Với những đặc điểm sinh học như: thân nhiệt cao, cường độ trao đổi chất mạnh, tốc độ tiêu hóa thức ăn nhanh, tuần hoàn máu nhanh, hô hấp mạnh, linh hoạt và rất nhậy cảm với tác động của môi trường nên trong chăn nuôi gia cầm đòi hỏi cần phải cung cấp một khẩu phần thức ăn cân đối, không thiếu, không dư thừa, thức ăn phù hợp với trạng thái sinh lý và tình trạng năng suất của chúng...
I.  Nước
-          Nước có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất ở gia cầm, việc thiếu nước uống trong chăn nuôi gà công nghiệp thường gây hậu quả nghiêm trọng cho đàn gà, gà có thể bị chết sau 24 giờ bị khát nước, thậm chí thiếu 10% nước uống gà thịt sẽ chậm lớn, hiệu quả sử dụng thức ăn kém, năng suất gà đẻ trứng giảm mạnh hoặc ngưng đẻ.
-          Cơ thể gia cầm chỉ có thể tạo ra một lượng nhỏ nước từ sản phẩm của các phản ứng oxy hóa chất dinh dưỡng (khi trao đổi 1g chất béo tạo ra 1,2 g nước, 1g chất protein tạo ra 0,62 g nước, 1g chất glucid tạo ra 0,5 g nước), lượng nước này quá ít so với nhu cầu của cơ thể nên hàng ngày gia cầm phải nhận một lượng nước từ ngoài qua ăn uống. Trong khi thức ăn của gia cầm (đặc biệt của gà) là thức ăn khô chỉ chứa 8 – 12% nước vì vậy gà phải được uống nước tự do, liên tục hàng ngày.
-          Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu nước uống của gà như: nhiệt độ môi trường, cơ cấu thức ăn…
Bảng 1: Nhu cầu nước uống của gà
Loại gà
Tuổi (tuần)
Lượng nước tiêu thụ hằng ngày cho 1000 gà (lít/ngày)
200C
320C
Gà thịt


Gà hậu bị
Gà đẻ thương phẩm
Gà giống thịt
0 – 2
2 – 3
3 – 6
10 – 20
200
230
25
100
280
140
400
400
50
210
600
220
400
400
II.      Protein
-          Protein hay còn gọi là chất đạm là chất cần thiết nhất trong mọi sinh vật và thực vật với vai trò tham gia vào thành phần của nguyên sinh chất trong tế bào sống. Ngoài cấu trúc cơ thể, protein còn tham gia vào các nhóm chất có hoạt tính sinh học cao như enzym, hoocmon để điều khiển quá trình trao đổi chất và quá trình sống, đồng thời tham gia vào hệ thống bảo vệ cơ thể như tế bào bạch huyết, kháng thể… Protein còn đóng vai trò quan trọng trong sinh sản, tạo tinh trùng và trứng.
-          Các nguyên liệu chứa nhiều protein như là: Đạm động vật: bột cá, bột thịt, bột huyết, bột sữa, bột tôm tép; Đạm thực vật: các loại khô đậu nành, xanh, phộng… Không nên sử dụng nhiều đạm động vật trong khẩu phần thức ăn cho gà vì giá thành cao, đạm thực vật có giá thành rẻ hơn và cho sản phẩm thơm hơn nhưng cần phải chú ý đến hiện tượng nấm mốc vì sẽ gây những hậu quả ngộ độc, hủy hoại gan, chậm lớn, giảm năng suất nuôi… bên cạnh đó cũng phải quan tâm đến vấn đề loại bỏ chất đối kháng dinh dưỡng có trong khô đậu nành bằng cách xử lý qua nhiệt độ cao.
-          Tỷ lệ protein chiếm 15 – 35% trong khẩu phần. Sử dụng thức ăn để cung cấp protein thực chất là cung cấp axit amin cho cơ thể theo nhu cầu duy trì và thay thế những tế bào thoái hóa, nhu cầu cho sự tăng trưởng, sự sinh sản, đẻ trứng. (trong đó nhu cầu cho tăng trọng ở gia cầm non là nhiều hơn cả, tiếp theo là tạo trứng và đẻ trứng). Đối với gia cầm, trong số các axit amin thiết yếu có một số axit amin giới hạn thường chứa ít trong nguyên liệu như Methionin, Lysin, Tryptophan, Threonin, Arginin... thường được bổ sung vào thức ăn vừa đủ (khoảng 0,1 – 0,2%) để thay thế cho các đạm động vật và đạm thực vật để giảm giá thành sản xuất thịt và trứng mà vẫn đảm bảo sự phát triển của gia cầm.
Bảng 2: Nhu cầu protein của các giống gà ở các giai đoạn nuôi
Giống
Tuần tuổi
Gà công nghiệp
Gà nuôi bán công nghiệp
AA
Hydro
Gà Tam Hoàng
Gà Ta
0 - 3
24
23
20
18
4 - 6
22
21
18
16
7 - 10
19
18
11 - 12
16
16
15
12 - 20
Từ 20 trở đi
18


III.    Năng lượng
-          Trong dinh dưỡng gia cầm năng lượng thường được xem là nguồn dinh dưỡng giới hạn nhất vì nhu cầu lớn so với các chất dinh dưỡng khác. Nhu cầu năng lượng của gia cầm có thể được xác định là mức năng lượng cần thiết cho sinh trưởng hoặc cho sản xuất trứng và cho duy trì mọi hoạt động sống của cơ thể. Thiếu năng lượng dẫn đến sự suy giảm các quá trình trao đổi chất và các hoạt động chức năng cơ thể gây nên tình trạng còi cọc, chậm lớn, năng suất giảm ở gia cầm sinh sản.
-          Trong thức ăn chứa 2 dạng chất dinh dưỡng có thể cung cấp năng lượng chính, đó là Lipid và Glucid.
+ Glucid (hay còn gọi tinh bột) có vai trò cung cấp năng lượng, chuyển hóa thành phần mỡ và đạm cho cơ thể, tạo năng lượng để gà chuyển hóa vật chất và vận động. Glucid chiếm khoảng 60% trong thức ăn cho gia cầm trong các dạng nguyên liệu như: bắp, cám, tấm, khoai mì… Gia cầm sử dụng tinh bột rất tốt, nhưng để tiêu hóa tinh bột cần có vitamin B1, tuy nhiên tinh bột từ củ thì thường thiếu vitamin nhóm B. Cũng cần lưu ý hàm lượng chất độc và tình trạng nấm mốc khi sử dụng khoai mì làm thức ăn cho gia cầm.
+ Lipid (hay còn gọi chất béo) là chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng cao cấp hơn 2 lần so với glucid. Đối với gia cầm, lipid tạo một phần năng lượng và chủ yếu tạo mỡ. Nhu cầu chất béo trong cơ thể gia cầm rất ít: gà con cần dưới 4% (nếu cao hơn sẽ dẫn đến tiêu chảy), gà hậu bị và gà đẻ cần dưới 5% (nếu cao hơn sẽ làm gà mập mỡ khó đẻ), đối với gà nuôi thả có thể cung cấp chất béo nhiều hơn. Trong thức ăn cho gà công nghiệp, người ta sử dụng 2 – 6% dầu thực vật hoặc mỡ công nghiệp có tác dụng tốt, tăng năng suất, giảm tiêu tốn thức ăn. Chất béo còn cung cấp các axit béo thiết yếu như axit linoleic, axit linolenic và axit arachidonic. Chất béo giúp hòa tan các vitamin A, D, E và K, các sắc tố để cho cơ thể dễ hấp thu làm da và mỡ vàng, tăng màu vàng của lòng đỏ trứng. Ngoài ra chất béo trong thức ăn cũng có tác dụng làm giảm độ bụi giúp giảm thiếu các bệnh về đường hô hấp. Khi bổ sung chất béo vào thức ăn cần chú ý bổ sung các chất chống oxy hóa để bảo vệ các axit béo không no, bảo vệ các vitamin trong thức ăn.
Bảng 3: Nhu cầu năng lượng của các giống gà ở các giai đoạn nuôi
Giống
Tuần tuổi
Gà công nghiệp
Gà nuôi bán công nghiệp
AA
Hydro
Gà Tam Hoàng
Gà Ta
0 - 3
3050
3000
2950
2900
4 - 6
3150
3100
3050
2950
7 - 10
3200
11 - 12
3000
12 - 20
2750

Từ 20 trở đi
2900


IV.    Vitamin
      Vitamin là chất có hoạt tính sinh học cao cần thiết cho các quá trình trao đổi chất của cơ thể sống. Với nồng độ thấp nhưng vitmain có vai trò quyết định sự tồn tại của tất cả quá trình sống. Vitamin tham gia và cấu trúc của các nhóm enzyme xúc tác các phản ứng sinh hóa trong quá trình đồng hóa, dị hóa, quyết định sự sinh trưởng, sinh sản và tính kháng bệnh của gia cầm. Một vài vitamin có thể được vi sinh vật trong ruột tổng hợp nhưng rất ít nên cần thiết phải được bổ sung theo thức ăn hoặc nước uống. Khi thiếu hoặc thừa vitamin sẽ gây nên những tình trạng đặc trưng như sau:
1.       Vitamin A:
-          Vitamin A có vai trò quan trọng trong việc điều hòa trao đổi protein, lipid, glucid, cần thiết cho sự hoạt động bình thường của tuyến giáp trạng, vỏ tuyến thượng thận, các tế bào biểu mô, là nguyên liệu tạo rodopxin của thị giác. Thiếu vitamin A gà con còi cọc, chậm lớn, sừng hóa và viêm niêm mạc mắt, sừng hóa thanh khí quản nên dễ bị bệnh hô hấp, bệnh cầu trùng sẽ nặng thêm và khó chữa, gà dễ mắc những bệnh nhiễm trùng, tỷ lệ chết cao (gà con chết sau 2 – 4 tuần với triệu chứng thần kinh trước khi chết, mổ khám sẽ thấy ống dẫn niệu tích đầy urat, gà đẻ giảm năng suất trứng do buồng trứng phát triển kém, niêm mạc ống dẫn trứng bị sừng hóa, vỏ trứng mỏng, tỷ lệ thụ tinh thấp, tỷ lệ chết phôi cao, thường chết phôi.
-          Nguồn vitamin A và sắc tố vàng được cung cấp từ những thực liệu chứa nhiều caroten như bắp vàng, bột cỏ giúp cho màu lòng đỏ trứng đậm hơn, da và mỡ gà vàng. Vitamin A dễ hư hỏng khi trộn vào thức ăn nên cần có thêm chất chống oxy hóa, khi tồn trữ thức ăn lâu sẽ bị mất vitamin A.
-          Nhu cầu vitamin A ở gia cầm phụ thuộc vào tuổi và sức sản xuất của chúng: gia cầm non đang sinh trưởng nhanh cần khoảng 12000 – 15000 IU/kg thức ăn, gà đẻ trứng cần 10000 – 12000 IU.
2.       Vitamin D:
-          Vitamin D tham gia vào quá trình trao đổi chất khoáng, protein và lipid. Giúp điều hòa quá trình gắn kết Ca, P và Mg vào xương, kích thích các phản ứng oxy hóa khử. Khi thiếu vitamin D gia cầm non mắc bệnh còi xương, xương chân và xương lưỡi hái cong, dị dạng; gà đẻ bị bệnh xốp xương, xương dễ gẫy, bại liệt chân, lòng trắng trứng loãng, vỏ trứng mỏng, dễ vỡ, tỷ lệ ấp nở thấp, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 19 – 20.
-          Nhu cầu vitamin D tùy thuộc vào giống gà, gà có sức sinh trưởng và năng suất trứng cao thì nhu cầu vitamin D cao, gà nuôi nhốt trong chuồng thiếu ánh sáng thì nhu cầu vitamin D cao, khẩu phần không cân đối Ca và P cũng khiến gà cần nhiều vitamin D. So với vitamin A, chỉ nên cung cấp vitamin D với tỷ lệ: D/A= 1/8 – 1/10, không nên cung cấp dư vitamin A và D (quá 25.000 IU/kg thức ăn vitamin A; 5.000 IU/kg thức ăn vitamin D3) vì sẽ gây vôi hóa ở thận, nếu kèm với dư protein thì tình trạng dư thừa sẽ nguy hiểm dễ gây chết. 
3.       Vitamin E:
-          Vitmin E giúp ngăn cản quá trình oxy hóa, bảo vệ các hợp chất sinh học và các acid béo chưa no, tạo điều kiện thuận lợi trao đổi Phospho, glucid và protein, kích thích sự tạo thành các hoocmon thùy trước tuyến yên, tăng cường sự hấp thu các vitamin A và D, giúp ổn định thành mạch, màng tế bào của tuyến sinh dục. Thiếu sẽ gây tình trạng gà bị ngẹo đầu, mỏ trúc xuống, mất thăng bằng, đi đứng loạng choạng, đi thụt lùi, hoại tử cơ trắng vùng cơ ức và cơ đùi (giống như tình trạng thiếu Selen); ở gia cầm sinh sản sẽ giảm tỷ lệ thụ tinh, giảm tỷ lệ đẻ, trứng đã thụ tinh có phôi phát triển kém, phôi chết nên tỷ lệ ấp nở thấp.
-          Vitamin E có nhiều trong các mầm hạt, bột lá cây xanh non sấy nhanh, vitamin E rất dễ bị phá hủy trong không khí, nhạy cảm với oxy và ánh sáng.
-          Nhu cầu vitamin E cho gia cầm là 20 IU/kg thức ăn, khi hàm lượng chất béo trong thức ăn tăng cao 8 – 10% thì nhu cầu vitamin E tăng đến 30 IU.
4.       Vitamin K:
      Vitamin K có tác dụng làm đông máu, được sử dụng trong thức ăn cho gà con và gà đẻ để phòng chống xuất huyết khi bị bệnh cầu trùng và bệnh Gumboro với liều 2 mg/kg thức ăn sẽ cải thiện được tỷ lệ nuôi sống.
5.       Vitamin nhóm B:
      + Vitamin B1:
-          Gia cầm rất nhậy cảm với việc thiếu vitamin B1, khi thiếu dẫn đến triệu chứng chân đưa về phía trước, các ngón chân run, đầu ngẩng lên trên (ngược với thiếu vitamin E đầu gập xuống), đi đứng khó khăn, tích nước trong mô nên thịt nhão, phù nề do tích nước dưới da nhiều, nhu động ruột kém nên tiêu hóa kém, gà ăn ít, tình trạng nặng có thể co giật và chết. Gia cầm thường thiếu B1 trong trường hợp sử dụng nhiều thức ăn củ như khoai mỳ, khoai lang hoặc thức ăn hạt dự trữ lâu ngày, bảo quản không tốt nên bị mốc.
-          Nguồn thức ăn chứa nhiều B1 như nấm men, men rượu, sử dụng chế phẩm từ nấm men 2 – 3% hoặc cám gạo, cám mỳ 5 – 10% trong thức ăn cho gia cầm sẽ đáp ứng đủ nhu cầu vitamin B1 cho gia cầm là 2mg/kg thức ăn.
      + Vitamin B2:
-          Thiếu vitamin B2 gà con sẽ bị còi cọc, chậm lớn, lông xù, viêm quanh khóe mắt, chân bị liệt ngón co quắp, di chuyển khó khăn, mắt nhắm, ghèn dính làm mắt mở khó khăn. Gà đẻ giống sẽ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 12 – 18, gà con mới nở bị liệt chân.
-          Cần cung cấp cho gà con 3 – 4 tuần tuổi lượng vitamin B2 là 8mg/ kg thức ăn, các loại gà khác cần 5 – 6 mg/kg thức ăn.
-          Vitamin B2 có nhiều trong các loại rau quả xanh non, mầm hạt, nấm men. Vitamin B2 rất dễ bị oxy hóa trong không khí và mau hư.
      + Vitamin B3:
-          Thường chỉ gặp trường hợp thiếu do thức ăn bị sấy ở nhiệt độ cao làm vitamin B3 bị phân hủy. Thiếu sẽ gây hiện tượng viêm da ở góc mắt và miệng, viêm nứt các ngón chân, rụng lông, sinh trưởng chậm, giảm sức kháng bệnh, gà đẻ giảm năng suất, tỷ lệ ấp nở giảm.
-          Vitamin B3 có nhiều trong các loại thức ăn hạt, nấm men, nghèo trong các loại củ quả. Nhu cầu đối với gia cầm là 20 mg/kg thức ăn hỗn hợp.
      + Vitamin B5:
-          Tình trạng thiếu vitamin B5 giống như thiếu vitamin B2 và B3, các lóp biểu bì của da và niêm mạc đường tiêu hóa và hô hấp bị tổn thương, tỷ lệ ấp nở kém.
-          Nhu cầu viatmin B5 ở gà con là 40 mg/kg thức ăn, gà đẻ là 30 mg/kg thức ăn.
-          Vitamin B5 có nhiều trong thức ăn hạt, thức ăn lên men, thức ăn xanh, thường gặp những tình trạng thiếu vitamin B5 là do trong thức ăn thiếu tryptophan làm cho cơ thể khó hấp thu vitamin B5.
      + Vitamin B6:
-          Thiếu sẽ dẫn đến tình trạng giảm tính thèm ăn, ăn ít, chậm lớn, gây thiếu máu.
-          Nhu cầu đối với gà thịt là 4,5 mg/kg thức ăn, gà đẻ là 3,5 mg/kg thức ăn, khi tỷ lệ protein trong thức ăn tăng thì nhu cầu vitamin B6 cũng tăng lên.
      + Vitamin B9:
-          Vitamin B9 có nhiều trong các loại thức ăn xanh và được vi khuẩn đường ruột tổng hợp, chỉ thiếu khi thức ăn nấu ở nhiệt độ cao hoặc gà bị bệnh đường ruột. Khi thiếu sẽ gây thiếu máu, số lượng hồng cầu giảm, gà con giảm tăng trọng, còi cọc, xuất hiện sự rối loạn sắc tố như trên lông đen, vàng có những đốm trắng. Gà sinh sản cho trứng tỷ lệ ấp nở thấp.
-          Nhu cầu vitamin B9 cho gà con là 1mg/kg thức ăn, gà đẻ là 0,7 mg/kg thức ăn.
      + Vitamin B12:
-          Khi thiếu gây hiện tượng thiếu máu, giảm tăng trọng, sức kháng bệnh kém, gà đẻ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều, và kéo theo thiếu Cholin.
-          Vitamin B12 có nhiều trong thức ăn động vật, vi sinh vật.
-          Nhu cầu vitamin B12 ở gia cầm phụ thuộc vào sự cung cấp đủ Methionin, Cholin, Vitamin B9, vitamin B3, nếu thiếu những chất này thì nhu cầu B12 sẽ tăng lên. Khi các chất trên đã cung cấp đủ thì nhu cầu vitamin B12 của gia cầm là 10 - 15 µg/kg thức ăn.
6.       Cholin:
      Là vitamin thuộc nhóm B, khi thiếu gây triệu chứng gan nhiễm mỡ, thiếu máu, rối loạn phát triển bộ xương, gà thường bị yếu chân. Nếu trong khẩu phần thức ăn có cung cấp đủ các vitamin khác như B12, B6, B9 và axit amin Methionin thì nhu cầu Cholin chỉ khoảng 600 – 1.300 mg/kg thức ăn. Cholin có nhiều trong các hạt họ đậu, nấm men.
7.       Vitamin C:
Tham gia quá trình hô hấp tế bào, tăng cường các phản ứng oxy hóa khử, kích thích sự sinh trưởng và đổi mới tổ chức tế bào, tăng cường khả năng tạo huyết sắc tố, thúc đẩy sự đông máu, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, chống stress, tạo điều kiện gia tăng năng suất và phẩm chất trứng, tinh trùng, có tính chất chống oxy hóa trong cơ thể. Vitamin C được tổng hợp trong cơ thể nhưng trong những trường hợp gia cầm bị bệnh hoặc trong tình trạng stress thì nên cung cấp vitamin C qua thức ăn hoặc nước uống cho gia cầm với liều 100 – 500 mg/kg thức ăn. Khi thời tiết nóng, chủng ngừa, cân gà hoặc đàn gà bị bệnh truyền nhiễm thì dùng vitamin C liều cao giúp cho đàn gà mau chóng ổn định và vượt qua những yếu tố bất lợi.
8.       Vitamin H: (hay còn gọi là Biotin)
Được tổng hợp trong đường tiêu hóa, khi thiếu sẽ gây viêm da, rụng lông, rối loạn sự phát triển của bộ xương, tỷ lệ ấp nở thấp. Nhu cầu vitamin H cho gia cầm là 0,2 mg/kg thức ăn.
V.      Chất khoáng
-          Chất khoáng có vai trò quan trọng trong việc tạo xương ở gà và tham gia vào các hoạt động trao đổi chất của cơ thể. Nhu cầu khoáng của gia cầm non và hậu bị là 2 – 3%, ở gia cầm đẻ là 4 – 7% vì cần nhiều Canxi – Phospho để tạo vỏ trứng. Một số chất khoáng tham gia vào quá trình tạo máu như Fe, Cu, Co… một số khác tham gia tạo hệ đệm và men xúc tác cho các phản ứng trong cơ thể như NaCl, K, Mg, Mn, Zn, I, Se...
-          Khi thiếu hoặc thừa khoáng chất sẽ gây nên những tình trạng đặc trưng:
      + Thiếu Canxi (Ca) trong cơ thể gia cầm sẽ dẫn đến tình trạng còi xương, giảm tính thèm ăn, chậm lớn, lông xù, trứng mỏng vỏ, tình trạng cắn mổ lẫn nhau gia tăng. Thừa Ca (tỷ lệ 5% trong thức ăn) gây độc với những rối loạn trao đổi chất, giảm tính thèm ăn, chậm lớn, có hiện tượng phù nề, tăng bài tiết Na và Mg, rối loạn thần kinh, gà đi đứng khó khăn, loạng choạng (bệnh gut).
      + Thiếu Phosphor (P) gây kém ăn ở gà con, chậm lớn, khối lượng xương giảm, xương mềm, mô sụn khó chuyển hóa thành xương, các xương bị cong. Tỷ lệ gây độc khoảng 3 – 5%.
      + Thiếu sắt (Fe) ở mức thấp hơn 40 mg/kg thức ăn sẽ gây thiếu máu do thiếu hồng cầu, màu sắc lông cũng bị thay đổi (trong thực tế ít gặp trường hợp thiếu Fe ở gia cầm vì nhu cầu thấp nên khẩu phần ăn có thể đáp đủ). Thừa Fe gây độc khiến gia cầm còi xương, khớp biến dạng, xương bất thường.
      + Thiếu đồng (Cu) ở mức thấp hơn 3 – 4 mg/kg thức ăn sẽ làm giảm khả năng sử dụng Fe, giảm sức kháng bệnh, giảm hàm lượng của vitamin C và B12 trong cơ thể. Thừa sẽ gây tình trạng ngộ độc như loạn dưỡng cơ, mề bị bào mòn, tích nước trong mô, chất chứa manh tràng đen.
      + Thiếu Coban (Co) ở mức thấp hơn 0,1 mg/ kg thức ăn cho gia cầm non, 0,5 mg/kg thức ăn cho gia cầm đẻ thường ít xảy ra trong chăn nuôi gia cầm vì thức ăn có thể đáp ứng đủ cho nhu cầu.
      + Thiếu muối (NaCl) sẽ làm giảm tính ngon miệng, giảm khả năng tiêu hóa và hấp thu protein, gây cắn mổ và ăn thịt lẫn nhau, khi thừa NaCl (trên 0,7%) sẽ gây tiêu chảy, phân ướt, thừa nhiều sẽ gây ngộ độc, khó thở, tim đập chậm, tiêu chảy phân đen, tích nước xoang bụng, chết nhanh.
      + Thiếu Kali (K) (thấp hơn 0,4 – 0,5%) làm gà con chậm lớn, có hiện tượng nhược cơ, chướng ruột, rối loạn nhịp tim. Thừa K (trên 1%) gây khát nước, sử dụng muối kém hiệu quả, máu cô đặc.
      + Thiếu Magie (Mg) ở mức thấp hơn 0,6% sẽ gây tình trạng kém ăn, lông xơ xác, mọc chậm, gia cầm chậm lớn, loạn nhịp tim, giảm trương lực cơ gây run rẩy, co thắt diều, các muối Ca tích trong thận và tim, tỷ lệ chết cao. Thừa Mg cũng gây bệnh cho gia cầm, xuất hiện triệu chứng perosis, còi xương, vỏ trứng mỏng, rối loạn tiêu hóa, Ca bị thải mạnh theo phân.
      + Thiếu Mangan (Mn) ở gia cầm non sẽ gây hiện tượng sưng các khớp, xương bàn chân; ở gia cầm sinh sản năng suất đẻ giảm, vỏ trứng mỏng, tỷ lệ chết phôi cao. Nhu cầu về Mn ở gia cầm non là 30 – 40 mg/kg thức ăn, gia cầm sinh sản là 25 – 30 mg/kg thức ăn.
      + Thiếu Kẽm (Zn) gia cầm non chậm lớn, rụng lông, lông dễ gẫy, rối loạn nhiễm sắc tố, chân yếu, xuất hiện viêm da sừng hóa, năng suất trứng giảm, vỏ trứng mỏng và có hiện tượng sọc dưa, tỷ lệ ấp nở thấp. Nhu cầu Zn ở gia cầm là 50 – 70 mg/kg thức ăn.
      + Thiếu Iot (I) ở gia cầm sẽ gây chết phôi, rối loạn sự phát triển phôi, giảm tỷ lệ ấp nở, gà con nở ra bị trụi lông, chịu lạnh kém, chậm phát triển, mọc lông chậm. Nhu cầu Iot cho gia cầm là 0,5 mg/kg thức ăn.
      + Thiếu Selen (Se) ở gia cầm sẽ gây thoái hóa cơ trắng, tích nước xoang bụng và bao tim, giảm tỷ lệ ấp nở. Nhu cầu Se cho gia cầm là 0,1 mg/kg thức ăn. Gia cầm không hấp thu được dạng Se nguyên chất. Vì độc tính của Se rất cao nên cần chú ý liều sử dụng và trộn thật đều trong thức ăn, nếu để thừa Se (5mg/kg thức ăn)sẽ gây tính trạng giảm đẻ, tỷ lệ ấp nở giảm, tỷ lệ gà con dị dạng cao, chậm lớn, thiếu máu và chết.

DTK Biotech-Vet - Dinh dưỡng trong chăn nuôi gia cầm

Với những đặc điểm sinh học như: thân nhiệt cao, cường độ trao đổi chất mạnh, tốc độ tiêu hóa thức ăn nhanh, tuần hoàn máu nhanh, hô hấp mạnh, linh hoạt và rất nhậy cảm với tác động của môi trường nên trong chăn nuôi gia cầm đòi hỏi cần phải cung cấp một khẩu phần thức ăn cân đối, không thiếu, không dư thừa, thức ăn phù hợp với trạng thái sinh lý và tình trạng năng suất của chúng...
I.  Nước
-          Nước có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất ở gia cầm, việc thiếu nước uống trong chăn nuôi gà công nghiệp thường gây hậu quả nghiêm trọng cho đàn gà, gà có thể bị chết sau 24 giờ bị khát nước, thậm chí thiếu 10% nước uống gà thịt sẽ chậm lớn, hiệu quả sử dụng thức ăn kém, năng suất gà đẻ trứng giảm mạnh hoặc ngưng đẻ.
-          Cơ thể gia cầm chỉ có thể tạo ra một lượng nhỏ nước từ sản phẩm của các phản ứng oxy hóa chất dinh dưỡng (khi trao đổi 1g chất béo tạo ra 1,2 g nước, 1g chất protein tạo ra 0,62 g nước, 1g chất glucid tạo ra 0,5 g nước), lượng nước này quá ít so với nhu cầu của cơ thể nên hàng ngày gia cầm phải nhận một lượng nước từ ngoài qua ăn uống. Trong khi thức ăn của gia cầm (đặc biệt của gà) là thức ăn khô chỉ chứa 8 – 12% nước vì vậy gà phải được uống nước tự do, liên tục hàng ngày.
-          Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu nước uống của gà như: nhiệt độ môi trường, cơ cấu thức ăn…
Bảng 1: Nhu cầu nước uống của gà
Loại gà
Tuổi (tuần)
Lượng nước tiêu thụ hằng ngày cho 1000 gà (lít/ngày)
200C
320C
Gà thịt


Gà hậu bị
Gà đẻ thương phẩm
Gà giống thịt
0 – 2
2 – 3
3 – 6
10 – 20
200
230
25
100
280
140
400
400
50
210
600
220
400
400
II.      Protein
-          Protein hay còn gọi là chất đạm là chất cần thiết nhất trong mọi sinh vật và thực vật với vai trò tham gia vào thành phần của nguyên sinh chất trong tế bào sống. Ngoài cấu trúc cơ thể, protein còn tham gia vào các nhóm chất có hoạt tính sinh học cao như enzym, hoocmon để điều khiển quá trình trao đổi chất và quá trình sống, đồng thời tham gia vào hệ thống bảo vệ cơ thể như tế bào bạch huyết, kháng thể… Protein còn đóng vai trò quan trọng trong sinh sản, tạo tinh trùng và trứng.
-          Các nguyên liệu chứa nhiều protein như là: Đạm động vật: bột cá, bột thịt, bột huyết, bột sữa, bột tôm tép; Đạm thực vật: các loại khô đậu nành, xanh, phộng… Không nên sử dụng nhiều đạm động vật trong khẩu phần thức ăn cho gà vì giá thành cao, đạm thực vật có giá thành rẻ hơn và cho sản phẩm thơm hơn nhưng cần phải chú ý đến hiện tượng nấm mốc vì sẽ gây những hậu quả ngộ độc, hủy hoại gan, chậm lớn, giảm năng suất nuôi… bên cạnh đó cũng phải quan tâm đến vấn đề loại bỏ chất đối kháng dinh dưỡng có trong khô đậu nành bằng cách xử lý qua nhiệt độ cao.
-          Tỷ lệ protein chiếm 15 – 35% trong khẩu phần. Sử dụng thức ăn để cung cấp protein thực chất là cung cấp axit amin cho cơ thể theo nhu cầu duy trì và thay thế những tế bào thoái hóa, nhu cầu cho sự tăng trưởng, sự sinh sản, đẻ trứng. (trong đó nhu cầu cho tăng trọng ở gia cầm non là nhiều hơn cả, tiếp theo là tạo trứng và đẻ trứng). Đối với gia cầm, trong số các axit amin thiết yếu có một số axit amin giới hạn thường chứa ít trong nguyên liệu như Methionin, Lysin, Tryptophan, Threonin, Arginin... thường được bổ sung vào thức ăn vừa đủ (khoảng 0,1 – 0,2%) để thay thế cho các đạm động vật và đạm thực vật để giảm giá thành sản xuất thịt và trứng mà vẫn đảm bảo sự phát triển của gia cầm.
Bảng 2: Nhu cầu protein của các giống gà ở các giai đoạn nuôi
Giống
Tuần tuổi
Gà công nghiệp
Gà nuôi bán công nghiệp
AA
Hydro
Gà Tam Hoàng
Gà Ta
0 - 3
24
23
20
18
4 - 6
22
21
18
16
7 - 10
19
18
11 - 12
16
16
15
12 - 20
Từ 20 trở đi
18


III.    Năng lượng
-          Trong dinh dưỡng gia cầm năng lượng thường được xem là nguồn dinh dưỡng giới hạn nhất vì nhu cầu lớn so với các chất dinh dưỡng khác. Nhu cầu năng lượng của gia cầm có thể được xác định là mức năng lượng cần thiết cho sinh trưởng hoặc cho sản xuất trứng và cho duy trì mọi hoạt động sống của cơ thể. Thiếu năng lượng dẫn đến sự suy giảm các quá trình trao đổi chất và các hoạt động chức năng cơ thể gây nên tình trạng còi cọc, chậm lớn, năng suất giảm ở gia cầm sinh sản.
-          Trong thức ăn chứa 2 dạng chất dinh dưỡng có thể cung cấp năng lượng chính, đó là Lipid và Glucid.
+ Glucid (hay còn gọi tinh bột) có vai trò cung cấp năng lượng, chuyển hóa thành phần mỡ và đạm cho cơ thể, tạo năng lượng để gà chuyển hóa vật chất và vận động. Glucid chiếm khoảng 60% trong thức ăn cho gia cầm trong các dạng nguyên liệu như: bắp, cám, tấm, khoai mì… Gia cầm sử dụng tinh bột rất tốt, nhưng để tiêu hóa tinh bột cần có vitamin B1, tuy nhiên tinh bột từ củ thì thường thiếu vitamin nhóm B. Cũng cần lưu ý hàm lượng chất độc và tình trạng nấm mốc khi sử dụng khoai mì làm thức ăn cho gia cầm.
+ Lipid (hay còn gọi chất béo) là chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng cao cấp hơn 2 lần so với glucid. Đối với gia cầm, lipid tạo một phần năng lượng và chủ yếu tạo mỡ. Nhu cầu chất béo trong cơ thể gia cầm rất ít: gà con cần dưới 4% (nếu cao hơn sẽ dẫn đến tiêu chảy), gà hậu bị và gà đẻ cần dưới 5% (nếu cao hơn sẽ làm gà mập mỡ khó đẻ), đối với gà nuôi thả có thể cung cấp chất béo nhiều hơn. Trong thức ăn cho gà công nghiệp, người ta sử dụng 2 – 6% dầu thực vật hoặc mỡ công nghiệp có tác dụng tốt, tăng năng suất, giảm tiêu tốn thức ăn. Chất béo còn cung cấp các axit béo thiết yếu như axit linoleic, axit linolenic và axit arachidonic. Chất béo giúp hòa tan các vitamin A, D, E và K, các sắc tố để cho cơ thể dễ hấp thu làm da và mỡ vàng, tăng màu vàng của lòng đỏ trứng. Ngoài ra chất béo trong thức ăn cũng có tác dụng làm giảm độ bụi giúp giảm thiếu các bệnh về đường hô hấp. Khi bổ sung chất béo vào thức ăn cần chú ý bổ sung các chất chống oxy hóa để bảo vệ các axit béo không no, bảo vệ các vitamin trong thức ăn.
Bảng 3: Nhu cầu năng lượng của các giống gà ở các giai đoạn nuôi
Giống
Tuần tuổi
Gà công nghiệp
Gà nuôi bán công nghiệp
AA
Hydro
Gà Tam Hoàng
Gà Ta
0 - 3
3050
3000
2950
2900
4 - 6
3150
3100
3050
2950
7 - 10
3200
11 - 12
3000
12 - 20
2750

Từ 20 trở đi
2900


IV.    Vitamin
      Vitamin là chất có hoạt tính sinh học cao cần thiết cho các quá trình trao đổi chất của cơ thể sống. Với nồng độ thấp nhưng vitmain có vai trò quyết định sự tồn tại của tất cả quá trình sống. Vitamin tham gia và cấu trúc của các nhóm enzyme xúc tác các phản ứng sinh hóa trong quá trình đồng hóa, dị hóa, quyết định sự sinh trưởng, sinh sản và tính kháng bệnh của gia cầm. Một vài vitamin có thể được vi sinh vật trong ruột tổng hợp nhưng rất ít nên cần thiết phải được bổ sung theo thức ăn hoặc nước uống. Khi thiếu hoặc thừa vitamin sẽ gây nên những tình trạng đặc trưng như sau:
1.       Vitamin A:
-          Vitamin A có vai trò quan trọng trong việc điều hòa trao đổi protein, lipid, glucid, cần thiết cho sự hoạt động bình thường của tuyến giáp trạng, vỏ tuyến thượng thận, các tế bào biểu mô, là nguyên liệu tạo rodopxin của thị giác. Thiếu vitamin A gà con còi cọc, chậm lớn, sừng hóa và viêm niêm mạc mắt, sừng hóa thanh khí quản nên dễ bị bệnh hô hấp, bệnh cầu trùng sẽ nặng thêm và khó chữa, gà dễ mắc những bệnh nhiễm trùng, tỷ lệ chết cao (gà con chết sau 2 – 4 tuần với triệu chứng thần kinh trước khi chết, mổ khám sẽ thấy ống dẫn niệu tích đầy urat, gà đẻ giảm năng suất trứng do buồng trứng phát triển kém, niêm mạc ống dẫn trứng bị sừng hóa, vỏ trứng mỏng, tỷ lệ thụ tinh thấp, tỷ lệ chết phôi cao, thường chết phôi.
-          Nguồn vitamin A và sắc tố vàng được cung cấp từ những thực liệu chứa nhiều caroten như bắp vàng, bột cỏ giúp cho màu lòng đỏ trứng đậm hơn, da và mỡ gà vàng. Vitamin A dễ hư hỏng khi trộn vào thức ăn nên cần có thêm chất chống oxy hóa, khi tồn trữ thức ăn lâu sẽ bị mất vitamin A.
-          Nhu cầu vitamin A ở gia cầm phụ thuộc vào tuổi và sức sản xuất của chúng: gia cầm non đang sinh trưởng nhanh cần khoảng 12000 – 15000 IU/kg thức ăn, gà đẻ trứng cần 10000 – 12000 IU.
2.       Vitamin D:
-          Vitamin D tham gia vào quá trình trao đổi chất khoáng, protein và lipid. Giúp điều hòa quá trình gắn kết Ca, P và Mg vào xương, kích thích các phản ứng oxy hóa khử. Khi thiếu vitamin D gia cầm non mắc bệnh còi xương, xương chân và xương lưỡi hái cong, dị dạng; gà đẻ bị bệnh xốp xương, xương dễ gẫy, bại liệt chân, lòng trắng trứng loãng, vỏ trứng mỏng, dễ vỡ, tỷ lệ ấp nở thấp, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 19 – 20.
-          Nhu cầu vitamin D tùy thuộc vào giống gà, gà có sức sinh trưởng và năng suất trứng cao thì nhu cầu vitamin D cao, gà nuôi nhốt trong chuồng thiếu ánh sáng thì nhu cầu vitamin D cao, khẩu phần không cân đối Ca và P cũng khiến gà cần nhiều vitamin D. So với vitamin A, chỉ nên cung cấp vitamin D với tỷ lệ: D/A= 1/8 – 1/10, không nên cung cấp dư vitamin A và D (quá 25.000 IU/kg thức ăn vitamin A; 5.000 IU/kg thức ăn vitamin D3) vì sẽ gây vôi hóa ở thận, nếu kèm với dư protein thì tình trạng dư thừa sẽ nguy hiểm dễ gây chết. 
3.       Vitamin E:
-          Vitmin E giúp ngăn cản quá trình oxy hóa, bảo vệ các hợp chất sinh học và các acid béo chưa no, tạo điều kiện thuận lợi trao đổi Phospho, glucid và protein, kích thích sự tạo thành các hoocmon thùy trước tuyến yên, tăng cường sự hấp thu các vitamin A và D, giúp ổn định thành mạch, màng tế bào của tuyến sinh dục. Thiếu sẽ gây tình trạng gà bị ngẹo đầu, mỏ trúc xuống, mất thăng bằng, đi đứng loạng choạng, đi thụt lùi, hoại tử cơ trắng vùng cơ ức và cơ đùi (giống như tình trạng thiếu Selen); ở gia cầm sinh sản sẽ giảm tỷ lệ thụ tinh, giảm tỷ lệ đẻ, trứng đã thụ tinh có phôi phát triển kém, phôi chết nên tỷ lệ ấp nở thấp.
-          Vitamin E có nhiều trong các mầm hạt, bột lá cây xanh non sấy nhanh, vitamin E rất dễ bị phá hủy trong không khí, nhạy cảm với oxy và ánh sáng.
-          Nhu cầu vitamin E cho gia cầm là 20 IU/kg thức ăn, khi hàm lượng chất béo trong thức ăn tăng cao 8 – 10% thì nhu cầu vitamin E tăng đến 30 IU.
4.       Vitamin K:
      Vitamin K có tác dụng làm đông máu, được sử dụng trong thức ăn cho gà con và gà đẻ để phòng chống xuất huyết khi bị bệnh cầu trùng và bệnh Gumboro với liều 2 mg/kg thức ăn sẽ cải thiện được tỷ lệ nuôi sống.
5.       Vitamin nhóm B:
      + Vitamin B1:
-          Gia cầm rất nhậy cảm với việc thiếu vitamin B1, khi thiếu dẫn đến triệu chứng chân đưa về phía trước, các ngón chân run, đầu ngẩng lên trên (ngược với thiếu vitamin E đầu gập xuống), đi đứng khó khăn, tích nước trong mô nên thịt nhão, phù nề do tích nước dưới da nhiều, nhu động ruột kém nên tiêu hóa kém, gà ăn ít, tình trạng nặng có thể co giật và chết. Gia cầm thường thiếu B1 trong trường hợp sử dụng nhiều thức ăn củ như khoai mỳ, khoai lang hoặc thức ăn hạt dự trữ lâu ngày, bảo quản không tốt nên bị mốc.
-          Nguồn thức ăn chứa nhiều B1 như nấm men, men rượu, sử dụng chế phẩm từ nấm men 2 – 3% hoặc cám gạo, cám mỳ 5 – 10% trong thức ăn cho gia cầm sẽ đáp ứng đủ nhu cầu vitamin B1 cho gia cầm là 2mg/kg thức ăn.
      + Vitamin B2:
-          Thiếu vitamin B2 gà con sẽ bị còi cọc, chậm lớn, lông xù, viêm quanh khóe mắt, chân bị liệt ngón co quắp, di chuyển khó khăn, mắt nhắm, ghèn dính làm mắt mở khó khăn. Gà đẻ giống sẽ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều ở ngày ấp thứ 12 – 18, gà con mới nở bị liệt chân.
-          Cần cung cấp cho gà con 3 – 4 tuần tuổi lượng vitamin B2 là 8mg/ kg thức ăn, các loại gà khác cần 5 – 6 mg/kg thức ăn.
-          Vitamin B2 có nhiều trong các loại rau quả xanh non, mầm hạt, nấm men. Vitamin B2 rất dễ bị oxy hóa trong không khí và mau hư.
      + Vitamin B3:
-          Thường chỉ gặp trường hợp thiếu do thức ăn bị sấy ở nhiệt độ cao làm vitamin B3 bị phân hủy. Thiếu sẽ gây hiện tượng viêm da ở góc mắt và miệng, viêm nứt các ngón chân, rụng lông, sinh trưởng chậm, giảm sức kháng bệnh, gà đẻ giảm năng suất, tỷ lệ ấp nở giảm.
-          Vitamin B3 có nhiều trong các loại thức ăn hạt, nấm men, nghèo trong các loại củ quả. Nhu cầu đối với gia cầm là 20 mg/kg thức ăn hỗn hợp.
      + Vitamin B5:
-          Tình trạng thiếu vitamin B5 giống như thiếu vitamin B2 và B3, các lóp biểu bì của da và niêm mạc đường tiêu hóa và hô hấp bị tổn thương, tỷ lệ ấp nở kém.
-          Nhu cầu viatmin B5 ở gà con là 40 mg/kg thức ăn, gà đẻ là 30 mg/kg thức ăn.
-          Vitamin B5 có nhiều trong thức ăn hạt, thức ăn lên men, thức ăn xanh, thường gặp những tình trạng thiếu vitamin B5 là do trong thức ăn thiếu tryptophan làm cho cơ thể khó hấp thu vitamin B5.
      + Vitamin B6:
-          Thiếu sẽ dẫn đến tình trạng giảm tính thèm ăn, ăn ít, chậm lớn, gây thiếu máu.
-          Nhu cầu đối với gà thịt là 4,5 mg/kg thức ăn, gà đẻ là 3,5 mg/kg thức ăn, khi tỷ lệ protein trong thức ăn tăng thì nhu cầu vitamin B6 cũng tăng lên.
      + Vitamin B9:
-          Vitamin B9 có nhiều trong các loại thức ăn xanh và được vi khuẩn đường ruột tổng hợp, chỉ thiếu khi thức ăn nấu ở nhiệt độ cao hoặc gà bị bệnh đường ruột. Khi thiếu sẽ gây thiếu máu, số lượng hồng cầu giảm, gà con giảm tăng trọng, còi cọc, xuất hiện sự rối loạn sắc tố như trên lông đen, vàng có những đốm trắng. Gà sinh sản cho trứng tỷ lệ ấp nở thấp.
-          Nhu cầu vitamin B9 cho gà con là 1mg/kg thức ăn, gà đẻ là 0,7 mg/kg thức ăn.
      + Vitamin B12:
-          Khi thiếu gây hiện tượng thiếu máu, giảm tăng trọng, sức kháng bệnh kém, gà đẻ giảm tỷ lệ ấp nở, phôi chết nhiều, và kéo theo thiếu Cholin.
-          Vitamin B12 có nhiều trong thức ăn động vật, vi sinh vật.
-          Nhu cầu vitamin B12 ở gia cầm phụ thuộc vào sự cung cấp đủ Methionin, Cholin, Vitamin B9, vitamin B3, nếu thiếu những chất này thì nhu cầu B12 sẽ tăng lên. Khi các chất trên đã cung cấp đủ thì nhu cầu vitamin B12 của gia cầm là 10 - 15 µg/kg thức ăn.
6.       Cholin:
      Là vitamin thuộc nhóm B, khi thiếu gây triệu chứng gan nhiễm mỡ, thiếu máu, rối loạn phát triển bộ xương, gà thường bị yếu chân. Nếu trong khẩu phần thức ăn có cung cấp đủ các vitamin khác như B12, B6, B9 và axit amin Methionin thì nhu cầu Cholin chỉ khoảng 600 – 1.300 mg/kg thức ăn. Cholin có nhiều trong các hạt họ đậu, nấm men.
7.       Vitamin C:
Tham gia quá trình hô hấp tế bào, tăng cường các phản ứng oxy hóa khử, kích thích sự sinh trưởng và đổi mới tổ chức tế bào, tăng cường khả năng tạo huyết sắc tố, thúc đẩy sự đông máu, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, chống stress, tạo điều kiện gia tăng năng suất và phẩm chất trứng, tinh trùng, có tính chất chống oxy hóa trong cơ thể. Vitamin C được tổng hợp trong cơ thể nhưng trong những trường hợp gia cầm bị bệnh hoặc trong tình trạng stress thì nên cung cấp vitamin C qua thức ăn hoặc nước uống cho gia cầm với liều 100 – 500 mg/kg thức ăn. Khi thời tiết nóng, chủng ngừa, cân gà hoặc đàn gà bị bệnh truyền nhiễm thì dùng vitamin C liều cao giúp cho đàn gà mau chóng ổn định và vượt qua những yếu tố bất lợi.
8.       Vitamin H: (hay còn gọi là Biotin)
Được tổng hợp trong đường tiêu hóa, khi thiếu sẽ gây viêm da, rụng lông, rối loạn sự phát triển của bộ xương, tỷ lệ ấp nở thấp. Nhu cầu vitamin H cho gia cầm là 0,2 mg/kg thức ăn.
V.      Chất khoáng
-          Chất khoáng có vai trò quan trọng trong việc tạo xương ở gà và tham gia vào các hoạt động trao đổi chất của cơ thể. Nhu cầu khoáng của gia cầm non và hậu bị là 2 – 3%, ở gia cầm đẻ là 4 – 7% vì cần nhiều Canxi – Phospho để tạo vỏ trứng. Một số chất khoáng tham gia vào quá trình tạo máu như Fe, Cu, Co… một số khác tham gia tạo hệ đệm và men xúc tác cho các phản ứng trong cơ thể như NaCl, K, Mg, Mn, Zn, I, Se...
-          Khi thiếu hoặc thừa khoáng chất sẽ gây nên những tình trạng đặc trưng:
      + Thiếu Canxi (Ca) trong cơ thể gia cầm sẽ dẫn đến tình trạng còi xương, giảm tính thèm ăn, chậm lớn, lông xù, trứng mỏng vỏ, tình trạng cắn mổ lẫn nhau gia tăng. Thừa Ca (tỷ lệ 5% trong thức ăn) gây độc với những rối loạn trao đổi chất, giảm tính thèm ăn, chậm lớn, có hiện tượng phù nề, tăng bài tiết Na và Mg, rối loạn thần kinh, gà đi đứng khó khăn, loạng choạng (bệnh gut).
      + Thiếu Phosphor (P) gây kém ăn ở gà con, chậm lớn, khối lượng xương giảm, xương mềm, mô sụn khó chuyển hóa thành xương, các xương bị cong. Tỷ lệ gây độc khoảng 3 – 5%.
      + Thiếu sắt (Fe) ở mức thấp hơn 40 mg/kg thức ăn sẽ gây thiếu máu do thiếu hồng cầu, màu sắc lông cũng bị thay đổi (trong thực tế ít gặp trường hợp thiếu Fe ở gia cầm vì nhu cầu thấp nên khẩu phần ăn có thể đáp đủ). Thừa Fe gây độc khiến gia cầm còi xương, khớp biến dạng, xương bất thường.
      + Thiếu đồng (Cu) ở mức thấp hơn 3 – 4 mg/kg thức ăn sẽ làm giảm khả năng sử dụng Fe, giảm sức kháng bệnh, giảm hàm lượng của vitamin C và B12 trong cơ thể. Thừa sẽ gây tình trạng ngộ độc như loạn dưỡng cơ, mề bị bào mòn, tích nước trong mô, chất chứa manh tràng đen.
      + Thiếu Coban (Co) ở mức thấp hơn 0,1 mg/ kg thức ăn cho gia cầm non, 0,5 mg/kg thức ăn cho gia cầm đẻ thường ít xảy ra trong chăn nuôi gia cầm vì thức ăn có thể đáp ứng đủ cho nhu cầu.
      + Thiếu muối (NaCl) sẽ làm giảm tính ngon miệng, giảm khả năng tiêu hóa và hấp thu protein, gây cắn mổ và ăn thịt lẫn nhau, khi thừa NaCl (trên 0,7%) sẽ gây tiêu chảy, phân ướt, thừa nhiều sẽ gây ngộ độc, khó thở, tim đập chậm, tiêu chảy phân đen, tích nước xoang bụng, chết nhanh.
      + Thiếu Kali (K) (thấp hơn 0,4 – 0,5%) làm gà con chậm lớn, có hiện tượng nhược cơ, chướng ruột, rối loạn nhịp tim. Thừa K (trên 1%) gây khát nước, sử dụng muối kém hiệu quả, máu cô đặc.
      + Thiếu Magie (Mg) ở mức thấp hơn 0,6% sẽ gây tình trạng kém ăn, lông xơ xác, mọc chậm, gia cầm chậm lớn, loạn nhịp tim, giảm trương lực cơ gây run rẩy, co thắt diều, các muối Ca tích trong thận và tim, tỷ lệ chết cao. Thừa Mg cũng gây bệnh cho gia cầm, xuất hiện triệu chứng perosis, còi xương, vỏ trứng mỏng, rối loạn tiêu hóa, Ca bị thải mạnh theo phân.
      + Thiếu Mangan (Mn) ở gia cầm non sẽ gây hiện tượng sưng các khớp, xương bàn chân; ở gia cầm sinh sản năng suất đẻ giảm, vỏ trứng mỏng, tỷ lệ chết phôi cao. Nhu cầu về Mn ở gia cầm non là 30 – 40 mg/kg thức ăn, gia cầm sinh sản là 25 – 30 mg/kg thức ăn.
      + Thiếu Kẽm (Zn) gia cầm non chậm lớn, rụng lông, lông dễ gẫy, rối loạn nhiễm sắc tố, chân yếu, xuất hiện viêm da sừng hóa, năng suất trứng giảm, vỏ trứng mỏng và có hiện tượng sọc dưa, tỷ lệ ấp nở thấp. Nhu cầu Zn ở gia cầm là 50 – 70 mg/kg thức ăn.
      + Thiếu Iot (I) ở gia cầm sẽ gây chết phôi, rối loạn sự phát triển phôi, giảm tỷ lệ ấp nở, gà con nở ra bị trụi lông, chịu lạnh kém, chậm phát triển, mọc lông chậm. Nhu cầu Iot cho gia cầm là 0,5 mg/kg thức ăn.
      + Thiếu Selen (Se) ở gia cầm sẽ gây thoái hóa cơ trắng, tích nước xoang bụng và bao tim, giảm tỷ lệ ấp nở. Nhu cầu Se cho gia cầm là 0,1 mg/kg thức ăn. Gia cầm không hấp thu được dạng Se nguyên chất. Vì độc tính của Se rất cao nên cần chú ý liều sử dụng và trộn thật đều trong thức ăn, nếu để thừa Se (5mg/kg thức ăn)sẽ gây tính trạng giảm đẻ, tỷ lệ ấp nở giảm, tỷ lệ gà con dị dạng cao, chậm lớn, thiếu máu và chết.
Đọc thêm
Chăn nuôi gà hữu cơ là khái niệm khá mới mẻ tại Việt Nam. Tuy nhiên, rất có thể gia đình nhà bà con đã và đang áp dụng hình thức chăn nuôi này mà không hề hay biết. Vậy thực tế, chăn nuôi gà hữu cơ là gì?
1. Chăn nuôi hữu cơ là gì?
Chăn nuôi hữu cơ được hiểu là việc chăn nuôi theo hình thức trang trại, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn sẵn có cho vật nuôi. Điều này sẽ giúp tiết kiệm chi phí trong việc chăn nuôi một cách tối ưu. Sau đó, phân của vật nuôi lại được sử dụng để bón cho cây trồng trong vườn hay ruộng nhằm mang đến độ màu mỡ cho đất. Với các sản phẩm thu được từ chăn nuôi như thịt hay trứng, ngoài việc cung cấp cho nhu cầu sử dụng của gia đình thì còn có thể bán ra thị trường nhằm nâng cao thu nhập.
2. Những lưu ý cơ bản trong chăn nuôi gà hữu cơ
Trong chăn nuôi gà hữu cơ, yếu tố sức khỏe, chất lượng của vật nuôi cần được đề cao hàng đầu. Điều này cũng đồng nghĩa với việc bà con không chỉ sử dụng nguồn thức ăn hữu cơ, tránh sử dụng thức ăn công nghiệp mà còn cần phải đáp ứng nhu cầu về môi trường sống của gà, nhất là việc tránh gây ra những tác động bất lợi cho gà như cắt mỏ, nuôi nhốt, cách đàn… Nhìn chung, chăn nuôi gà hữu cơ đòi hỏi bà con cần có diện tích chăn nuôi rộng. Ngược lại nếu diện tích nhỏ, nguồn thức ăn hữu cơ không đảm bảo đủ về chất và lượng, bà con sẽ không thể áp dụng hình thức chăn nuôi này và nên lựa chọn cho hộ gia đình một hình thức chăn nuôi khác thiết thực hơn.
3. Một số tiêu chuẩn cần ghi nhớ trong chăn nuôi gà hữu cơ
– Gà cần được nuôi theo hình thức chăn thả, di chuyển và hoạt động tự do.
– Tránh nuôi nhốt gà trong chuồng.
– Gà được cung cấp đầy đủ thức ăn, nước uống. Cùng với đó, ánh sáng, nhiệt độ cũng được duy trì ở mức phù hợp với từng độ tuổi.
– Tránh các hoạt động gây tổn thương đến gà.
– Không sử dụng thức ăn công nghiệp.
– Đề cao yếu tố phòng bệnh hơn chữa bệnh.
– Không sử dụng thuốc kích thích tăng trưởng cho gà.
Như đã nói ở trên, trong chăn nuôi gà hữu cơ, việc đảm bảo và duy trì sức khỏe cho vật nuôi, phòng bệnh hơn chữa bệnh luôn cần được đề cao hàng đầu. Để có thể đáp ứng được điềunày, bà con cần đảm bảo các yếu tố như:
– Gà cần được cung cấp đủ thức ăn với chất lượng tốt nhất. Đó là nguồn thực ăn tự nhiên, được rửa và làm sạch trước khi chế biến.
– Nước uống cho gà là nước sạch, được thay thế thường xuyên.
– Chuồng trại cho gà cần có diện tích rộng rãi, thoáng mát trong mùa hè, ấm trong mùa đông, được dọn dẹp sạch sẽ thường xuyên.
– Gà cùng độ tuổi cần được nuôi nhốt cùng nhau.
– Sức khỏe của gà được theo dõi thường xuyên, kịp thời phát hiện khi gà mắc bệnh để có giải pháp khắc phục kịp thời.
Trên đây là một vài thông tin cơ bản về việc chăn nuôi gà hữu cơ. Tuy nhiên, khi lựa chọn mô hình chăn nuôi này, với mỗi một yếu tố, bà con đều cần đi vào việc tìm hiểu chi tiết để có thể áp dụng tốt, mang lại hiệu quả chăn nuôi cao nhất.

DTK Biotech-Vet - Chăn nuôi gà hữu cơ là gì?

Chăn nuôi gà hữu cơ là khái niệm khá mới mẻ tại Việt Nam. Tuy nhiên, rất có thể gia đình nhà bà con đã và đang áp dụng hình thức chăn nuôi này mà không hề hay biết. Vậy thực tế, chăn nuôi gà hữu cơ là gì?
1. Chăn nuôi hữu cơ là gì?
Chăn nuôi hữu cơ được hiểu là việc chăn nuôi theo hình thức trang trại, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn sẵn có cho vật nuôi. Điều này sẽ giúp tiết kiệm chi phí trong việc chăn nuôi một cách tối ưu. Sau đó, phân của vật nuôi lại được sử dụng để bón cho cây trồng trong vườn hay ruộng nhằm mang đến độ màu mỡ cho đất. Với các sản phẩm thu được từ chăn nuôi như thịt hay trứng, ngoài việc cung cấp cho nhu cầu sử dụng của gia đình thì còn có thể bán ra thị trường nhằm nâng cao thu nhập.
2. Những lưu ý cơ bản trong chăn nuôi gà hữu cơ
Trong chăn nuôi gà hữu cơ, yếu tố sức khỏe, chất lượng của vật nuôi cần được đề cao hàng đầu. Điều này cũng đồng nghĩa với việc bà con không chỉ sử dụng nguồn thức ăn hữu cơ, tránh sử dụng thức ăn công nghiệp mà còn cần phải đáp ứng nhu cầu về môi trường sống của gà, nhất là việc tránh gây ra những tác động bất lợi cho gà như cắt mỏ, nuôi nhốt, cách đàn… Nhìn chung, chăn nuôi gà hữu cơ đòi hỏi bà con cần có diện tích chăn nuôi rộng. Ngược lại nếu diện tích nhỏ, nguồn thức ăn hữu cơ không đảm bảo đủ về chất và lượng, bà con sẽ không thể áp dụng hình thức chăn nuôi này và nên lựa chọn cho hộ gia đình một hình thức chăn nuôi khác thiết thực hơn.
3. Một số tiêu chuẩn cần ghi nhớ trong chăn nuôi gà hữu cơ
– Gà cần được nuôi theo hình thức chăn thả, di chuyển và hoạt động tự do.
– Tránh nuôi nhốt gà trong chuồng.
– Gà được cung cấp đầy đủ thức ăn, nước uống. Cùng với đó, ánh sáng, nhiệt độ cũng được duy trì ở mức phù hợp với từng độ tuổi.
– Tránh các hoạt động gây tổn thương đến gà.
– Không sử dụng thức ăn công nghiệp.
– Đề cao yếu tố phòng bệnh hơn chữa bệnh.
– Không sử dụng thuốc kích thích tăng trưởng cho gà.
Như đã nói ở trên, trong chăn nuôi gà hữu cơ, việc đảm bảo và duy trì sức khỏe cho vật nuôi, phòng bệnh hơn chữa bệnh luôn cần được đề cao hàng đầu. Để có thể đáp ứng được điềunày, bà con cần đảm bảo các yếu tố như:
– Gà cần được cung cấp đủ thức ăn với chất lượng tốt nhất. Đó là nguồn thực ăn tự nhiên, được rửa và làm sạch trước khi chế biến.
– Nước uống cho gà là nước sạch, được thay thế thường xuyên.
– Chuồng trại cho gà cần có diện tích rộng rãi, thoáng mát trong mùa hè, ấm trong mùa đông, được dọn dẹp sạch sẽ thường xuyên.
– Gà cùng độ tuổi cần được nuôi nhốt cùng nhau.
– Sức khỏe của gà được theo dõi thường xuyên, kịp thời phát hiện khi gà mắc bệnh để có giải pháp khắc phục kịp thời.
Trên đây là một vài thông tin cơ bản về việc chăn nuôi gà hữu cơ. Tuy nhiên, khi lựa chọn mô hình chăn nuôi này, với mỗi một yếu tố, bà con đều cần đi vào việc tìm hiểu chi tiết để có thể áp dụng tốt, mang lại hiệu quả chăn nuôi cao nhất.
Đọc thêm
 Nhiều hộ nuôi gà tại xã Bình Nhâm, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương đang sử dụng nước tỏi cho gà uống để phòng, chữa bệnh cúm rất hữu hiệu.

- Người nuôi cho gà uống nước tỏi thường xuyên mỗi ngày, nước tỏi dùng cho gà uống là nước được vắt ra từ củ tỏi đã được xay. Người nuôi gà chọn những củ tỏi to, lột bỏ vỏ bên ngoài, bỏ vào cói xay nhiển, rồi dùng vải bọc lại, vắt lấy nước cốt. Đổ nước tỏi này vào máng cho gà tự tìm đến uống đối với gà còn mạnh khoẻ.
- Riêng trường hợp gà có bệnh thì phải dùng biện pháp thủ công là đổ nước tỏi vào miệng cho gà uống. Cách làm này tuy có tốn nhiều công sức nhưng người nuôi gà đảm bảo được an toàn phòng chống bệnh cúm gà.
- Theo kinh nghiệm của các hộ nuôi gà ở xã Bình Nhâm, một trại nuôi 6.000 con gà phải cần đến 27 kg củ tỏi xay, vắt lấy nước cho uống. Cứ như thế gà uống hết nước thì xay tỏi cho uống tiếp khi nào hết dịch bệnh mới thôi.

DTK Biotech-Vet - Dùng nước tỏi phòng chữa bệnh cúm gà

 Nhiều hộ nuôi gà tại xã Bình Nhâm, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương đang sử dụng nước tỏi cho gà uống để phòng, chữa bệnh cúm rất hữu hiệu.

- Người nuôi cho gà uống nước tỏi thường xuyên mỗi ngày, nước tỏi dùng cho gà uống là nước được vắt ra từ củ tỏi đã được xay. Người nuôi gà chọn những củ tỏi to, lột bỏ vỏ bên ngoài, bỏ vào cói xay nhiển, rồi dùng vải bọc lại, vắt lấy nước cốt. Đổ nước tỏi này vào máng cho gà tự tìm đến uống đối với gà còn mạnh khoẻ.
- Riêng trường hợp gà có bệnh thì phải dùng biện pháp thủ công là đổ nước tỏi vào miệng cho gà uống. Cách làm này tuy có tốn nhiều công sức nhưng người nuôi gà đảm bảo được an toàn phòng chống bệnh cúm gà.
- Theo kinh nghiệm của các hộ nuôi gà ở xã Bình Nhâm, một trại nuôi 6.000 con gà phải cần đến 27 kg củ tỏi xay, vắt lấy nước cho uống. Cứ như thế gà uống hết nước thì xay tỏi cho uống tiếp khi nào hết dịch bệnh mới thôi.
Đọc thêm
Khẩu phần prôtein thấp được cân bằng đúng cách nâng cao năng suất vật nuôi và cải thiện khả năng sinh lời - giá giả định đối với các axit amin kết tinh được ưu đãi.
Trong thời kỳ hậu kháng sinh, chế độ ăn có hàm lượng protein thấp được dùng là tiêu chuẩn hơn là ngoại lệ và lợi ích của chúng đang ngày càng được công nhận ngay cả khi thuốc kháng sinh vẫn được sử dụng trong các công thức cho lợn và gia cầm.
Chi phí giả định là giống nhau, khẩu phần prôtein cho ăn thấp (được bổ sung đầy đủ với tất cả các axit amin thiết yếu) có thể tăng cường sức khỏe và thậm chí hiệu quả thức ăn được cải thiện.
Hãy kiểm tra từng bản báo cáo trong chi tiết để hiểu tại sao và khi chế độ ăn ít prôtein có thể được lợi từ một điểm sinh học của các quan điểm và biến dạng này để tăng lợi nhuận.
Vai trò của axit amin tổng hợp
Đầu tiên, một chế độ ăn ít prôtein là một chế độ trong đó cung cấp tất cả các axit amin cần thiết mà không quá mức.
Ở đây, chúng ta phải nhấn mạnh một lần nữa rằng một chế độ ăn prôtein thấp không có nghĩa là một chế độ trong đó không bao gồm các yêu cầu cho động vật đối với các axit amin thiết yếu để chúng trải qua giảm hiệu suất.
Thay vào đó, các axit amin dư thừa được cắt tỉa và dư thừa, có nghĩa là thặng dư không thể tránh khỏi của tất cả các axit amin được sử dụng để đáp ứng nhu cầu cho các axít amin giới hạn đầu tiên.
Axít amin cuối trong đó lysine cho lợn và methionine cho gia cầm (trong hầu hết các loại thức ăn thông thường ngô-đậu nành).
Hiện nay, để làm giảm nồng độ prôtein thô của một chế độ ăn uống, việc sử dụng các axit amin tổng hợp là rất quan trọng, và đây là nơi mà nhu cầu nên được ủng hộ cho các chế độ ăn uống protein thấp hơn.
Tính đến hôm nay, chỉ có tinh thể lysine, methionine, threonine và tryptophan được có sẵn với giá hợp lý.
Như vậy, chúng ta phải tiếp tục cung cấp một số protein dư thừa để trang trải các nhu cầu của các axit amin thiết yếu khác, như valine và isoleucine.
Câu hỏi đặt ra sau đó trở thành: Chúng ta có thể làm giảm được bao nhiêu protein thô?
Câu trả lời là khá dễ dàng, nhưng đã mất nhiều năm nghiên cứu để khám phá.
Trong điều kiện thực tế nhất, hạ thấp nồng độ protein thô bởi hai điểm phần trăm, bằng cách sử dụng các axit amin tinh thể (ví dụ, từ prôtein thô 18-16 phần trăm trong chế độ ăn uống), tạo ra không có vấn đề trong hoạt động hay thịt động vật.
Giảm bốn điểm phần trăm yêu cầu công việc nhiều hơn một chút.
Đối với điều này, các axit amin khác, chẳng hạn như valine và isoleucine phải được cân bằng tốt bằng cách đưa thức ăn ít hơn thông thường vào việc xây dựng nguồn cấp thức ăn.
Ngoài ra, tất cả các axit amin cần được thể hiện trên cơ sở tiêu hóa, trong khi đó năng lượng của khẩu phần ăn nên được thể hiện bằng cách sử dụng một hệ thống năng lượng lưới (trong trường hợp của lợn).
Lợi ích của chế độ ăn có hàm lượng prôtein thấp
Nhưng, chúng ta hãy trở lại với lý do tại sao chế độ ăn ít protein có lợi.
Đầu tiên, các lợi ích động vật từ protein ít dư thừa (nitrogen) mà đã deaminate (giải độc) nitơ tự do trong hệ thống máu là độc hại và phải được bài tiết (thông qua nước tiểu) - và đó là tại một chi phí năng lượng đáng kể.
Điều này đưa chúng ta đến một lợi ích khác, cụ thể là sản xuất nước tiểu ít hơn và do đó nhu cầu thấp đối với nước.
Điều này đồng nghĩa với khối lượng phân ít hơn.
Ngoài ra, những gì phân được sản xuất là thấp hơn trong nitơ, không chỉ vì ít đạm trong nước tiểu, nhưng cũng bởi vì với những khẩu phần protein thấp, khả năng tiêu hóa protein được tăng lên và như ít nitơ đó được bài tiết trong vấn đề phân.
Cuối cùng đất ít là cần thiết cần thiết để xử lý phân, đây là một vấn đề nhức nhối xảy ra liên tục ở nhiều nơi trên thế giới này.
Sử dụng các hệ thống năng lượng lưới
Hiện giờ, khi các động vật có prôtein dư thừa ít để loại bỏ (một quá trình tiêu tốn năng lượng), thì nó là tay trái với một số năng lượng thay thế và ở đây chúng ta có nguy cơ tăng nồng độ lipit thịt nếu chúng ta không cảnh giác.
Điều này trở nên đặc biệt khó khăn như chúng tôi đi từ hai đến bốn điểm phần trăm giảm nồng độ prôtein thô trong khẩu phần.
Và đây là nơi mà việc sử dụng các hệ thống năng lượng thuần quan trọng nhất.
Khi năng lượng lưới được diễn đạt một cách độc lập của prôtein thô trong khẩu phần (một vấn đề cố hữu trong hệ thống trao đổi năng lượng được sử dụng rộng rãi đặc biệt cho gia cầm), chúng ta có thể xây dựng khẩu phần prôtein thấp mà không tăng mỡ trong thịt.
Như vậy, chúng ta có thể tận dụng lợi thế của năng lượng "thặng dư" và sử dụng cho mục đích sản xuất.
Điều này cải thiện thức ăn hiệu quả, nó luôn luôn là một điều tốt và tất nhiên, chi phí sản xuất thấp.
Kết luận rằng chế độ ăn prôtein ít rất tốt cho các động vật, môi trường và các nhà sản xuất.
Tất cả những giả định chi phí của các axit amin kết tinh không làm chúng ta mất tất cả những lợi ích này.

DTK Biotech-Vet - Chế độ ăn ít prôtein cho lợn, gia cầm

Khẩu phần prôtein thấp được cân bằng đúng cách nâng cao năng suất vật nuôi và cải thiện khả năng sinh lời - giá giả định đối với các axit amin kết tinh được ưu đãi.
Trong thời kỳ hậu kháng sinh, chế độ ăn có hàm lượng protein thấp được dùng là tiêu chuẩn hơn là ngoại lệ và lợi ích của chúng đang ngày càng được công nhận ngay cả khi thuốc kháng sinh vẫn được sử dụng trong các công thức cho lợn và gia cầm.
Chi phí giả định là giống nhau, khẩu phần prôtein cho ăn thấp (được bổ sung đầy đủ với tất cả các axit amin thiết yếu) có thể tăng cường sức khỏe và thậm chí hiệu quả thức ăn được cải thiện.
Hãy kiểm tra từng bản báo cáo trong chi tiết để hiểu tại sao và khi chế độ ăn ít prôtein có thể được lợi từ một điểm sinh học của các quan điểm và biến dạng này để tăng lợi nhuận.
Vai trò của axit amin tổng hợp
Đầu tiên, một chế độ ăn ít prôtein là một chế độ trong đó cung cấp tất cả các axit amin cần thiết mà không quá mức.
Ở đây, chúng ta phải nhấn mạnh một lần nữa rằng một chế độ ăn prôtein thấp không có nghĩa là một chế độ trong đó không bao gồm các yêu cầu cho động vật đối với các axit amin thiết yếu để chúng trải qua giảm hiệu suất.
Thay vào đó, các axit amin dư thừa được cắt tỉa và dư thừa, có nghĩa là thặng dư không thể tránh khỏi của tất cả các axit amin được sử dụng để đáp ứng nhu cầu cho các axít amin giới hạn đầu tiên.
Axít amin cuối trong đó lysine cho lợn và methionine cho gia cầm (trong hầu hết các loại thức ăn thông thường ngô-đậu nành).
Hiện nay, để làm giảm nồng độ prôtein thô của một chế độ ăn uống, việc sử dụng các axit amin tổng hợp là rất quan trọng, và đây là nơi mà nhu cầu nên được ủng hộ cho các chế độ ăn uống protein thấp hơn.
Tính đến hôm nay, chỉ có tinh thể lysine, methionine, threonine và tryptophan được có sẵn với giá hợp lý.
Như vậy, chúng ta phải tiếp tục cung cấp một số protein dư thừa để trang trải các nhu cầu của các axit amin thiết yếu khác, như valine và isoleucine.
Câu hỏi đặt ra sau đó trở thành: Chúng ta có thể làm giảm được bao nhiêu protein thô?
Câu trả lời là khá dễ dàng, nhưng đã mất nhiều năm nghiên cứu để khám phá.
Trong điều kiện thực tế nhất, hạ thấp nồng độ protein thô bởi hai điểm phần trăm, bằng cách sử dụng các axit amin tinh thể (ví dụ, từ prôtein thô 18-16 phần trăm trong chế độ ăn uống), tạo ra không có vấn đề trong hoạt động hay thịt động vật.
Giảm bốn điểm phần trăm yêu cầu công việc nhiều hơn một chút.
Đối với điều này, các axit amin khác, chẳng hạn như valine và isoleucine phải được cân bằng tốt bằng cách đưa thức ăn ít hơn thông thường vào việc xây dựng nguồn cấp thức ăn.
Ngoài ra, tất cả các axit amin cần được thể hiện trên cơ sở tiêu hóa, trong khi đó năng lượng của khẩu phần ăn nên được thể hiện bằng cách sử dụng một hệ thống năng lượng lưới (trong trường hợp của lợn).
Lợi ích của chế độ ăn có hàm lượng prôtein thấp
Nhưng, chúng ta hãy trở lại với lý do tại sao chế độ ăn ít protein có lợi.
Đầu tiên, các lợi ích động vật từ protein ít dư thừa (nitrogen) mà đã deaminate (giải độc) nitơ tự do trong hệ thống máu là độc hại và phải được bài tiết (thông qua nước tiểu) - và đó là tại một chi phí năng lượng đáng kể.
Điều này đưa chúng ta đến một lợi ích khác, cụ thể là sản xuất nước tiểu ít hơn và do đó nhu cầu thấp đối với nước.
Điều này đồng nghĩa với khối lượng phân ít hơn.
Ngoài ra, những gì phân được sản xuất là thấp hơn trong nitơ, không chỉ vì ít đạm trong nước tiểu, nhưng cũng bởi vì với những khẩu phần protein thấp, khả năng tiêu hóa protein được tăng lên và như ít nitơ đó được bài tiết trong vấn đề phân.
Cuối cùng đất ít là cần thiết cần thiết để xử lý phân, đây là một vấn đề nhức nhối xảy ra liên tục ở nhiều nơi trên thế giới này.
Sử dụng các hệ thống năng lượng lưới
Hiện giờ, khi các động vật có prôtein dư thừa ít để loại bỏ (một quá trình tiêu tốn năng lượng), thì nó là tay trái với một số năng lượng thay thế và ở đây chúng ta có nguy cơ tăng nồng độ lipit thịt nếu chúng ta không cảnh giác.
Điều này trở nên đặc biệt khó khăn như chúng tôi đi từ hai đến bốn điểm phần trăm giảm nồng độ prôtein thô trong khẩu phần.
Và đây là nơi mà việc sử dụng các hệ thống năng lượng thuần quan trọng nhất.
Khi năng lượng lưới được diễn đạt một cách độc lập của prôtein thô trong khẩu phần (một vấn đề cố hữu trong hệ thống trao đổi năng lượng được sử dụng rộng rãi đặc biệt cho gia cầm), chúng ta có thể xây dựng khẩu phần prôtein thấp mà không tăng mỡ trong thịt.
Như vậy, chúng ta có thể tận dụng lợi thế của năng lượng "thặng dư" và sử dụng cho mục đích sản xuất.
Điều này cải thiện thức ăn hiệu quả, nó luôn luôn là một điều tốt và tất nhiên, chi phí sản xuất thấp.
Kết luận rằng chế độ ăn prôtein ít rất tốt cho các động vật, môi trường và các nhà sản xuất.
Tất cả những giả định chi phí của các axit amin kết tinh không làm chúng ta mất tất cả những lợi ích này.
Đọc thêm
Anh Bùi Văn Thảo ở thôn Bãi Trữ, xã Ninh Giang (Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) đã có kinh nghiệm hàng chục năm trong việc nuôi dê thương phẩm. Điều anh tâm đắc nhất khi phát triển nghề này không phải chỉ là mở rộng quy mô, tăng thu nhập cho gia đình mà quan trọng hơn cả là hình thành mô hình chăn nuôi đảm bảo vệ sinh thú y, từ đó cung cấp cho thị trường những sản phẩm sạch, góp phần thiết thực để xây dựng, củng cố thương hiệu dê núi Ninh Bình.
Theo kinh nghiệm của anh Thảo, dê được đánh giá là vật nuôi có sức đề kháng khá tốt, nhưng nếu không chú ý làm tốt công tác vệ sinh chuồng trại, nắm chắc và thực hiện tốt kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh thì dê vẫn dễ dàng bị mắc một số bệnh như viêm phổi, đầy bụng… Thực tế cách đây nhiều năm khi bắt đầu triển khai mô hình này, do chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề vệ sinh thú y nên đã có những thời điểm đàn dê của gia đình anh Thảo liên tục mắc bệnh gây thiệt hại không nhỏ. Nhưng cũng chính những thất bại này đã cho anh “kinh nghiệm xương máu” nếu muốn phát triển đàn dê, đó là phải nắm chắc kỹ thuật chăm sóc, đồng thời phải luôn chú trọng tới vệ sinh trong chăn nuôi, trước hết là vệ sinh chuồng trại. Về kỹ thuật làm chuồng trại, người chăn nuôi phải có sự đầu tư nghiêm túc ngay từ đầu, tránh làm qua loa, tạm bợ, đảm bảo chuồng thông thoáng không bị nắng nóng, mưa tạt, gió lùa… Ngoài ra để tạo điều kiện cho đàn dê phát triển khỏe mạnh, săn chắc, chất lượng thịt ngon cần có không gian chăn thả, nguồn thức ăn phong phú. Với yêu cầu này, anh Thảo đang cố gắng tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên của địa phương.
Được biết, cùng với những nỗ lực của bản thân, năm 2016 trong quá trình triển khai Đề án Nông dân Ninh Bình nói không với thực phẩm bẩn, anh Thảo đã được Hội Nông dân tỉnh, Hội Nông dân huyện Hoa Lư tư vấn hỗ trợ để anh và một số hộ nuôi dê khác xây dựng mô hình trang trại chăn nuôi dê đủ điều kiện vệ sinh thú y. Khi tham gia mô hình, các hộ được tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn quy trình chăn nuôi đạt tiêu chuẩn, chuyển giao giống dê Sanen,… Có kinh nghiệm thực tế lại nắm bắt được những kiến thức khoa học từ các lớp tập huấn, anh Thảo không chỉ áp dụng ở mô hình chăn nuôi của gia đình mà còn sẵn sàng chuyển giao, chia sẻ, giúp đỡ bà con trong xã mở rộng mô hình.
Với cách làm chú trọng vệ sinh trong chăn nuôi, đến nay, đàn dê của gia đình anh Thảo đã phát triển bền vững, hệ thống chuồng trại luôn được bố trí sạch sẽ, thoáng mát, quy mô đàn vật nuôi khá lớn với 100 con cho thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm. Đặc biệt mô hình nuôi dê này còn được Chi cục Thú y tỉnh cấp giấy chứng nhận cơ sở chăn nuôi đủ điều kiện vệ sinh thú y.
Được biết, hiện nay anh Thảo còn là Giám đốc của HTX chăn nuôi dê Ninh Bình với quy mô khoảng 2.000 con. Hợp tác xã được Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản tỉnh cấp giấy chứng nhận cơ sở kinh doanh thịt dê đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Thịt dê của hợp tác xã hiện nay được giết mổ, đóng gói, bảo quản theo tiêu chuẩn, được các cửa hàng thực phẩm an toàn trên địa bàn thành phố Ninh Bình tiêu thụ.

DTK Biotech-Vet - Phát triển mô hình chăn nuôi sạch

Anh Bùi Văn Thảo ở thôn Bãi Trữ, xã Ninh Giang (Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) đã có kinh nghiệm hàng chục năm trong việc nuôi dê thương phẩm. Điều anh tâm đắc nhất khi phát triển nghề này không phải chỉ là mở rộng quy mô, tăng thu nhập cho gia đình mà quan trọng hơn cả là hình thành mô hình chăn nuôi đảm bảo vệ sinh thú y, từ đó cung cấp cho thị trường những sản phẩm sạch, góp phần thiết thực để xây dựng, củng cố thương hiệu dê núi Ninh Bình.
Theo kinh nghiệm của anh Thảo, dê được đánh giá là vật nuôi có sức đề kháng khá tốt, nhưng nếu không chú ý làm tốt công tác vệ sinh chuồng trại, nắm chắc và thực hiện tốt kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh thì dê vẫn dễ dàng bị mắc một số bệnh như viêm phổi, đầy bụng… Thực tế cách đây nhiều năm khi bắt đầu triển khai mô hình này, do chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề vệ sinh thú y nên đã có những thời điểm đàn dê của gia đình anh Thảo liên tục mắc bệnh gây thiệt hại không nhỏ. Nhưng cũng chính những thất bại này đã cho anh “kinh nghiệm xương máu” nếu muốn phát triển đàn dê, đó là phải nắm chắc kỹ thuật chăm sóc, đồng thời phải luôn chú trọng tới vệ sinh trong chăn nuôi, trước hết là vệ sinh chuồng trại. Về kỹ thuật làm chuồng trại, người chăn nuôi phải có sự đầu tư nghiêm túc ngay từ đầu, tránh làm qua loa, tạm bợ, đảm bảo chuồng thông thoáng không bị nắng nóng, mưa tạt, gió lùa… Ngoài ra để tạo điều kiện cho đàn dê phát triển khỏe mạnh, săn chắc, chất lượng thịt ngon cần có không gian chăn thả, nguồn thức ăn phong phú. Với yêu cầu này, anh Thảo đang cố gắng tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên của địa phương.
Được biết, cùng với những nỗ lực của bản thân, năm 2016 trong quá trình triển khai Đề án Nông dân Ninh Bình nói không với thực phẩm bẩn, anh Thảo đã được Hội Nông dân tỉnh, Hội Nông dân huyện Hoa Lư tư vấn hỗ trợ để anh và một số hộ nuôi dê khác xây dựng mô hình trang trại chăn nuôi dê đủ điều kiện vệ sinh thú y. Khi tham gia mô hình, các hộ được tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn quy trình chăn nuôi đạt tiêu chuẩn, chuyển giao giống dê Sanen,… Có kinh nghiệm thực tế lại nắm bắt được những kiến thức khoa học từ các lớp tập huấn, anh Thảo không chỉ áp dụng ở mô hình chăn nuôi của gia đình mà còn sẵn sàng chuyển giao, chia sẻ, giúp đỡ bà con trong xã mở rộng mô hình.
Với cách làm chú trọng vệ sinh trong chăn nuôi, đến nay, đàn dê của gia đình anh Thảo đã phát triển bền vững, hệ thống chuồng trại luôn được bố trí sạch sẽ, thoáng mát, quy mô đàn vật nuôi khá lớn với 100 con cho thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm. Đặc biệt mô hình nuôi dê này còn được Chi cục Thú y tỉnh cấp giấy chứng nhận cơ sở chăn nuôi đủ điều kiện vệ sinh thú y.
Được biết, hiện nay anh Thảo còn là Giám đốc của HTX chăn nuôi dê Ninh Bình với quy mô khoảng 2.000 con. Hợp tác xã được Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản tỉnh cấp giấy chứng nhận cơ sở kinh doanh thịt dê đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Thịt dê của hợp tác xã hiện nay được giết mổ, đóng gói, bảo quản theo tiêu chuẩn, được các cửa hàng thực phẩm an toàn trên địa bàn thành phố Ninh Bình tiêu thụ.
Đọc thêm
Phòng chống dịch bệnh, giải quyết những vấn đề phát sinh, phát huy tối đa năng lực di truyền, sản xuất thịt heo an toàn là một trong những biện pháp “An toàn sinh học” (Biosecurity).
1. Ngăn chặn dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào
- Vị trí nông trại: khu vực xung quanh 2 km không có trại heo khác, xa các lò giết mổ. Nếu khu vực xung quanh có nhiều trang trại, phải liên kết lại để phòng dịch như là một trang trại.
- Tạm ngừng nhập heo hậu bị, giảm đàn
  • Dù phòng dịch kỹ nhưng di chứng vẫn còn nên cần nhờ các chuyên gia đánh giá về mặt kinh tế.
  • Đặc biệt có hiệu quả với các trại nhiễm PRRS.
- Cách ly heo hậu bị mới nhập, thuần dưỡng cho thích ứng với môi trường nuôi và thực hiện đồng đều miễn dịch, áp dụng trên 3 tháng
  • Nhập heo hậu bị ở các trại giống khoảng 150 ngày tuổi, 90kg
  • Hợp đồng với các trung tâm tinh an toàn: tinh heo âm tính với PRRS
- Ngăn chặn người ngoài vào trại, dán thông báo ngoài trại, tắm rửa, mặc đồ phòng dịch, tăng cường vệ sinh
- Hạn chế, ngăn chặn xe ra vào trại, khi vào trại phải sát trùng bằng vôi, cửa chính có thiết bị phun xịt.
  • Tăng cường quản lý với các xe có liên quan tới chăn nuôi heo như xe chở heo, phân, cám, thuốc, thiết bị, phòng dịch.
  • Các sản phẩm nhập từ bên ngoài phải sát trùng tại cổng ra vào, bảo quản trong một thời gian nhất định rồi mới sử dụng.
- Thiết kế hàng rào xung quanh trại, lưới chống chim, ngăn động vật xâm nhập.
- Quản lí
  • Người quản lý phải làm theo tuần tự từ trại có tiêu chuẩn vệ sinh cao (đẻ, mang thai, cai sữa) rồi tới trại có tiêu chuẩn thấp hơn (heo choai, heo thịt).
  • Hạn chế đi qua lại giữa các trại.
- Cấm nuôi các động vật như chó, mèo, chim trong trại
- Quản lý vệ sinh cám, sát trùng vi khuẩn nấm mốc trong cám
- Cấm mua thịt heo từ bên ngoài sử dụng cho nhà ăn trong trại
Vệ sinh chuồng lợn
2. Ngăn chặn dịch bệnh từ bên trong trang trại
- Áp dụng hệ thống “cùng vào, cùng ra”, phân chia các khu vực sinh sản/ nuôi thịt.
- Định kì sát trùng trong và ngoài trại, đường đi, khu vực xử lí phân… Nếu sát trùng bên trong trại không phù hợp sẽ phá bỏ sự cân bằng vi khuẩn trong trại.
- Cách ly heo bệnh, thực hiện điều trị
- Các chuồng trống thực hiện quá trình “vệ sinh-tiêu độc-làm khô- để trống chuồng”.
- Trước khi vào chuồng nên đổi thêm một lần ủng, và cần có thiết bị sát trùng chân.
- Quản lý vệ sinh kim tiêm, dụng cụ bấm răng, thiến heo, cắt đuôi, bấm tai. Khi trại có bệnh truyền nhiễm cần thay một mũi một con.
- Định kì tiêu diệt chuột và gián.
- Xử lý vệ sinh heo chết và heo loại thải, đầu tư thiết bị tập trung và xử lí heo chết, sát trùng tiêu độc.
- Đường trong khu vực nội bộ trại không cho xe nhiễm khuẩn vào trại.
- Heo chờ đẻ cần vệ sinh sát trùng cơ thể trước khi chuyển chuồng.
3. Tối thiểu hóa thiệt hại từ bệnh
- Cần kiểm tra vệ sinh, kiểm tra huyết thanh, vi khuẩn gây bệnh, chất lượng nước, triệu chứng lâm sàng và mổ khám. Cần tiến hành với chuyên gia bác sĩ thú y nhiều kinh nghiệm.
- Lập các chương trình sử dụng thuốc.
  • Nái nuôi con à nhiễm bệnh truyền sang con (cảm nhiễm truyền dọc).
  • Heo di chuyển, ghép bầy, đổi cámà truyền cho nhau (cảm nhiễm truyền ngang)
- Kiểm tra lượng cám ăn và nước uống vào, tìm ra nguyên nhân sụt giảm (do thiết bị, bệnh, người quản lý, chất lượng cám).
- Kiểm tra tăng trưởng: so sánh trọng lượng heo theo từng giai đoạn phát triển, kiểm tra theo chương trình của công ty cám/ heo giống.
- Kiểm tra các nguyên nhân có thể gây stress cho heo ở nông trại, ngăn chặn các vi khuẩn gây bệnh.
- Để có môi trường nuôi dưỡng hoàn hảo nhất phải kiểm tra độ thông khí, chống nhiệt, giữ ấm cho trại.
- Kiểm tra thiết bị chuồng trại, chống bị nái đè, đau chân, vết thương trên mình heo.
- Kiểm tra chu chuyển đàn, kế hoạch phối/đẻ, thời gian nuôi và mật độ nuôi.
- Lựa chọn các loại thuốc tăng cường hệ miễn dịch. Heo sơ sinh cần cho bú sữa đầu, vì sữa đầu là loại thuốc bổ tốt nhất.
- Nhân viên trong trại phải yêu quý heo. Nếu heo sợ nhân viên thì rất heo dễ bị mắc bệnh. Sự thay đổi người nuôi cũng có thể gây stress cho heo.

DTK Biotech-Vet - Tăng cường phòng dịch cho trang trại

Phòng chống dịch bệnh, giải quyết những vấn đề phát sinh, phát huy tối đa năng lực di truyền, sản xuất thịt heo an toàn là một trong những biện pháp “An toàn sinh học” (Biosecurity).
1. Ngăn chặn dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào
- Vị trí nông trại: khu vực xung quanh 2 km không có trại heo khác, xa các lò giết mổ. Nếu khu vực xung quanh có nhiều trang trại, phải liên kết lại để phòng dịch như là một trang trại.
- Tạm ngừng nhập heo hậu bị, giảm đàn
  • Dù phòng dịch kỹ nhưng di chứng vẫn còn nên cần nhờ các chuyên gia đánh giá về mặt kinh tế.
  • Đặc biệt có hiệu quả với các trại nhiễm PRRS.
- Cách ly heo hậu bị mới nhập, thuần dưỡng cho thích ứng với môi trường nuôi và thực hiện đồng đều miễn dịch, áp dụng trên 3 tháng
  • Nhập heo hậu bị ở các trại giống khoảng 150 ngày tuổi, 90kg
  • Hợp đồng với các trung tâm tinh an toàn: tinh heo âm tính với PRRS
- Ngăn chặn người ngoài vào trại, dán thông báo ngoài trại, tắm rửa, mặc đồ phòng dịch, tăng cường vệ sinh
- Hạn chế, ngăn chặn xe ra vào trại, khi vào trại phải sát trùng bằng vôi, cửa chính có thiết bị phun xịt.
  • Tăng cường quản lý với các xe có liên quan tới chăn nuôi heo như xe chở heo, phân, cám, thuốc, thiết bị, phòng dịch.
  • Các sản phẩm nhập từ bên ngoài phải sát trùng tại cổng ra vào, bảo quản trong một thời gian nhất định rồi mới sử dụng.
- Thiết kế hàng rào xung quanh trại, lưới chống chim, ngăn động vật xâm nhập.
- Quản lí
  • Người quản lý phải làm theo tuần tự từ trại có tiêu chuẩn vệ sinh cao (đẻ, mang thai, cai sữa) rồi tới trại có tiêu chuẩn thấp hơn (heo choai, heo thịt).
  • Hạn chế đi qua lại giữa các trại.
- Cấm nuôi các động vật như chó, mèo, chim trong trại
- Quản lý vệ sinh cám, sát trùng vi khuẩn nấm mốc trong cám
- Cấm mua thịt heo từ bên ngoài sử dụng cho nhà ăn trong trại
Vệ sinh chuồng lợn
2. Ngăn chặn dịch bệnh từ bên trong trang trại
- Áp dụng hệ thống “cùng vào, cùng ra”, phân chia các khu vực sinh sản/ nuôi thịt.
- Định kì sát trùng trong và ngoài trại, đường đi, khu vực xử lí phân… Nếu sát trùng bên trong trại không phù hợp sẽ phá bỏ sự cân bằng vi khuẩn trong trại.
- Cách ly heo bệnh, thực hiện điều trị
- Các chuồng trống thực hiện quá trình “vệ sinh-tiêu độc-làm khô- để trống chuồng”.
- Trước khi vào chuồng nên đổi thêm một lần ủng, và cần có thiết bị sát trùng chân.
- Quản lý vệ sinh kim tiêm, dụng cụ bấm răng, thiến heo, cắt đuôi, bấm tai. Khi trại có bệnh truyền nhiễm cần thay một mũi một con.
- Định kì tiêu diệt chuột và gián.
- Xử lý vệ sinh heo chết và heo loại thải, đầu tư thiết bị tập trung và xử lí heo chết, sát trùng tiêu độc.
- Đường trong khu vực nội bộ trại không cho xe nhiễm khuẩn vào trại.
- Heo chờ đẻ cần vệ sinh sát trùng cơ thể trước khi chuyển chuồng.
3. Tối thiểu hóa thiệt hại từ bệnh
- Cần kiểm tra vệ sinh, kiểm tra huyết thanh, vi khuẩn gây bệnh, chất lượng nước, triệu chứng lâm sàng và mổ khám. Cần tiến hành với chuyên gia bác sĩ thú y nhiều kinh nghiệm.
- Lập các chương trình sử dụng thuốc.
  • Nái nuôi con à nhiễm bệnh truyền sang con (cảm nhiễm truyền dọc).
  • Heo di chuyển, ghép bầy, đổi cámà truyền cho nhau (cảm nhiễm truyền ngang)
- Kiểm tra lượng cám ăn và nước uống vào, tìm ra nguyên nhân sụt giảm (do thiết bị, bệnh, người quản lý, chất lượng cám).
- Kiểm tra tăng trưởng: so sánh trọng lượng heo theo từng giai đoạn phát triển, kiểm tra theo chương trình của công ty cám/ heo giống.
- Kiểm tra các nguyên nhân có thể gây stress cho heo ở nông trại, ngăn chặn các vi khuẩn gây bệnh.
- Để có môi trường nuôi dưỡng hoàn hảo nhất phải kiểm tra độ thông khí, chống nhiệt, giữ ấm cho trại.
- Kiểm tra thiết bị chuồng trại, chống bị nái đè, đau chân, vết thương trên mình heo.
- Kiểm tra chu chuyển đàn, kế hoạch phối/đẻ, thời gian nuôi và mật độ nuôi.
- Lựa chọn các loại thuốc tăng cường hệ miễn dịch. Heo sơ sinh cần cho bú sữa đầu, vì sữa đầu là loại thuốc bổ tốt nhất.
- Nhân viên trong trại phải yêu quý heo. Nếu heo sợ nhân viên thì rất heo dễ bị mắc bệnh. Sự thay đổi người nuôi cũng có thể gây stress cho heo.
Đọc thêm