Khi gà con sắp nở, bà con cần chú ý đến một số bệnh lý khi ấp trứng để chủ động điều chỉnh lượng thức ăn cho gà bố mẹ.
1. Ấp trứng đã bảo quản lâu ngày:
Phôi của trứng ấp đã qua bảo 1uản lâu ngày phát triển chậm, gà nở muộn. Nhiều gà con đã mổ được vỏ nhưng không nở được, kéo dài thời gian nở, nở rải rác. Gà con nở ra dính bết và bẩn do lòng trắng chưa tiêu thụ hết.
Nói chung gà con yếu, nặng bụng, tỷ lệ nuôi sống thấp.

2. Bệnh khoèo chân (Perosit):
Biểu hiện các khớp xương nối đùi với xương ống chân và bàn chân bị sưng, gân bị trượt khỏi khớp. Trường hợp này làm chân gà khoèo về một phía, gà hầu như không đi lại được, hoặc đi bằng khuỷu chân (gọi là đi bằng đầu gối). Cần loại bỏ những gà khoèo chân, không nên nuôi.
Nguyên nhân là đo thiếu chất khoáng – mangan (Mn), jạxit folic, vitamin H, niaxin, Bl2 trong thức ăn cho gà.


3. Bệnh chân, cánh ngắn (Micromelia):
Phôi bị biến dị trầm trọng, do sự phát triển sụn, xương của tứ chi kém. Biểu hiện chân và cánh của phôi ngắn. Xương bàn chân cong và to. Xuơng ống ngắn và cong. Một hiện tượng khác – đầu to, xương hàm và mỏ dưới ngắn, mỏ trên quặp xuống, lông không bông.
Phôi bị chết sớm, đôi khi phôi sưng mọng. Nguyên nhân do thiếu dinh dưỡng trong trứng, do đàn gà sinh sản ăn thức ăn không cân đối đủ chất đạm, chất khoáng như mangan (Mn), kể cả vitamin như vitamin B2, vitamin H …

4. Bệnh động kinh (Atexia):
Gà con vừa nở ra có cử động hỗn loạn; đặc trưng nhất là ngả đầu về phía lưng, mặt ngửa lên trời, xoay quanh hình tròn, hoặc đầu gục vào bụng. Nói chung thần kinh không điều khiển được quá trình vận động.
Gà không ăn uống được, kiệt sức và chết ngay trong 1-2 ngày đầu. Nguyên nhân của bệnh là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin như vitamin H, B2, B] và chất khoáng mangan (Mn).

5. Bệnh bết dính khi nở:
Hiện tượng này thường xuyên xảy ra khi gà bắt đầu mổ vỏ. Lỗ vỏ trứng mà gà vừa mổ tràn ra một chất lỏng dính màu vàng và khô rất nhanh, làm bịt kín mũi và mỏ của gà con làm gà chết ngạt. Một số trường hợp lỗ vỏ trứng rộng to, gà nở được nhưng chất lỏng nhầy này làm lông dính bết, có khi dính cả vỏ trứng, làm gà không cử động được.
Nguyên nhân là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin nhóm B, nhất là B2 và vitamin H nhưng lại thừa chất đạm (protein) động vật.

DKT Biotech-VET- Bệnh thường gặp khi ấp trứng gà

Khi gà con sắp nở, bà con cần chú ý đến một số bệnh lý khi ấp trứng để chủ động điều chỉnh lượng thức ăn cho gà bố mẹ.
1. Ấp trứng đã bảo quản lâu ngày:
Phôi của trứng ấp đã qua bảo 1uản lâu ngày phát triển chậm, gà nở muộn. Nhiều gà con đã mổ được vỏ nhưng không nở được, kéo dài thời gian nở, nở rải rác. Gà con nở ra dính bết và bẩn do lòng trắng chưa tiêu thụ hết.
Nói chung gà con yếu, nặng bụng, tỷ lệ nuôi sống thấp.

2. Bệnh khoèo chân (Perosit):
Biểu hiện các khớp xương nối đùi với xương ống chân và bàn chân bị sưng, gân bị trượt khỏi khớp. Trường hợp này làm chân gà khoèo về một phía, gà hầu như không đi lại được, hoặc đi bằng khuỷu chân (gọi là đi bằng đầu gối). Cần loại bỏ những gà khoèo chân, không nên nuôi.
Nguyên nhân là đo thiếu chất khoáng – mangan (Mn), jạxit folic, vitamin H, niaxin, Bl2 trong thức ăn cho gà.


3. Bệnh chân, cánh ngắn (Micromelia):
Phôi bị biến dị trầm trọng, do sự phát triển sụn, xương của tứ chi kém. Biểu hiện chân và cánh của phôi ngắn. Xương bàn chân cong và to. Xuơng ống ngắn và cong. Một hiện tượng khác – đầu to, xương hàm và mỏ dưới ngắn, mỏ trên quặp xuống, lông không bông.
Phôi bị chết sớm, đôi khi phôi sưng mọng. Nguyên nhân do thiếu dinh dưỡng trong trứng, do đàn gà sinh sản ăn thức ăn không cân đối đủ chất đạm, chất khoáng như mangan (Mn), kể cả vitamin như vitamin B2, vitamin H …

4. Bệnh động kinh (Atexia):
Gà con vừa nở ra có cử động hỗn loạn; đặc trưng nhất là ngả đầu về phía lưng, mặt ngửa lên trời, xoay quanh hình tròn, hoặc đầu gục vào bụng. Nói chung thần kinh không điều khiển được quá trình vận động.
Gà không ăn uống được, kiệt sức và chết ngay trong 1-2 ngày đầu. Nguyên nhân của bệnh là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin như vitamin H, B2, B] và chất khoáng mangan (Mn).

5. Bệnh bết dính khi nở:
Hiện tượng này thường xuyên xảy ra khi gà bắt đầu mổ vỏ. Lỗ vỏ trứng mà gà vừa mổ tràn ra một chất lỏng dính màu vàng và khô rất nhanh, làm bịt kín mũi và mỏ của gà con làm gà chết ngạt. Một số trường hợp lỗ vỏ trứng rộng to, gà nở được nhưng chất lỏng nhầy này làm lông dính bết, có khi dính cả vỏ trứng, làm gà không cử động được.
Nguyên nhân là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin nhóm B, nhất là B2 và vitamin H nhưng lại thừa chất đạm (protein) động vật.
Đọc thêm
1. Đặc điểm chung của bệnh Ung khí thán 
Bệnh Ung khí thán là một bệnh truyền nhiễm cấp tính của trâu, bò, bệnh này có tính chất địa phương, do trực khuẩn yếm khí Clostridium chauvoei và một số trực khuẩn yếm khí khác (Cl.septicum, Cl.perfringens), thể hiện triệu chứng và bệnh tích điển hình: sưng bắp thịt có khí, gọi là “ung khí thán”.
Bệnh có thể xảy ra quanh năm ở những vùng có ô nhiễm nha bào Ung khí thán, nhưng bệnh thường xảy ra vào các tháng nóng ẩm, mưa nhiều. Nước mưa làm cho nha bào từ trong đất trôi ra ngoài dính vào rơm cỏ. Súc vật ăn thức ăn và uống phải nha bào sẽ phát sinh bệnh.
Trâu nghi mắc bệnh ung khí thán
2. Nguyên nhân 
Do một loại trực khuẩn yếm khí gây ra (cl.Chauvoei) với biểu hiện là hình thành các ung ở bắp thịt có khí.
Vi khuẩn gây bệnh có thể hình thành nha bào (kén) ở ngay tổ chức và bắp thịt trong ung và ở ngoài môi trường. Ánh sáng mặt trời diệt nha bào trong 24 giờ. Trong xác chết nha bào sống được 3 tháng, trong đất ẩm sống được 18 năm. Nhiệt độ 700C diệt vi khuẩn sau 30 phút. Đun sôi diệt vi khuẩn trong 30 giây, nhưng phải 20 phút mới diệt được nha bào.
Dung dịch Formol 3% diệt khuẩn sau 15 phút.
3. Phương thức truyền lây
Nha bào có trong đất xâm nhập vào cơ thể trâu, bò qua đường tiêu hóa hoặc qua vết thương ở da rồi nẩy mầm thành vi khuẩn, sinh sôi trong máu rồi đi khắp cơ thể. 
Bệnh không lây truyền trực tiếp từ con vật mắc bệnh sang con vật khỏe.

5. Bệnh tích
Xác con vật chết chậm thối, mổ ra có mùi bơ ôi. Bệnh tích điển hình là các khối ung, ở giữa ung bắp thịt thâm tím, đen xám hoặc nâu xám, hoại tử, nhìn như miếng thịt chín, có chất keo lầy nhầy, nhìn như thịt đông, cắt sâu vào thấy sùi bọt khí, có tiếng lạo xạo. Ung thẩm thấu tương dịch màu thẫm. Hạch bạch huyết ở vùng có ung sưng to, thuỷ thũng, thẩm thấu tương dịch. Phủ tạng ở vùng có ung bị tụ máu, màng gan có đốm hoại tử, mật sưng. Máu sẫm màu, không tím đen và khó đông như trường hợp ở bệnh Nhiệt thán 
Chú ý:  Khi con vật nghi mắc bệnh Ung khí thán thì không được phép mổ. Chỉ được phép mổ để khám nghiệm khi cần thiết nhưng phải đảm bảo đủ phương tiện phòng hộ và tiệt trùng tốt.


a. Thể quá cấp tính 
Bệnh tiến triển ngay từ 3 – 6 giờ. Con vật đang ăn cỏ hoặc càv kéo đột nhiên ngã quỵ, run rẩy rồi chết mà chưa có biểu hiện gì rõ rệt. Một số con có ung ở đùi, bụng, phát triển rất nhanh. Tỷ lệ chết ở bê nghé đến 90%.
b. Thể cấp tính
Bệnh tiến triển trong 2-3 ngày đến 1 tuần. Con vật sốt cao 420C, mệt mỏi nhưng vẫn ăn uống đến lúc gần chết. Trên bắp thịt vai, mông, đùi, bụng xuất hiện các ung, chỗ sưng không cố định, có thể di chuyển từ vai mông xuống đùi, bụng, ức, bẹn. Khối ung lúc đầu nóng, tấy đau, sau ít đau hơn, to dần lên, da căng, bùng nhùng, ấn tay vào có tiếng khí kêu lạo xạo. Khối ung có thể vỡ chảy nhiều nước màu hồng nhạt. Khi có khối ung ở đùi làm con vật đi lại khó khăn, khối ung ở cổ làm nó thè lưỡi ra ngoài. Sau 2 – 3 ngày thân nhiệt hạ dần rồi chết.
Có trường hợp bị liệt 4 chân, bí đái, bí ỉa rồi chết.

6. Chẩn đoán
Dựa vào dịch tễ và triệu chứng lâm sàng: Bệnh thường xảy ra ở các ổ dịch cũ, bị ô nhiễm nha bào Ung khí thán với hiện tượng xuất hiện những khối ung sinh hơi, ấn vào thấy tiếng kêu lạo xạo ở các bắp thịt cùng với triệu chứng sốt, uể oải, kém ăn 
Phân biệt với hai bệnh:
Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
Bệnh nhiệt thán
– Con vật sưng hầu và hạch trước vai rất lớn, nhưng không sinh khí. Nơi sưng nóng thuỷ thũng, ấn tay vào có vết, không thấy lạo xạo.
– Con vật thở khó do hầu bị sưng to, thè lưỡi ra ngoài.
– Mổ khám súc vật bị bệnh thấy tụ huyết nặng ở hạch và các khí quan khác, bắp thịt thấm tương dịch, có màu tím hồng.
– Sốt rất cao (41-420C),
– Con vật có ung nhiệt thán ở cổ, họng, ngực, bụng, nhưng chỗ sưng cứng nóng đau, không sinh hơi, ít thuỷ thũng, sau có vỡ loét ra, đáy vết loét sâu có màu tím đen.
– Con vật sau khi chết lòi dom; lè lưỡi và có rỉ máu, máu tím sẫm không đông hoặc khó đông, lá lách sưng to 2-4 lần, nát như bùn, tim đen.

8. Biện pháp phòng bệnh nhiệt thán

8.1. Phòng bệnh bằng vắc xin
Tổ chức tiêm phòng vắc xin Ung khí thán vô hoạt dạng nướccho trâu, bò.
– Liều lượng và cách dùng:theo hướng dẫn của nhà sản xuất
– Lưu ý:
+ Miễn dịch bảo hộ xuất hiện sau khi tiêm 21 ngày và kéo dài 12 tháng.
+ Động vật thường được tiêm phòng vào mùa xuân.
+ Với những con được tiêm lúc 1 tháng tuổi thì sau 6 tháng tuổi nên tiêm nhắc lại mũi 2.
+ Với những vùng ổ dịch thường xuyên bùng phát thì phải thực hiện công tác tiêm nhắc lại hàng năm.
+ Không tiêm cho gia súc ốm, yếu, sắp đẻ hay mới đẻ.
+ Dừng sử dụng vacxin tại thời điểm 21 ngày trước khi giết mổ.
8.2. Phòng bệnh tổng hợp 
a) Công tác tuyên truyền
Tuyên truyền sâu rộng, liên tục bằng nhiều hình thức phù hợp về tính chất nguy hiểm của bệnh Ung khí thán, đồng thời Hướng dẫn người dân các biện pháp chủ động phòng bệnh cho gia súc và người; Đặc biệt chú trọng tuyên truyền để người dân khi phát hiện gia súc nghi mắc bệnh Ung khí thán, gia súc chết bất thường phải khai báo cho chính quyền địa phương và cơ quan Thú y nơi gần nhất để xử lý triệt để mầm bệnh, tuyệt đối không được tự ý mổ thịt, vận chuyển, buôn bán làm lây lan bệnh sang khu vực khác.Không chăn thả trâu, bò và cắt cỏ cho trâu, bò tại những nơi có trâu, bò chết do bệnh Ung khí thán và những bãi chăn thả đã bị ô nhiễm (có nha bào Ung khí thán).
b) Vệ sinh tiêu độc khử trùng
Tổ chức tuyên truyền đến các hộ chăn nuôi định kỳ hàng tuần chủ động vệ sinh, khử trùng tiêu độc chuồng trại, môi trường chăn nuôi bằng vôi bột hoặc thuốc khử trùng: Benkocid… nhằm hạn chế mức thấp nhất sự xâm nhập của mầm bệnh.

DKT Biotech-VET- Phòng bệnh ung khí thán trâu, bò

1. Đặc điểm chung của bệnh Ung khí thán 
Bệnh Ung khí thán là một bệnh truyền nhiễm cấp tính của trâu, bò, bệnh này có tính chất địa phương, do trực khuẩn yếm khí Clostridium chauvoei và một số trực khuẩn yếm khí khác (Cl.septicum, Cl.perfringens), thể hiện triệu chứng và bệnh tích điển hình: sưng bắp thịt có khí, gọi là “ung khí thán”.
Bệnh có thể xảy ra quanh năm ở những vùng có ô nhiễm nha bào Ung khí thán, nhưng bệnh thường xảy ra vào các tháng nóng ẩm, mưa nhiều. Nước mưa làm cho nha bào từ trong đất trôi ra ngoài dính vào rơm cỏ. Súc vật ăn thức ăn và uống phải nha bào sẽ phát sinh bệnh.
Trâu nghi mắc bệnh ung khí thán
2. Nguyên nhân 
Do một loại trực khuẩn yếm khí gây ra (cl.Chauvoei) với biểu hiện là hình thành các ung ở bắp thịt có khí.
Vi khuẩn gây bệnh có thể hình thành nha bào (kén) ở ngay tổ chức và bắp thịt trong ung và ở ngoài môi trường. Ánh sáng mặt trời diệt nha bào trong 24 giờ. Trong xác chết nha bào sống được 3 tháng, trong đất ẩm sống được 18 năm. Nhiệt độ 700C diệt vi khuẩn sau 30 phút. Đun sôi diệt vi khuẩn trong 30 giây, nhưng phải 20 phút mới diệt được nha bào.
Dung dịch Formol 3% diệt khuẩn sau 15 phút.
3. Phương thức truyền lây
Nha bào có trong đất xâm nhập vào cơ thể trâu, bò qua đường tiêu hóa hoặc qua vết thương ở da rồi nẩy mầm thành vi khuẩn, sinh sôi trong máu rồi đi khắp cơ thể. 
Bệnh không lây truyền trực tiếp từ con vật mắc bệnh sang con vật khỏe.

5. Bệnh tích
Xác con vật chết chậm thối, mổ ra có mùi bơ ôi. Bệnh tích điển hình là các khối ung, ở giữa ung bắp thịt thâm tím, đen xám hoặc nâu xám, hoại tử, nhìn như miếng thịt chín, có chất keo lầy nhầy, nhìn như thịt đông, cắt sâu vào thấy sùi bọt khí, có tiếng lạo xạo. Ung thẩm thấu tương dịch màu thẫm. Hạch bạch huyết ở vùng có ung sưng to, thuỷ thũng, thẩm thấu tương dịch. Phủ tạng ở vùng có ung bị tụ máu, màng gan có đốm hoại tử, mật sưng. Máu sẫm màu, không tím đen và khó đông như trường hợp ở bệnh Nhiệt thán 
Chú ý:  Khi con vật nghi mắc bệnh Ung khí thán thì không được phép mổ. Chỉ được phép mổ để khám nghiệm khi cần thiết nhưng phải đảm bảo đủ phương tiện phòng hộ và tiệt trùng tốt.


a. Thể quá cấp tính 
Bệnh tiến triển ngay từ 3 – 6 giờ. Con vật đang ăn cỏ hoặc càv kéo đột nhiên ngã quỵ, run rẩy rồi chết mà chưa có biểu hiện gì rõ rệt. Một số con có ung ở đùi, bụng, phát triển rất nhanh. Tỷ lệ chết ở bê nghé đến 90%.
b. Thể cấp tính
Bệnh tiến triển trong 2-3 ngày đến 1 tuần. Con vật sốt cao 420C, mệt mỏi nhưng vẫn ăn uống đến lúc gần chết. Trên bắp thịt vai, mông, đùi, bụng xuất hiện các ung, chỗ sưng không cố định, có thể di chuyển từ vai mông xuống đùi, bụng, ức, bẹn. Khối ung lúc đầu nóng, tấy đau, sau ít đau hơn, to dần lên, da căng, bùng nhùng, ấn tay vào có tiếng khí kêu lạo xạo. Khối ung có thể vỡ chảy nhiều nước màu hồng nhạt. Khi có khối ung ở đùi làm con vật đi lại khó khăn, khối ung ở cổ làm nó thè lưỡi ra ngoài. Sau 2 – 3 ngày thân nhiệt hạ dần rồi chết.
Có trường hợp bị liệt 4 chân, bí đái, bí ỉa rồi chết.

6. Chẩn đoán
Dựa vào dịch tễ và triệu chứng lâm sàng: Bệnh thường xảy ra ở các ổ dịch cũ, bị ô nhiễm nha bào Ung khí thán với hiện tượng xuất hiện những khối ung sinh hơi, ấn vào thấy tiếng kêu lạo xạo ở các bắp thịt cùng với triệu chứng sốt, uể oải, kém ăn 
Phân biệt với hai bệnh:
Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
Bệnh nhiệt thán
– Con vật sưng hầu và hạch trước vai rất lớn, nhưng không sinh khí. Nơi sưng nóng thuỷ thũng, ấn tay vào có vết, không thấy lạo xạo.
– Con vật thở khó do hầu bị sưng to, thè lưỡi ra ngoài.
– Mổ khám súc vật bị bệnh thấy tụ huyết nặng ở hạch và các khí quan khác, bắp thịt thấm tương dịch, có màu tím hồng.
– Sốt rất cao (41-420C),
– Con vật có ung nhiệt thán ở cổ, họng, ngực, bụng, nhưng chỗ sưng cứng nóng đau, không sinh hơi, ít thuỷ thũng, sau có vỡ loét ra, đáy vết loét sâu có màu tím đen.
– Con vật sau khi chết lòi dom; lè lưỡi và có rỉ máu, máu tím sẫm không đông hoặc khó đông, lá lách sưng to 2-4 lần, nát như bùn, tim đen.

8. Biện pháp phòng bệnh nhiệt thán

8.1. Phòng bệnh bằng vắc xin
Tổ chức tiêm phòng vắc xin Ung khí thán vô hoạt dạng nướccho trâu, bò.
– Liều lượng và cách dùng:theo hướng dẫn của nhà sản xuất
– Lưu ý:
+ Miễn dịch bảo hộ xuất hiện sau khi tiêm 21 ngày và kéo dài 12 tháng.
+ Động vật thường được tiêm phòng vào mùa xuân.
+ Với những con được tiêm lúc 1 tháng tuổi thì sau 6 tháng tuổi nên tiêm nhắc lại mũi 2.
+ Với những vùng ổ dịch thường xuyên bùng phát thì phải thực hiện công tác tiêm nhắc lại hàng năm.
+ Không tiêm cho gia súc ốm, yếu, sắp đẻ hay mới đẻ.
+ Dừng sử dụng vacxin tại thời điểm 21 ngày trước khi giết mổ.
8.2. Phòng bệnh tổng hợp 
a) Công tác tuyên truyền
Tuyên truyền sâu rộng, liên tục bằng nhiều hình thức phù hợp về tính chất nguy hiểm của bệnh Ung khí thán, đồng thời Hướng dẫn người dân các biện pháp chủ động phòng bệnh cho gia súc và người; Đặc biệt chú trọng tuyên truyền để người dân khi phát hiện gia súc nghi mắc bệnh Ung khí thán, gia súc chết bất thường phải khai báo cho chính quyền địa phương và cơ quan Thú y nơi gần nhất để xử lý triệt để mầm bệnh, tuyệt đối không được tự ý mổ thịt, vận chuyển, buôn bán làm lây lan bệnh sang khu vực khác.Không chăn thả trâu, bò và cắt cỏ cho trâu, bò tại những nơi có trâu, bò chết do bệnh Ung khí thán và những bãi chăn thả đã bị ô nhiễm (có nha bào Ung khí thán).
b) Vệ sinh tiêu độc khử trùng
Tổ chức tuyên truyền đến các hộ chăn nuôi định kỳ hàng tuần chủ động vệ sinh, khử trùng tiêu độc chuồng trại, môi trường chăn nuôi bằng vôi bột hoặc thuốc khử trùng: Benkocid… nhằm hạn chế mức thấp nhất sự xâm nhập của mầm bệnh.
Đọc thêm
Trong thời gian vừa qua đã xảy ra các đợt mưa lũ gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản của người dân các tỉnh phía Bắc, đặc biệt các tỉnh miền núi.
Trước tình hình này, ngay từ cuối tháng 6/2018, Cục Thú y đã có công văn số 1400/TY-DT đề nghị các đơn vị chủ động hỗ trợ khắc phục hậu quả mưa lũ và phòng chống dịch bệnh phát sinh…
Cục Thú y đề nghị Sở NN-PTNT các tỉnh phía Bắc chỉ đạo Chi cục Chăn nuôi và thú y thành lập các đoàn công tác đến các địa phương bị ảnh hưởng bởi mưa lũ để phối hợp với cơ quan y tế và chính quyền cơ sở hướng dẫn và tổ chức thực hiện các biện pháp vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi và thủy sản nuôi, đặc biệt đối với các bệnh lây truyền từ động vật sang người.
Đối với địa bàn có nhiều động vật nuôi bị chết, có diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại nặng: Các đoàn công tác tổ chức kiểm tra, hỗ trợ và hướng dẫn địa phương khắc phục hậu quả sau mưa lũ, xử lý vệ sinh môi trường, tổ chức thu gom động vật chết để tiêu hủy; đồng thời triển khai ngay các biện pháp chủ động phòng bệnh cho gia súc, gia cầm, thủy sản nuôi.
Tổ chức đánh giá, thống kê cụ thể số liệu thiệt hại do mưa lũ đối với gia súc, gia cầm, thủy sản nuôi; tổng hợp nhu cầu, báo cáo cấp có thẩm quyền phương án hỗ trợ con giống, vắc xin, thuốc sát trùng, xử lý xác động vật chết để phòng chống dịch bệnh trên vật nuôi và xử lý môi trường ô nhiễm.

Tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện vệ sinh chuồng trại, tái đàn và thực hiện tiêm phòng cho gia súc, gia cầm để phòng ngừa dịch bệnh phát sinh; đối với người nuôi trồng thủy sản cần tăng cường quản lý, chăm sóc diện tích nuôi thủy sản không bị ngập tràn, khôi phục sản xuất tại những nơi bị ngập trôi thủy sản nhưng có khả năng kiểm soát và xử lý môi trường ao nuôi.
Báo cáo Cục Thú y những khó khăn, vướng mắc trong công tác khắc phục hậu quả sau mưa lũ và các vấn đề phát sinh liên quan đến công tác thú y, đặc biệt là công tác phòng chống dịch bệnh động vật.
Đối với Chi cục thú y Vùng I và II:
Rà soát, chuẩn bị đầy đủ nguyên vật liệu, hóa chất phục vụ công tác chẩn đoán, xét nghiệm bệnh động vật; tổ chức trực phòng, chống dịch để hỗ trợ các địa phương kịp thời ứng phó dịch bệnh động vật phát sinh sau mưa lũ.
Thành lập các đoàn công tác đến các địa phương để hỗ trợ, hướng dẫn khôi phục sản xuất chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản sau mưa lũ; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh động vật; tổng hợp, báo cáo số liệu thiệt hại để có cơ sở kịp thời báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc hỗ trợ cho các địa phương.
Các Chi cục Kiểm dịch động vật vùng Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai chủ động liên hệ với Chi cục chăn nuôi và thú y trên địa bàn để tăng cường hỗ trợ nhân lực, kỹ thuật, kịp thời xử lý các vấn đề ô nhiễm môi trường, dịch bệnh động vật phát sinh sau mưa lũ…

DKT Biotech-VET- Phòng chống dịch bệnh mùa mưa lũ cho vật nuôi

Trong thời gian vừa qua đã xảy ra các đợt mưa lũ gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản của người dân các tỉnh phía Bắc, đặc biệt các tỉnh miền núi.
Trước tình hình này, ngay từ cuối tháng 6/2018, Cục Thú y đã có công văn số 1400/TY-DT đề nghị các đơn vị chủ động hỗ trợ khắc phục hậu quả mưa lũ và phòng chống dịch bệnh phát sinh…
Cục Thú y đề nghị Sở NN-PTNT các tỉnh phía Bắc chỉ đạo Chi cục Chăn nuôi và thú y thành lập các đoàn công tác đến các địa phương bị ảnh hưởng bởi mưa lũ để phối hợp với cơ quan y tế và chính quyền cơ sở hướng dẫn và tổ chức thực hiện các biện pháp vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi và thủy sản nuôi, đặc biệt đối với các bệnh lây truyền từ động vật sang người.
Đối với địa bàn có nhiều động vật nuôi bị chết, có diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại nặng: Các đoàn công tác tổ chức kiểm tra, hỗ trợ và hướng dẫn địa phương khắc phục hậu quả sau mưa lũ, xử lý vệ sinh môi trường, tổ chức thu gom động vật chết để tiêu hủy; đồng thời triển khai ngay các biện pháp chủ động phòng bệnh cho gia súc, gia cầm, thủy sản nuôi.
Tổ chức đánh giá, thống kê cụ thể số liệu thiệt hại do mưa lũ đối với gia súc, gia cầm, thủy sản nuôi; tổng hợp nhu cầu, báo cáo cấp có thẩm quyền phương án hỗ trợ con giống, vắc xin, thuốc sát trùng, xử lý xác động vật chết để phòng chống dịch bệnh trên vật nuôi và xử lý môi trường ô nhiễm.

Tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện vệ sinh chuồng trại, tái đàn và thực hiện tiêm phòng cho gia súc, gia cầm để phòng ngừa dịch bệnh phát sinh; đối với người nuôi trồng thủy sản cần tăng cường quản lý, chăm sóc diện tích nuôi thủy sản không bị ngập tràn, khôi phục sản xuất tại những nơi bị ngập trôi thủy sản nhưng có khả năng kiểm soát và xử lý môi trường ao nuôi.
Báo cáo Cục Thú y những khó khăn, vướng mắc trong công tác khắc phục hậu quả sau mưa lũ và các vấn đề phát sinh liên quan đến công tác thú y, đặc biệt là công tác phòng chống dịch bệnh động vật.
Đối với Chi cục thú y Vùng I và II:
Rà soát, chuẩn bị đầy đủ nguyên vật liệu, hóa chất phục vụ công tác chẩn đoán, xét nghiệm bệnh động vật; tổ chức trực phòng, chống dịch để hỗ trợ các địa phương kịp thời ứng phó dịch bệnh động vật phát sinh sau mưa lũ.
Thành lập các đoàn công tác đến các địa phương để hỗ trợ, hướng dẫn khôi phục sản xuất chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản sau mưa lũ; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh động vật; tổng hợp, báo cáo số liệu thiệt hại để có cơ sở kịp thời báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc hỗ trợ cho các địa phương.
Các Chi cục Kiểm dịch động vật vùng Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai chủ động liên hệ với Chi cục chăn nuôi và thú y trên địa bàn để tăng cường hỗ trợ nhân lực, kỹ thuật, kịp thời xử lý các vấn đề ô nhiễm môi trường, dịch bệnh động vật phát sinh sau mưa lũ…
Đọc thêm
Lợn “tên lửa” (hay còn gọi là lợn Mán, lợn cắp nách) là đặc sản được ưa chuộng vì có hương vị thơm ngon như thịt thú rừng. Hiện giá móc hàm trên thị trường từ 200.000 – 250.000 đồng/kg.

Loài lợn này có màu lông đen tuyền hoặc hơi vàng; khả năng sinh sản kém, mỗi lứa đẻ từ 5 – 8 con, trọng lượng thấp. Nếu thả rông để chúng tự kiếm ăn, một năm mỗi con chỉ nặng từ 25-30kg, còn nhốt trong chuồng chăn nuôi theo tập quán cũ của đồng bào, lợn “tên lửa” cũng chỉ đạt từ 40-50kg. Loài lợn này ít nhiễm bệnh dịch, nên dễ nuôi. Muốn nuôi, bà con cần lưu ý một số kỹ thuật sau:

– Chọn giống: Chọn những con có da, lông mịn, bóng mượt; khỏe mạnh, móng và chân khỏe, mắt tinh, đi lại nhanh nhẹn. Lợn cái phải có số vú đều, lộ rõ âm hộ phát triển bình thường. Khu vực chăn thả lợn giống cần rào xung quanh, diện tích từ 1.000 – 1.500m2, chọn nơi cao ráo trong vườn để làm chuồng, nền láng xi măng, mái lợp lá cọ hoặc lá gianh, để lá chuối khô, hay rơm rạ để trong chuồng cho chúng tự lót ổ. Lợn đến kỳ động dục từ phối giống lẫn nhau, thời gian mang thai từ 100-120 ngày.


– Chăm sóc, nuôi dưỡng: Khu chuồng trại phải sạch sẽ, thoáng mát. Lợn con sau khi đẻ cần được lau khô toàn thân bằng vải màn mềm sạch. Sau khi lợn đẻ xong con cuối cùng cần tiến hành bấm bỏ nanh, cắt rốn và cố định bầu vú cho lợn con (cho con bé bú những vú trước và con to hơn bú những vú sau, vì vú trước nhiều sữa hơn vú sau). Thời kỳ này cần cho lợn mẹ ăn đủ chất dinh dưỡng để đảm bảo lượng sữa nuôi con.

Thức ăn cho lợn tên lửa đơn giản, dễ kiếm, phổ biến nhất là là cây chuối rừng, chuối nhà, dây khoai lang, khoai mon, rau muống… có thể cho chúng ăn sống hoặc nấu chín với cám ngô, cám gạo, bột đậu tương, bột tôm, cá… Lợn thả theo đàn để chúng tranh nhau ăn. Mỗi ngày cho ăn 3 bữa vừa phải, thả chúng quanh vườn rừng để tự kiếm ăn thêm rễ cây rừng, củ, quả, lá… khiến lợn không tích mỡ, tăng lượng nạc, tươi lâu, ăn không ngấy, thơm ngon như thịt thú rừng.

DKT Biotech-VET- Một số kỹ thuật cần chú ý khi nuôi lợn Mán

Lợn “tên lửa” (hay còn gọi là lợn Mán, lợn cắp nách) là đặc sản được ưa chuộng vì có hương vị thơm ngon như thịt thú rừng. Hiện giá móc hàm trên thị trường từ 200.000 – 250.000 đồng/kg.

Loài lợn này có màu lông đen tuyền hoặc hơi vàng; khả năng sinh sản kém, mỗi lứa đẻ từ 5 – 8 con, trọng lượng thấp. Nếu thả rông để chúng tự kiếm ăn, một năm mỗi con chỉ nặng từ 25-30kg, còn nhốt trong chuồng chăn nuôi theo tập quán cũ của đồng bào, lợn “tên lửa” cũng chỉ đạt từ 40-50kg. Loài lợn này ít nhiễm bệnh dịch, nên dễ nuôi. Muốn nuôi, bà con cần lưu ý một số kỹ thuật sau:

– Chọn giống: Chọn những con có da, lông mịn, bóng mượt; khỏe mạnh, móng và chân khỏe, mắt tinh, đi lại nhanh nhẹn. Lợn cái phải có số vú đều, lộ rõ âm hộ phát triển bình thường. Khu vực chăn thả lợn giống cần rào xung quanh, diện tích từ 1.000 – 1.500m2, chọn nơi cao ráo trong vườn để làm chuồng, nền láng xi măng, mái lợp lá cọ hoặc lá gianh, để lá chuối khô, hay rơm rạ để trong chuồng cho chúng tự lót ổ. Lợn đến kỳ động dục từ phối giống lẫn nhau, thời gian mang thai từ 100-120 ngày.


– Chăm sóc, nuôi dưỡng: Khu chuồng trại phải sạch sẽ, thoáng mát. Lợn con sau khi đẻ cần được lau khô toàn thân bằng vải màn mềm sạch. Sau khi lợn đẻ xong con cuối cùng cần tiến hành bấm bỏ nanh, cắt rốn và cố định bầu vú cho lợn con (cho con bé bú những vú trước và con to hơn bú những vú sau, vì vú trước nhiều sữa hơn vú sau). Thời kỳ này cần cho lợn mẹ ăn đủ chất dinh dưỡng để đảm bảo lượng sữa nuôi con.

Thức ăn cho lợn tên lửa đơn giản, dễ kiếm, phổ biến nhất là là cây chuối rừng, chuối nhà, dây khoai lang, khoai mon, rau muống… có thể cho chúng ăn sống hoặc nấu chín với cám ngô, cám gạo, bột đậu tương, bột tôm, cá… Lợn thả theo đàn để chúng tranh nhau ăn. Mỗi ngày cho ăn 3 bữa vừa phải, thả chúng quanh vườn rừng để tự kiếm ăn thêm rễ cây rừng, củ, quả, lá… khiến lợn không tích mỡ, tăng lượng nạc, tươi lâu, ăn không ngấy, thơm ngon như thịt thú rừng.
Đọc thêm
Chăn nuôi gà thả vườn đang phát triển mạnh mẽ, có một số vùng chăn nuôi gà thả vườn đang là giải pháp thoát nghèo và làm giàu. Theo ông nhiều hộ chăn nuôi ở ấp Quý Thạnh, xã Tân Hội (TX. Cai Lậy, Tiền Giang), thông thường gà nuôi khoảng 3,5 đến 4 tháng là có thể bán ra thị trường. Nếu chăm sóc cẩn thận, gà có thể đạt trọng lượng hơn 2kg/con, giá bán khoảng 60.000 đồng/kg là người nuôi có lãi, những lúc cao điểm như lễ, tết, giá tăng cao hơn 100.000 đồng/kg.
Thức ăn chủ yếu là lúa và thức ăn công nghiệp, đồng thời trong thức ăn nên trộn thêm thuốc ngừa bệnh để bảo vệ đàn gà. Ngoài ra, cần cung cấp thêm cỏ non để bổ sung dinh dưỡng cho gà. Nước uống phải sạch sẽ, không có nguồn bệnh và phải thay nước thường xuyên. Sau khi xuất bán phải vệ sinh kỹ chuồng trại, diệt tận gốc các loại bệnh và trồng thêm rau xanh, chuối cây trong sân vườn để cung cấp rau xanh an toàn cho gà rồi mới bắt đầu nuôi lứa khác.
Mô hình nuôi gà thả vườn thường mang đến gà với chất lượng cao, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe nhất của người sử dụng. Tuy nhiên, để có thể thành công với hình thức chăn nuôi này, bà con cần chú ý đến một vài yếu tố dưới đây:
Quan tâm đến điều kiện nuôi:
Về điều kiện chuồng nuôi: Nên thiết kế sao cho đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông. Nền chuồng phải cao, có khả năng thoát nước khi làm vệ sinh. Sau đó, bạn nên rải trấy, rơm vào nền chuồng để gà được giữ ấm.Khi xây dựng mô hình nuôi gà thả vườn, chuồng cần phải xây ở chỗ cao, theo hướng Đông hoặc Đông Nam là tốt nhất bởi đây sẽ là nơi tránh mưa nắng và ngủ đêm cho gà. Chuồng nên có mật độ ít nhất 1 con/m2.


Chọn giống:
Nuôi gà lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri.Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt. Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6-1,7 kg thì rất tốt.
Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại. Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc VitamineC, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rũ cần cách ly ngay để theo dõi.Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.

Về điều kiện chăn thả:
Có thể thả gà trong vườn rộng. Nếu vườn còn trồng tr một số loại cây trồng, bạn nên quây riêng khu vực nuôi để đảm bảo gà không phá hoại rau màu. Máng ăn, máng uống: Với mô hình gà thả vườn, máng ăn và máng uống có thể được đặt ở góc vườn. Ngoài ra, bạn cũng nên thiết kế thêm máng ăn treo ở chuồng, giúp cung cấp thức ăn cho gà trong những ngày điều kiện thời tiết xấu.

Ánh sáng:
Dùng ánh sáng tự nhiên ban ngày, ban đêm thắp đèn cho gà ăn tự do, dùng máng ăn tự động hình trụ 50 con/máng đổ đầy thức ăn cho 1 ngày đêm, sáng sớm trước khi cho ăn nên kiểm tra và loại bỏ thức ăn thừa hoặc phân trấu dính vào máng ăn. Không thả rèm (chỉ thả khi trời mưa bão lạnh). Cứ 2 tuần 1 lần cân 10% tổng số gà để tính trọng lượng bình quân.
Phân gà được hốt dọn thường xuyên (nếu nuôi lồng) hoặc cuối đợt (nếu nuôi trên nền trấu) và phải được đem ủ kỹ với vôi bột 3 tháng sau mới đem dùng.Phải đưa gà đến các cơ sở giết mổ tập trung và phải có dấu của thú y mới được bán.

Thức ăn cho gà:
Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và Vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.
Vệ sinh phòng bệnh là công tác chủ yếu, đảm bảo "Ăn sạch, ở sạch, uống sạch". Nền chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.Sức đề kháng của cơ thể gia cầm do con người tạo bằng cách tiêm các loại vaccin phòng bệnh (sức đề kháng chủ động).

Vệ sinh phòng bệnh:
Nước sạch; Chuồng nuôi sạch; Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.Lịch chủng ngừa: Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh; lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng. Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm.
Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol... Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình. Mỗi liệu trình phòng bệnh khoảng 3-4 ngày là đủ.
Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác. Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi. Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm. Phòng bệnh: Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt. - Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày): Anticoc 1gr/1 lít nước; Baycoc 1ml/ 1 lít nước.
Bênh thương hàn (Salmonellosis) triệu chứng: Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối. Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo. + Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn. Phòng bệnh: Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh Oxytetracyclin: 50-80mg/gà/ngày, dùng trong 5 ngày. Chloramphenical: 1gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày.
Bệnh dịch tả (Newcastle disease) Triệu chứng: Thường biểu hiện ở 2 thể: Cấp tính và mãn tính. - Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở). - Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi. Tích, mào tím xanh. + Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ.... Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%. Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine.
Bệnh gumboro triệu chứng: Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu. - Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày). Ngày thứ 2 thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy. Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm. Phòng bệnh bằng vệ sinh: Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi.
Với mô hình nuôi gà thả vườn, bà con không chỉ chăm lo phát triển kinh tế cho gia đình, bà con có thế phát triển mở rộng diện tích, nâng số lượng, đầu tư vốn, kỹ thuật để nâng cao hiệu quả chăn nuôi, tạo việc làm, tăng thu nhập.

DKT Biotech-VET- Kỹ thuật nuôi gà thả vườn hiệu quả

Chăn nuôi gà thả vườn đang phát triển mạnh mẽ, có một số vùng chăn nuôi gà thả vườn đang là giải pháp thoát nghèo và làm giàu. Theo ông nhiều hộ chăn nuôi ở ấp Quý Thạnh, xã Tân Hội (TX. Cai Lậy, Tiền Giang), thông thường gà nuôi khoảng 3,5 đến 4 tháng là có thể bán ra thị trường. Nếu chăm sóc cẩn thận, gà có thể đạt trọng lượng hơn 2kg/con, giá bán khoảng 60.000 đồng/kg là người nuôi có lãi, những lúc cao điểm như lễ, tết, giá tăng cao hơn 100.000 đồng/kg.
Thức ăn chủ yếu là lúa và thức ăn công nghiệp, đồng thời trong thức ăn nên trộn thêm thuốc ngừa bệnh để bảo vệ đàn gà. Ngoài ra, cần cung cấp thêm cỏ non để bổ sung dinh dưỡng cho gà. Nước uống phải sạch sẽ, không có nguồn bệnh và phải thay nước thường xuyên. Sau khi xuất bán phải vệ sinh kỹ chuồng trại, diệt tận gốc các loại bệnh và trồng thêm rau xanh, chuối cây trong sân vườn để cung cấp rau xanh an toàn cho gà rồi mới bắt đầu nuôi lứa khác.
Mô hình nuôi gà thả vườn thường mang đến gà với chất lượng cao, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe nhất của người sử dụng. Tuy nhiên, để có thể thành công với hình thức chăn nuôi này, bà con cần chú ý đến một vài yếu tố dưới đây:
Quan tâm đến điều kiện nuôi:
Về điều kiện chuồng nuôi: Nên thiết kế sao cho đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông. Nền chuồng phải cao, có khả năng thoát nước khi làm vệ sinh. Sau đó, bạn nên rải trấy, rơm vào nền chuồng để gà được giữ ấm.Khi xây dựng mô hình nuôi gà thả vườn, chuồng cần phải xây ở chỗ cao, theo hướng Đông hoặc Đông Nam là tốt nhất bởi đây sẽ là nơi tránh mưa nắng và ngủ đêm cho gà. Chuồng nên có mật độ ít nhất 1 con/m2.


Chọn giống:
Nuôi gà lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri.Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt. Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6-1,7 kg thì rất tốt.
Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại. Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc VitamineC, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rũ cần cách ly ngay để theo dõi.Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.

Về điều kiện chăn thả:
Có thể thả gà trong vườn rộng. Nếu vườn còn trồng tr một số loại cây trồng, bạn nên quây riêng khu vực nuôi để đảm bảo gà không phá hoại rau màu. Máng ăn, máng uống: Với mô hình gà thả vườn, máng ăn và máng uống có thể được đặt ở góc vườn. Ngoài ra, bạn cũng nên thiết kế thêm máng ăn treo ở chuồng, giúp cung cấp thức ăn cho gà trong những ngày điều kiện thời tiết xấu.

Ánh sáng:
Dùng ánh sáng tự nhiên ban ngày, ban đêm thắp đèn cho gà ăn tự do, dùng máng ăn tự động hình trụ 50 con/máng đổ đầy thức ăn cho 1 ngày đêm, sáng sớm trước khi cho ăn nên kiểm tra và loại bỏ thức ăn thừa hoặc phân trấu dính vào máng ăn. Không thả rèm (chỉ thả khi trời mưa bão lạnh). Cứ 2 tuần 1 lần cân 10% tổng số gà để tính trọng lượng bình quân.
Phân gà được hốt dọn thường xuyên (nếu nuôi lồng) hoặc cuối đợt (nếu nuôi trên nền trấu) và phải được đem ủ kỹ với vôi bột 3 tháng sau mới đem dùng.Phải đưa gà đến các cơ sở giết mổ tập trung và phải có dấu của thú y mới được bán.

Thức ăn cho gà:
Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và Vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.
Vệ sinh phòng bệnh là công tác chủ yếu, đảm bảo "Ăn sạch, ở sạch, uống sạch". Nền chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.Sức đề kháng của cơ thể gia cầm do con người tạo bằng cách tiêm các loại vaccin phòng bệnh (sức đề kháng chủ động).

Vệ sinh phòng bệnh:
Nước sạch; Chuồng nuôi sạch; Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.Lịch chủng ngừa: Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh; lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng. Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm.
Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol... Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình. Mỗi liệu trình phòng bệnh khoảng 3-4 ngày là đủ.
Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác. Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi. Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm. Phòng bệnh: Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt. - Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày): Anticoc 1gr/1 lít nước; Baycoc 1ml/ 1 lít nước.
Bênh thương hàn (Salmonellosis) triệu chứng: Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối. Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo. + Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn. Phòng bệnh: Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh Oxytetracyclin: 50-80mg/gà/ngày, dùng trong 5 ngày. Chloramphenical: 1gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày.
Bệnh dịch tả (Newcastle disease) Triệu chứng: Thường biểu hiện ở 2 thể: Cấp tính và mãn tính. - Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở). - Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi. Tích, mào tím xanh. + Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ.... Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%. Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine.
Bệnh gumboro triệu chứng: Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu. - Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày). Ngày thứ 2 thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy. Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm. Phòng bệnh bằng vệ sinh: Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi.
Với mô hình nuôi gà thả vườn, bà con không chỉ chăm lo phát triển kinh tế cho gia đình, bà con có thế phát triển mở rộng diện tích, nâng số lượng, đầu tư vốn, kỹ thuật để nâng cao hiệu quả chăn nuôi, tạo việc làm, tăng thu nhập.
Đọc thêm
Trước tình hình dịch cúm gia cầm đang diễn biến phức tạp, cần đổi mới chăn nuôi thủy cầm nhằm kiểm soát an toàn dịch bệnh. Chăn nuôi mang tính bền vững và đảm bảo vệ sinh môi trường là rất cần thiết, với mục tiêu trên chăn nuôi vịt không nên nuôi thả ở sông suối và thả tự do ngoài đồng, cần phải thực hiện các biện pháp chăn nuôi thủy cầm an toàn sinh học:
Yêu cầu cụ thể về kỹ thuật đối với từng phương thức nuôi

1. Phương thức nuôi nhốt vịt trên cạn
Các phương thức nuôi vịt nhốt trên khô hoàn toàn không cần nước bơi lội, chỉ cần nước uống đảm bảo chủ động cho việc kiểm soát dịch bệnh.
a. Phương thức nuôi vịt trong vườn cây.
Có thể nuôi nhốt vịt được ở cả trên những vườn cây ăn quả và cây lâu năm. Khi nuôi vịt nhốt trên vườn cây vừa đảm bảo cho cỏ đỡ mọc, đồng thời nguồn phân của vịt thải ra sẽ đảm bảo cung cấp một nguồn dinh dưỡng cho cây, cây cũng tạo bóng mát cho vịt khi trời nóng bức. Khi nuôi trong vườn cây phải lưu ý:
+ Phải có chuồng để che nắng, mưa cho vịt.
+ Không nuôi vịt nhốt trong vườn cây thân mềm vì nó sẽ làm hỏng cây.
+ Phải có rào chắn để quây vịt ngan trong một khu vực, vườn cây phải có độ dốc thích hợp để không bị đọng nước khi trời mưa làm mất vệ sinh. Vườn cây cũng không được dốc quá làm khó khăn cho việc đi lại của vịt và đặc biệt đối với vịt đẻ sẽ khó khăn cho việc giao phối.
+ Vườn cây phải có độ cao của cây phù hợp: Cây có độ cao trên 1m, nếu cây thấp quá vịt sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây đặc biệt là làm hỏng chồi và lá cây.


b. Phương thức nuôi vịt nhốt trong chuồng có sân chơi
Khi nuôi có sân chơi phải láng xi măng cát hoặc lát gạch để hàng ngày tiện cho việc rửa và làm vệ sinh. Diện tích sân chơi phải gấp 2 - 3 lần diện tích chuồng nuôi. Máng ăn để trong chuồng nuôi, máng uống để ngoài sân chơi. Mùa hè phải có bóng râm hoặc che nắng cho máng uống. Hàng ngày sân chơi phải được rửa sạch sẽ đặc biệt đối với vịt ngan sinh sản khi giao phối trên khô nếu sân chơi không sạch sẽ thì làm nhiễm trùng gai giao cấu của con đực.
c. Phương thức nuôi vịt, ngan nhốt hoàn toàn trong chuồng
Là phương thức nuôi thâm canh nuôi trên nền hoặc nuôi trên sàn.
Yêu cầu:
- Chuồng phải có độ thông thoáng tốt để không làm xấu đi tiểu khí hậu chuồng nuôi. Các ô chuồng không nên làm quá rộng, mỗi ô nuôi 150-200 con, tùy theo từng loại vịt.
- Những vị trí đặt máng uống cũng phải thoát nước nhanh vì vịt uống hay vẩy nước.
- Có hố chứa nước thải khi vệ sinh chuồng trại sau đó được xử lý bằng các chất sát trùng trước khi thải ra ngoài môi trường.
- Trước cổng trại, các ô chuồng phải có bể hoặc hố sát trùng.

2. Các phương thức nuôi nhốt vịt có nước bơi lội

Không thả vịt tự do ra ao hồ, cũng không nuôi nhốt vịt trên sông suối sẽ gây ô nhiễm môi trường và không an toàn dịch bệnh. Chỉ nên quây nhốt vịt trên ao hoặc quây nhốt vịt - ngan trong ruộng lúa ở khu vực cố định, không thả chạy đồng tự do. Như vậy đòi hỏi phải giúp người chăn nuôi nâng cao hiểu biết trên cơ sở phát triển những kinh nghiệm của chính họ, có điều kiện rèn luyện những kỹ năng cần thiết để có thể tự nghiên cứu giải đáp những thắc mắc và giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quá trình sản xuất trên cơ sở bảo vệ môi trường, cân bằng hệ sinh thái và bảo vệ sức khỏe con người.
a. Phương thức nuôi vịt nhốt trên ao kết hợp nuôi cá
Có thể làm chuồng nền trên bờ ao hoặc làm chuồng sàn trên mặt ao. Với phương thức chăn nuôi kết hợp này:
- Nguồn phân của vịt thải ra và thức ăn thừa của vịt là thức ăn cho cá.
- Vịt bơi lội làm tăng lượng ôxy trong nước giúp cho cá hô hấp tốt hơn.
- Vịt ăn cá nhỏ cho nên không thả vịt vào ao cá giống.
- Vịt mò có thể làm sạt lở bờ ao do đó bờ ao được kè bằng bê tông hoặc phải ngăn bờ bằng phên hoặc lưới cách bờ khoảng 1m.
- Vịt có thể làm ảnh hưởng đến môi trường nước do đó phải có diện tích mặt nước chăn thả phù hợp, mỗi con vịt cần 4 - 5 m2 mặt nước ao hồ.
- Nước ao nuôi vịt phải được dễ dàng thay tháo theo định kỳ.
- Thay nước, xử lý ao nuôi sau mỗi lần thu hoạch cá. Nước thải ra ngoài phải được khử trùng bằng các loại hóa chất.
b. Phương thức nuôi nhốt trong ruộng lúa có kiểm soát
- Phải nhốt vịt cố định ở những khu ruộng lúa không được thả tự do.
- Nguồn phân của vịt thải ra là thức ăn cho lúa.
- Đối với ruộng lúa vịt khi mò có tác dụng sục bùn và làm sạch cỏ cho lúa.
- Vịt ăn sâu bọ côn trùng, còn có tác dụng đuổi chuột.
- Vịt có thể làm hỏng lúa mới cấy hoặc ăn thóc do đó không nên thả vịt vào ruộng lúa trước khi lúa chưa bén rễ hoặc khi lúa đã trổ bông.
- Diện tích ruộng lúa phải đảm bảo 8 - 10 m2/1con.

DKT Biotech-VET- Kỹ thuật chăn nuôi nhốt vịt an toàn, hiệu quả

Trước tình hình dịch cúm gia cầm đang diễn biến phức tạp, cần đổi mới chăn nuôi thủy cầm nhằm kiểm soát an toàn dịch bệnh. Chăn nuôi mang tính bền vững và đảm bảo vệ sinh môi trường là rất cần thiết, với mục tiêu trên chăn nuôi vịt không nên nuôi thả ở sông suối và thả tự do ngoài đồng, cần phải thực hiện các biện pháp chăn nuôi thủy cầm an toàn sinh học:
Yêu cầu cụ thể về kỹ thuật đối với từng phương thức nuôi

1. Phương thức nuôi nhốt vịt trên cạn
Các phương thức nuôi vịt nhốt trên khô hoàn toàn không cần nước bơi lội, chỉ cần nước uống đảm bảo chủ động cho việc kiểm soát dịch bệnh.
a. Phương thức nuôi vịt trong vườn cây.
Có thể nuôi nhốt vịt được ở cả trên những vườn cây ăn quả và cây lâu năm. Khi nuôi vịt nhốt trên vườn cây vừa đảm bảo cho cỏ đỡ mọc, đồng thời nguồn phân của vịt thải ra sẽ đảm bảo cung cấp một nguồn dinh dưỡng cho cây, cây cũng tạo bóng mát cho vịt khi trời nóng bức. Khi nuôi trong vườn cây phải lưu ý:
+ Phải có chuồng để che nắng, mưa cho vịt.
+ Không nuôi vịt nhốt trong vườn cây thân mềm vì nó sẽ làm hỏng cây.
+ Phải có rào chắn để quây vịt ngan trong một khu vực, vườn cây phải có độ dốc thích hợp để không bị đọng nước khi trời mưa làm mất vệ sinh. Vườn cây cũng không được dốc quá làm khó khăn cho việc đi lại của vịt và đặc biệt đối với vịt đẻ sẽ khó khăn cho việc giao phối.
+ Vườn cây phải có độ cao của cây phù hợp: Cây có độ cao trên 1m, nếu cây thấp quá vịt sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây đặc biệt là làm hỏng chồi và lá cây.


b. Phương thức nuôi vịt nhốt trong chuồng có sân chơi
Khi nuôi có sân chơi phải láng xi măng cát hoặc lát gạch để hàng ngày tiện cho việc rửa và làm vệ sinh. Diện tích sân chơi phải gấp 2 - 3 lần diện tích chuồng nuôi. Máng ăn để trong chuồng nuôi, máng uống để ngoài sân chơi. Mùa hè phải có bóng râm hoặc che nắng cho máng uống. Hàng ngày sân chơi phải được rửa sạch sẽ đặc biệt đối với vịt ngan sinh sản khi giao phối trên khô nếu sân chơi không sạch sẽ thì làm nhiễm trùng gai giao cấu của con đực.
c. Phương thức nuôi vịt, ngan nhốt hoàn toàn trong chuồng
Là phương thức nuôi thâm canh nuôi trên nền hoặc nuôi trên sàn.
Yêu cầu:
- Chuồng phải có độ thông thoáng tốt để không làm xấu đi tiểu khí hậu chuồng nuôi. Các ô chuồng không nên làm quá rộng, mỗi ô nuôi 150-200 con, tùy theo từng loại vịt.
- Những vị trí đặt máng uống cũng phải thoát nước nhanh vì vịt uống hay vẩy nước.
- Có hố chứa nước thải khi vệ sinh chuồng trại sau đó được xử lý bằng các chất sát trùng trước khi thải ra ngoài môi trường.
- Trước cổng trại, các ô chuồng phải có bể hoặc hố sát trùng.

2. Các phương thức nuôi nhốt vịt có nước bơi lội

Không thả vịt tự do ra ao hồ, cũng không nuôi nhốt vịt trên sông suối sẽ gây ô nhiễm môi trường và không an toàn dịch bệnh. Chỉ nên quây nhốt vịt trên ao hoặc quây nhốt vịt - ngan trong ruộng lúa ở khu vực cố định, không thả chạy đồng tự do. Như vậy đòi hỏi phải giúp người chăn nuôi nâng cao hiểu biết trên cơ sở phát triển những kinh nghiệm của chính họ, có điều kiện rèn luyện những kỹ năng cần thiết để có thể tự nghiên cứu giải đáp những thắc mắc và giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quá trình sản xuất trên cơ sở bảo vệ môi trường, cân bằng hệ sinh thái và bảo vệ sức khỏe con người.
a. Phương thức nuôi vịt nhốt trên ao kết hợp nuôi cá
Có thể làm chuồng nền trên bờ ao hoặc làm chuồng sàn trên mặt ao. Với phương thức chăn nuôi kết hợp này:
- Nguồn phân của vịt thải ra và thức ăn thừa của vịt là thức ăn cho cá.
- Vịt bơi lội làm tăng lượng ôxy trong nước giúp cho cá hô hấp tốt hơn.
- Vịt ăn cá nhỏ cho nên không thả vịt vào ao cá giống.
- Vịt mò có thể làm sạt lở bờ ao do đó bờ ao được kè bằng bê tông hoặc phải ngăn bờ bằng phên hoặc lưới cách bờ khoảng 1m.
- Vịt có thể làm ảnh hưởng đến môi trường nước do đó phải có diện tích mặt nước chăn thả phù hợp, mỗi con vịt cần 4 - 5 m2 mặt nước ao hồ.
- Nước ao nuôi vịt phải được dễ dàng thay tháo theo định kỳ.
- Thay nước, xử lý ao nuôi sau mỗi lần thu hoạch cá. Nước thải ra ngoài phải được khử trùng bằng các loại hóa chất.
b. Phương thức nuôi nhốt trong ruộng lúa có kiểm soát
- Phải nhốt vịt cố định ở những khu ruộng lúa không được thả tự do.
- Nguồn phân của vịt thải ra là thức ăn cho lúa.
- Đối với ruộng lúa vịt khi mò có tác dụng sục bùn và làm sạch cỏ cho lúa.
- Vịt ăn sâu bọ côn trùng, còn có tác dụng đuổi chuột.
- Vịt có thể làm hỏng lúa mới cấy hoặc ăn thóc do đó không nên thả vịt vào ruộng lúa trước khi lúa chưa bén rễ hoặc khi lúa đã trổ bông.
- Diện tích ruộng lúa phải đảm bảo 8 - 10 m2/1con.
Đọc thêm
Có 2 lợi ích lớn của việc chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp đó là sức khỏe cho đàn gia cầm và hiệu quả ấp nở.
Những con gà con khỏe mạnh chính là khởi đầu cho một đàn gà khỏe mạnh sau này, vì vậy ấp nở là mục tiêu tự nhiên cho việc phòng ngừa bệnh.

Đối với gia cầm, cơ hội sớm nhất giúp gia cầm chống lại bệnh là khi chúng vẫn còn trong trứng. Từ các ý tưởng mới mẻ này đã hướng các nhà khoa học phát triển một loại vắc-xin mới và thiết bị kèm theo, vắc-xin này có thể tạo miễn dịch trong quá trình phát triển của phôi. Và từ đó đến nay, kỹ thuật này đã trở thành tiêu chuẩn cố định trong các nhà máy ấp trứng lớn trên khắp thế giới. Chỉ tính riêng ở Mỹ, hơn 90% gà thịt hiện nay được chích ngừa vắc-xin từ trứng ấp. Sự phát triển của kỹ thuật này ban đầu dựa vào việc chích ngừa vắc-xin phòng chống lại bệnh Marek ở gà, nhưng ngày nay thì số loại vắc-xin chích đã tăng lên. Kỹ thuật chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp đã có hơn 20 năm và bây giờ rất đáng tin cậy. Các nghiên cứu đã xác định được thời gian và vị trí tốt nhất để chích vắc-xin cho phôi trong trứng có được đáp ứng miễn dịch tốt nhất. Cả hai yếu tố này là rất quan trọng đối với việc sử dụng và kỹ thuật chích ngừa vắc-xin


Có 2 lợi ích lớn của việc tiêm vắc-xin vào trứng ấp đó là sức khỏe cho đàn gia cầm và hiệu quả ấp nở. Sự miễn dịch sớm có nghĩa là gia cầm con khỏe mạnh ngay từ khi chúng được nở ra, vận chuyển và sinh trưởng phát triển ở trang trại. Yếu tố này giúp gia cầm con không phải chích ngừa lúc 1 ngày tuổi và từ đó chúng được đưa ra khỏi lò ấp và đến người chăn nuôi hay trang trại một cách nhanh nhất.

Cùng với việc gia tăng sức khỏe cho đàn gia cầm thì việc chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp cũng làm tăng hiệu quả trong nhà ấp trứng. Thí dụ như với kỹ thuật từ Công ty Zeotis, có thể chích ngừa vắc-xin cho 1,5 triệu quả trứng ấp trong 1 tuần với một vài nhân viên hỗ trợ. Như vậy với kỹ thuật này không chỉ cho phép chích ngừa một lượng lớn trứng ấp mà còn giúp các nhà ấp tiết kiệm rất nhiều nhân lực so với cách chích ngừa vắc-xin truyền thống. Kể từ khi ra mắt, sản phẩm Embrex Inovoject m của Công ty Zeotis, các nhà ấp công suất nhỏ cũng có được ích từ kỹ thuật chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp, thậm chí họ không có đủ không gian để lắp đặt hệ thống đầy đủ.

Kỹ thuật bán tự động mới có thể được làm việc bởi 2 công nhân và có thể chích cho từ 12.000 - 20.000 quả trứng trong một giờ. Mặt khác, kỹ thuật chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp không hạn chế để chích ngừa vắc-xin mà nó còn có thể được ứng dụng vào các kỹ thuật khác, thí dụ như kỹ thuật soi trứng, giúp nhận biết các trứng ấp khả thi hay không khả thi, để từ đó mà quyết định chích hay không chích vắc-xin, từ đó giúp giảm giá thành.
Như vậy, kỹ thuật chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp có rất nhiều lợi ích cho các nhà máy ấp trứng gia cầm dù lớn hay nhỏ, điều này giúp họ gia tăng hiệu quả kinh doanh trong thị trường ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng.

DKT Biotech-VET- Tiêm vắc-xin cho trứng ấp có lợi ích gì?

Có 2 lợi ích lớn của việc chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp đó là sức khỏe cho đàn gia cầm và hiệu quả ấp nở.
Những con gà con khỏe mạnh chính là khởi đầu cho một đàn gà khỏe mạnh sau này, vì vậy ấp nở là mục tiêu tự nhiên cho việc phòng ngừa bệnh.

Đối với gia cầm, cơ hội sớm nhất giúp gia cầm chống lại bệnh là khi chúng vẫn còn trong trứng. Từ các ý tưởng mới mẻ này đã hướng các nhà khoa học phát triển một loại vắc-xin mới và thiết bị kèm theo, vắc-xin này có thể tạo miễn dịch trong quá trình phát triển của phôi. Và từ đó đến nay, kỹ thuật này đã trở thành tiêu chuẩn cố định trong các nhà máy ấp trứng lớn trên khắp thế giới. Chỉ tính riêng ở Mỹ, hơn 90% gà thịt hiện nay được chích ngừa vắc-xin từ trứng ấp. Sự phát triển của kỹ thuật này ban đầu dựa vào việc chích ngừa vắc-xin phòng chống lại bệnh Marek ở gà, nhưng ngày nay thì số loại vắc-xin chích đã tăng lên. Kỹ thuật chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp đã có hơn 20 năm và bây giờ rất đáng tin cậy. Các nghiên cứu đã xác định được thời gian và vị trí tốt nhất để chích vắc-xin cho phôi trong trứng có được đáp ứng miễn dịch tốt nhất. Cả hai yếu tố này là rất quan trọng đối với việc sử dụng và kỹ thuật chích ngừa vắc-xin


Có 2 lợi ích lớn của việc tiêm vắc-xin vào trứng ấp đó là sức khỏe cho đàn gia cầm và hiệu quả ấp nở. Sự miễn dịch sớm có nghĩa là gia cầm con khỏe mạnh ngay từ khi chúng được nở ra, vận chuyển và sinh trưởng phát triển ở trang trại. Yếu tố này giúp gia cầm con không phải chích ngừa lúc 1 ngày tuổi và từ đó chúng được đưa ra khỏi lò ấp và đến người chăn nuôi hay trang trại một cách nhanh nhất.

Cùng với việc gia tăng sức khỏe cho đàn gia cầm thì việc chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp cũng làm tăng hiệu quả trong nhà ấp trứng. Thí dụ như với kỹ thuật từ Công ty Zeotis, có thể chích ngừa vắc-xin cho 1,5 triệu quả trứng ấp trong 1 tuần với một vài nhân viên hỗ trợ. Như vậy với kỹ thuật này không chỉ cho phép chích ngừa một lượng lớn trứng ấp mà còn giúp các nhà ấp tiết kiệm rất nhiều nhân lực so với cách chích ngừa vắc-xin truyền thống. Kể từ khi ra mắt, sản phẩm Embrex Inovoject m của Công ty Zeotis, các nhà ấp công suất nhỏ cũng có được ích từ kỹ thuật chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp, thậm chí họ không có đủ không gian để lắp đặt hệ thống đầy đủ.

Kỹ thuật bán tự động mới có thể được làm việc bởi 2 công nhân và có thể chích cho từ 12.000 - 20.000 quả trứng trong một giờ. Mặt khác, kỹ thuật chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp không hạn chế để chích ngừa vắc-xin mà nó còn có thể được ứng dụng vào các kỹ thuật khác, thí dụ như kỹ thuật soi trứng, giúp nhận biết các trứng ấp khả thi hay không khả thi, để từ đó mà quyết định chích hay không chích vắc-xin, từ đó giúp giảm giá thành.
Như vậy, kỹ thuật chích ngừa vắc-xin vào trứng ấp có rất nhiều lợi ích cho các nhà máy ấp trứng gia cầm dù lớn hay nhỏ, điều này giúp họ gia tăng hiệu quả kinh doanh trong thị trường ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng.
Đọc thêm