh phòng một số bệnh do vi trùng, đặc biệt đối với gà thả nền thì cần phải phòng bệnh cầu trùng khi cho xuống nền và thả vườn. Nên dùng định kỳ kháng thể bột( Kháng thể E.Coli gia cầm)

Vệ sinh phòng bệnh:

  • Thức ăn tốt.
  • Nước sạch.
  • Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao.
  • Chuồng nuôi sạch.
  • Quanh chuồng nuôi phải phát quang.
  • Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.

Phòng bằng Vaccine:

Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh:
Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe.
Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.
Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ.
Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gà.

*Phòng bằng thuốc:

Bệnh ở đường tiêu hóa: Ampi Anticoli, Doxtin,...
Bệnh đường hô hấp: DoxyPro, Doty, gendox,...
Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình. Mỗi liệu trình phòng bệnh khoảng 3-4 ngày là đủ.

Phòng bệnh

Trong giai đoạn gà đẻ, chỉ sử dụng kháng sinh khi gà bệnh. Sau 6 tháng đẻ, ngừa lại các bệnh dịch tả, tụ huyết trùng, Gumboro cho đàn mái đẻ.

BiotechVET tổng hợp

Biotech -VET - Kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn

Mô hình chăn nuôi gà ta thả vườn đang phát triển mạnh ở nhiều địa phương trong cả nước bước đầu mô hình đã mang lại hiệu quả cao cho nhiều hộ chăn nuôi.

Chăn nuôi gà ta thả vườn không khó nhưng để nuôi gà ta thành công mang lại hiệu quả kinh tế tối ưu đòi hỏi bà con chăn nuôi phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật, thường xuyên tham khảo báo đài, kinh nghiệm người đi trước áp dụng vào thực tế chăn nuôi hộ gia đình.

Để góp phần giúp các bạn chăn nuôi gà ta thả vườn đạt được hiệu quả, chúng tôi xin giới thiệu qua một số bước quan trọng trong kỹ thuật nuôi gà ta thả vườn mời các bạn tham khảo.

1. Khâu chuẩn bị điều kiện nuôi

  • Trước khi đem gà ta về nuôi cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện vật chất kỹ thuật như:
  • Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày.
  • Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y cần thiết cho đàn gà.
  • Chuồng nuôi đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông.
  • Nền chuồng thiết kế đúng kỹ thuật, cao ráo, thoát nước.
  • Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10 cm được phun sát trùng khi sử dụng.
  • Đảm bảo lưu thông không khí trong chuồng nuôi.


Nhà thuốc thú y – Chăn nuôi gà thả vườn

Chuẩn bị chuồng trại

  • Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để cất chuồng gà. Nên cất chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng sáng và tránh được nắng chiều.
  • Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
  • Nếu nuôi gà thả vườn,chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ là ít nhất 1 con/m2.
  • Mặt trước cửa chuồng hướng về phía đông nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5 m để thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.
  • Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ... tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn chơi, buổi tối cho gà về chuồng.

Chuẩn bị lồng úm gà con

  • Kích thước 2m x 1m cao chân 0,5m đủ nuôi cho 100 con gà.
  • Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75 W dùng cho 100 con gà).

Chuẩn bị máng ăn

  • Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải cám tấm trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
  • Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con.
  • Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.
  • Chuẩn bị máng uống
  • Đặt hoặc treo xen kẻ các máng uống với máng ăn trong vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.

2. Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng

Nên vận chuyển gà ta con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha BTV – Úm gà - vịt cho gà uống, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.

Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng BTV - Sulfalin 1 gr/7 kg thức ăn (hoặc dùng Prococ ).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ.

Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rủ cần cách ly ngay để theo dõi.

Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn.

Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.

Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Bcomplex kết hợp điện giải Gluco C

Do tập tính của gà ta thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.

Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7.

Chú ý: Không nuôi nhiều cở gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.

4. Thức ăn cho gà ta

Gà ta thả vườn là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rửa.

Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.

Đối với gà ta thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà ta nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể.

Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.

Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà.

Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.

Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn.

Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.

Chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.

Chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.

5. Vệ sinh phòng bệnh

Vệ sinh phòng bệnh là vấn đề là công tác chủ yếu, đảm bảo "Ăn sạch, ở sạch, uống sạch". Nên chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.

Áp dụng nghiêm ngặt lịch phòng vaccine tuỳ theo từng địa phương. Ngoài ra, dùng kháng sinh phòng một số bệnh do vi trùng, đặc biệt đối với gà thả nền thì cần phải phòng bệnh cầu trùng khi cho xuống nền và thả vườn. Nên dùng định kỳ kháng thể bột( Kháng thể E.Coli gia cầm)

Vệ sinh phòng bệnh:

  • Thức ăn tốt.
  • Nước sạch.
  • Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao.
  • Chuồng nuôi sạch.
  • Quanh chuồng nuôi phải phát quang.
  • Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.

Phòng bằng Vaccine:

Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh:
Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe.
Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.
Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ.
Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gà.

*Phòng bằng thuốc:

Bệnh ở đường tiêu hóa: Ampi Anticoli, Doxtin,...
Bệnh đường hô hấp: DoxyPro, Doty, gendox,...
Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình. Mỗi liệu trình phòng bệnh khoảng 3-4 ngày là đủ.

Phòng bệnh

Trong giai đoạn gà đẻ, chỉ sử dụng kháng sinh khi gà bệnh. Sau 6 tháng đẻ, ngừa lại các bệnh dịch tả, tụ huyết trùng, Gumboro cho đàn mái đẻ.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Theo Bộ NN&PTNT, trong 10 năm qua, lĩnh vực thức ăn chăn nuôi (TACN) đã có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần giảm giá thành chăn nuôi, tăng chất lượng và bảo đảm an toàn thực phẩm. Dù vậy, lĩnh vực này cũng đang hiện hữu nhiều tồn tại cần sớm được khắc phục.


Nhà thuốc thú y - Sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Tập đoàn Masan

Đại diện Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) cho biết, hiện nay, số lượng các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, gia công và buôn bán TACN của Việt Nam đã quá nhiều. Nếu với tốc độ đầu tư như thời gian vừa qua thì đến năm 2020, công suất thiết kế của các nhà máy TACN công nghiệp trong nước sẽ vượt qua 40 triệu tấn/năm. Như vậy, sẽ vượt so với nhu cầu tiêu thụ trong nước khoảng 5 triệu tấn/năm.

Tình trạng mất cân đối về thị phần TACN của doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp nội địa đang diễn ra ngày một rõ nét hơn. Cụ thể, mặc dù chiếm tới 67,9% về số lượng nhà máy nhưng sản lượng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 40%. Trong khi nhà máy thuộc doanh nghiệp nước ngoài chỉ chiếm 32,1% nhưng sản lượng lại chiếm khoảng 60% và có xu hướng gia tăng mạnh trong thời gian tới.

Bài toán về ích lợi kinh tế, công ăn việc làm và sức cạnh tranh của Doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất TACN với doanh nghiệp nước ngoài cần phải xem xét và cân đối hài hòa. Hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước đang yếu thế về năng lực cạnh tranh so với doanh nghiệp nước ngoài.

Số lượng nguyên liệu TACN nhập khẩu lớn trong khi chưa tận dụng được thế mạnh về nguyên liệu trong nước. Hiện nay, công nghiệp chế biến thức ăn bổ sung, phụ gia của Việt Nam chưa phát triển; hầu hết các nguyên liệu dùng để sản xuất thức ăn bổ sung đều phải nhập khẩu, các loại nguyên liệu thô như ngô, cám mì,… cũng phải nhập khẩu đến trên 75% so với nhu cầu, nhất là các loại thức ăn giàu đạm như khô dầu, bột thịt xương.

Ngành sản xuất TACN chưa tận dụng hết các nguồn thức ăn trong nước (phụ phẩm thủy sản, phụ phẩm quá trình sản xuất rượu bia, thóc gạo và phụ phẩm của ngành sản xuất gạo, phụ phẩm của ngành sản xuất rau quả, mía đường…).

Bên cạnh đó, giá TACN đến tay người chăn nuôi chưa thật sự phù hợp. Do tỷ trọng nhập khẩu lớn, chi phí sản xuất TACN cao, hệ thống phân phối qua nhiều đại lý trung gian, việc quản trị và sản xuất theo chuỗi giá trị chưa phát triển dẫn đến giá TACN đến người chăn nuôi còn chưa thật sự phù hợp.

BiotechVET tổng hợp

Biotech -VET - Việt Nam đứng trước nguy cơ mất cân đối cung cầu thức ăn chăn nuôi

Theo Bộ NN&PTNT, trong 10 năm qua, lĩnh vực thức ăn chăn nuôi (TACN) đã có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần giảm giá thành chăn nuôi, tăng chất lượng và bảo đảm an toàn thực phẩm. Dù vậy, lĩnh vực này cũng đang hiện hữu nhiều tồn tại cần sớm được khắc phục.


Nhà thuốc thú y - Sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Tập đoàn Masan

Đại diện Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT) cho biết, hiện nay, số lượng các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, gia công và buôn bán TACN của Việt Nam đã quá nhiều. Nếu với tốc độ đầu tư như thời gian vừa qua thì đến năm 2020, công suất thiết kế của các nhà máy TACN công nghiệp trong nước sẽ vượt qua 40 triệu tấn/năm. Như vậy, sẽ vượt so với nhu cầu tiêu thụ trong nước khoảng 5 triệu tấn/năm.

Tình trạng mất cân đối về thị phần TACN của doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp nội địa đang diễn ra ngày một rõ nét hơn. Cụ thể, mặc dù chiếm tới 67,9% về số lượng nhà máy nhưng sản lượng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 40%. Trong khi nhà máy thuộc doanh nghiệp nước ngoài chỉ chiếm 32,1% nhưng sản lượng lại chiếm khoảng 60% và có xu hướng gia tăng mạnh trong thời gian tới.

Bài toán về ích lợi kinh tế, công ăn việc làm và sức cạnh tranh của Doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất TACN với doanh nghiệp nước ngoài cần phải xem xét và cân đối hài hòa. Hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước đang yếu thế về năng lực cạnh tranh so với doanh nghiệp nước ngoài.

Số lượng nguyên liệu TACN nhập khẩu lớn trong khi chưa tận dụng được thế mạnh về nguyên liệu trong nước. Hiện nay, công nghiệp chế biến thức ăn bổ sung, phụ gia của Việt Nam chưa phát triển; hầu hết các nguyên liệu dùng để sản xuất thức ăn bổ sung đều phải nhập khẩu, các loại nguyên liệu thô như ngô, cám mì,… cũng phải nhập khẩu đến trên 75% so với nhu cầu, nhất là các loại thức ăn giàu đạm như khô dầu, bột thịt xương.

Ngành sản xuất TACN chưa tận dụng hết các nguồn thức ăn trong nước (phụ phẩm thủy sản, phụ phẩm quá trình sản xuất rượu bia, thóc gạo và phụ phẩm của ngành sản xuất gạo, phụ phẩm của ngành sản xuất rau quả, mía đường…).

Bên cạnh đó, giá TACN đến tay người chăn nuôi chưa thật sự phù hợp. Do tỷ trọng nhập khẩu lớn, chi phí sản xuất TACN cao, hệ thống phân phối qua nhiều đại lý trung gian, việc quản trị và sản xuất theo chuỗi giá trị chưa phát triển dẫn đến giá TACN đến người chăn nuôi còn chưa thật sự phù hợp.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Sau đây BiotechVET chúng tôi sẽ hướng dẫn bà con một số kỹ thuật nuôi thâm canh cá trắm cỏ trong ao như sau: 

1. Chuẩn bị ao nuôi

a. Xác định vị trí ao nuôi thâm canh

- Gần nguồn cấp nước và thoát nước dễ dàng.

- Hạn chế cây xanh che bóng mát.

- Dễ quản lý, phòng chống địch hại và trộm cắp.

- Gần đường giao thông giúp cho việc vận chuyển vật tư,… thức ăn và tiêu thụ sản phẩm được dễ dàng.

b. Hoạt động chuẩn bị ao nuôi

Đây là bước rất quan trọng trong quá trình nuôi. Các bước chuẩn bị gồm:

- Dọn dẹp tất cả các cây cỏ thủy sinh ở bên trong cũng như xung quanh ao nuôi.

- Tát cạn nước ao nuôi.

- Diệt hết địch hại (Rắn, cá dử...)

- Bón vôi: tỷ lệ 7-10 kg/100 m2 hoặc 10-15 kg/100 m2.

- Phơi khô ao 5-7 ngày.

- Lấy nước: Nước lấy vào ao phải được lọc qua lưới chắn. Lượng nước lấy vào khoảng 50 – 60cm. Giữ mức nước này khoảng 3- 5 ngày rồi sau đó tiếp tục lấy thêm nước vào cho đúng độ sâu theo yêu cầu kỹ thuật.

c. Mật độ loài cá thả nuôi

Mật độ cá thả nuôi trong hệ thống nuôi thâm canh trong ao đất 1-2,5 con/m2. Điểm cần lưu ý trong quá trình nuôi, khi mật độ cá thả nuôi cao, hàm lượng DO (ppm) giảm thấp.

d. Thả giống

+ Thời điểm thả giống tốt nhất là khoảng từ tháng 3 – 4, khi thời tiết nắng ấm. Nên thả vào sáng sớm hoặc chiều mát. 

+ Cá trước khi thả được tắm qua nước muối ăn (NaCl) nồng độ 3% để phòng bệnh và giúp các vết thương mau lành.

2. Biện pháp quản lý và chăm sóc ao nuôi

a. Thức ăn cung cấp cho cá trong ao nuôi

+ Thức ăn xanh: cỏ, cỏ voi, lúa,lá ngô ... chiếm 20 – 30% khẩu phần ăn hàng ngày

+ Thức ăn viên (Pellet feed) hay thức ăn công nghiệp: đảm bảo chất lượng rất tốt, chiếm 70 - 80% khẩu phần ăn hàng ngày

b. Khẩu phần ăn cá nuôi trong ao nuôi

Khẩu phần cho ăn: Vào thời điểm thả giống khẩu phần ăn của cá có thể dao động từ 8 - 10% khối lượng cá trong ao. Sau 01 tháng nuôi có thể giảm khẩu phần ăn xuống còn 5 - 7%. Khi cá được khoảng 200g đến khi thu hoạch giảm khẩu phần ăn của cá xuống 2 - 4% (tùy điều kiện cụ thể).

c. Tần suất cho ăn

- Tùy theo loài cá nuôi.

- Giai đoạn phát triển của cá nuôi

Thông thường dao động từ 2-4 lần/ngày/tổng lượng thức ăn cung cấp cho cá nuôi.


Nhà thuốc thú y – Cho cá ăn từ 2-4 lần/ngày

d. Quản lý ao nuôi

- Hằng ngày, kiểm tra hệ thống bờ ao, cống cấp và thoát nước để khắc phục kịp thời các sự cố như: Rò rỉ thất thoát nước, sạt lở bờ ao và cống, xử lý địch hại,...

- Thường xuyên quan sát trạng thái hoạt động của cá trong ao vào sáng sớm và chiều mát để đánh giá được khả năng bắt mồi của cá và xử lý kịp thời các hiện tượng như: cá nổi đầu, bệnh cá,...

- Duy trì mực nước trong ao nuôi luôn ổn định.

- Để nắm được tình hình sinh trưởng và bệnh cá cần kéo kiểm tra cá 1- 2 lần/tháng, mỗi lần kiểm tra tối thiểu 30 con.

- Khi có hiện tượng bất thường xảy ra như: Cá nổi đầu, bỏ ăn,.. ngừng cho cá ăn và kiểm tra nguyên nhân để xử lý kịp thời.

e. Quản lý chất lượng nước ao nuôi

- Độ pH: pH = 6,5 - 8 thích hợp cho sự phát triển của cá. Nếu pH càng thấp hoặc càng cao thì đều ảnh hưởng xấu đến cá.

- Nhiệt độ nước: Nhiệt độ thích hợp: 25 - 32oC. Ngoài phạm vi trên nhiệt độ sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống của cá. nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao đều có thể làm cho cá bị chết.

Do đó ở các ao hồ nuôi cá, để hạn chế ảnh hưởng xấu của nhiệt độ nước đến cá người ta thường sử dụng ao đảm bảo độ sâu mực nước đạt từ 1,2 – 2m để nuôi cá.

- Hàm lượng Ôxy hòa tan trong nước: Hàm lượng oxy thích hợp: > 5mg/l. Nếu hàm lượng oxy < 2mg/l thì cá có thể nổi đầu và chết.

3. Thu hoạch hệ thống nuôi

Khẳng định một lần thu toàn bộ ao nuôi khi cá đạt kích thước cá thương phẩm.

Trước khi thu hoạch 1 ngày phải ngừng cho cá ăn. Thời điểm thu hoạch nên vào sáng sớm hoặc chiều mát. Nếu thu toàn bộ cá thì trước khi thu nên tháo bớt nước còn 0,5 – 0,6m, sau đã kéo 2 – 3 mẻ thu gần hết cá rồi tháo cạn nước thu toàn bộ cá trong ao.

BiotechVET tổng hợp

Biotech -VET - Kỹ thuật nuôi cá chim trắng hiệu quả

Sau đây BiotechVET chúng tôi sẽ hướng dẫn bà con một số kỹ thuật nuôi thâm canh cá trắm cỏ trong ao như sau: 

1. Chuẩn bị ao nuôi

a. Xác định vị trí ao nuôi thâm canh

- Gần nguồn cấp nước và thoát nước dễ dàng.

- Hạn chế cây xanh che bóng mát.

- Dễ quản lý, phòng chống địch hại và trộm cắp.

- Gần đường giao thông giúp cho việc vận chuyển vật tư,… thức ăn và tiêu thụ sản phẩm được dễ dàng.

b. Hoạt động chuẩn bị ao nuôi

Đây là bước rất quan trọng trong quá trình nuôi. Các bước chuẩn bị gồm:

- Dọn dẹp tất cả các cây cỏ thủy sinh ở bên trong cũng như xung quanh ao nuôi.

- Tát cạn nước ao nuôi.

- Diệt hết địch hại (Rắn, cá dử...)

- Bón vôi: tỷ lệ 7-10 kg/100 m2 hoặc 10-15 kg/100 m2.

- Phơi khô ao 5-7 ngày.

- Lấy nước: Nước lấy vào ao phải được lọc qua lưới chắn. Lượng nước lấy vào khoảng 50 – 60cm. Giữ mức nước này khoảng 3- 5 ngày rồi sau đó tiếp tục lấy thêm nước vào cho đúng độ sâu theo yêu cầu kỹ thuật.

c. Mật độ loài cá thả nuôi

Mật độ cá thả nuôi trong hệ thống nuôi thâm canh trong ao đất 1-2,5 con/m2. Điểm cần lưu ý trong quá trình nuôi, khi mật độ cá thả nuôi cao, hàm lượng DO (ppm) giảm thấp.

d. Thả giống

+ Thời điểm thả giống tốt nhất là khoảng từ tháng 3 – 4, khi thời tiết nắng ấm. Nên thả vào sáng sớm hoặc chiều mát. 

+ Cá trước khi thả được tắm qua nước muối ăn (NaCl) nồng độ 3% để phòng bệnh và giúp các vết thương mau lành.

2. Biện pháp quản lý và chăm sóc ao nuôi

a. Thức ăn cung cấp cho cá trong ao nuôi

+ Thức ăn xanh: cỏ, cỏ voi, lúa,lá ngô ... chiếm 20 – 30% khẩu phần ăn hàng ngày

+ Thức ăn viên (Pellet feed) hay thức ăn công nghiệp: đảm bảo chất lượng rất tốt, chiếm 70 - 80% khẩu phần ăn hàng ngày

b. Khẩu phần ăn cá nuôi trong ao nuôi

Khẩu phần cho ăn: Vào thời điểm thả giống khẩu phần ăn của cá có thể dao động từ 8 - 10% khối lượng cá trong ao. Sau 01 tháng nuôi có thể giảm khẩu phần ăn xuống còn 5 - 7%. Khi cá được khoảng 200g đến khi thu hoạch giảm khẩu phần ăn của cá xuống 2 - 4% (tùy điều kiện cụ thể).

c. Tần suất cho ăn

- Tùy theo loài cá nuôi.

- Giai đoạn phát triển của cá nuôi

Thông thường dao động từ 2-4 lần/ngày/tổng lượng thức ăn cung cấp cho cá nuôi.


Nhà thuốc thú y – Cho cá ăn từ 2-4 lần/ngày

d. Quản lý ao nuôi

- Hằng ngày, kiểm tra hệ thống bờ ao, cống cấp và thoát nước để khắc phục kịp thời các sự cố như: Rò rỉ thất thoát nước, sạt lở bờ ao và cống, xử lý địch hại,...

- Thường xuyên quan sát trạng thái hoạt động của cá trong ao vào sáng sớm và chiều mát để đánh giá được khả năng bắt mồi của cá và xử lý kịp thời các hiện tượng như: cá nổi đầu, bệnh cá,...

- Duy trì mực nước trong ao nuôi luôn ổn định.

- Để nắm được tình hình sinh trưởng và bệnh cá cần kéo kiểm tra cá 1- 2 lần/tháng, mỗi lần kiểm tra tối thiểu 30 con.

- Khi có hiện tượng bất thường xảy ra như: Cá nổi đầu, bỏ ăn,.. ngừng cho cá ăn và kiểm tra nguyên nhân để xử lý kịp thời.

e. Quản lý chất lượng nước ao nuôi

- Độ pH: pH = 6,5 - 8 thích hợp cho sự phát triển của cá. Nếu pH càng thấp hoặc càng cao thì đều ảnh hưởng xấu đến cá.

- Nhiệt độ nước: Nhiệt độ thích hợp: 25 - 32oC. Ngoài phạm vi trên nhiệt độ sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống của cá. nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao đều có thể làm cho cá bị chết.

Do đó ở các ao hồ nuôi cá, để hạn chế ảnh hưởng xấu của nhiệt độ nước đến cá người ta thường sử dụng ao đảm bảo độ sâu mực nước đạt từ 1,2 – 2m để nuôi cá.

- Hàm lượng Ôxy hòa tan trong nước: Hàm lượng oxy thích hợp: > 5mg/l. Nếu hàm lượng oxy < 2mg/l thì cá có thể nổi đầu và chết.

3. Thu hoạch hệ thống nuôi

Khẳng định một lần thu toàn bộ ao nuôi khi cá đạt kích thước cá thương phẩm.

Trước khi thu hoạch 1 ngày phải ngừng cho cá ăn. Thời điểm thu hoạch nên vào sáng sớm hoặc chiều mát. Nếu thu toàn bộ cá thì trước khi thu nên tháo bớt nước còn 0,5 – 0,6m, sau đã kéo 2 – 3 mẻ thu gần hết cá rồi tháo cạn nước thu toàn bộ cá trong ao.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm