Dưới đây là cách khắc phục khi nước ao nuôi đổi màu xanh:
Nguyên nhân
Do sự phát triển của tảo lam (Cyanophyta spp) hay còn gọi là vi khuẩn lam. Khi tảo lam phát triển quá nhanh gây hiện tượng “tảo nở hoa”, tảo tàn và nổi lên tạo thành lớp váng trên mặt ao, thường gọi là váng tảo. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do: Bón quá nhiều phân chuồng; cho cá ăn dư thừa thức ăn tạo thành mùn bã hữu cơ, làm ô nhiễm đáy ao; không thay nước kịp thời; tẩy dọn đáy ao khi bước vào vụ nuôi chưa đảm bảo.

Hậu quả 
Tảo lam phát triển mạnh, xuất hiện màng nhầy và kết thành từng mảng; ban đầu chỉ là một đám nhỏ, sau thời gian lan rộng phủ kín một phần diện tích bề mặt ao. Tảo kéo từng tảng theo chiều gió đến góc ao, sau đó tàn lụi rồi chìm xuống đáy ao và bị phân hủy. Quá trình phân hủy này sử dụng oxy và sinh ra các khí độc cho cá như NO2, NH3, H2S, xảy ra tình trạng ô nhiễm và thiếu oxy trong ao, gây ngạt cá, đặc biệt cá trắm cỏ (loài ưa môi trường nước sạch); cá giảm ăn sau đó bỏ ăn, thường xuyên nổi trên mặt nước, chậm phát triển, giảm sức đề kháng, từ đó dễ phát sinh bệnh, thậm chí cá bị chết. Ngoài ra, tảo còn tiết ra độc tố gây độc cho cá, đặc biệt là những loài cá ăn lọc như cá mè trắng, mè hoa.



Biện pháp khắc phục
Tảo lam có khả năng phục hồi quần thể tốt nên chúng khó bị tiêu diệt hơn các loài tảo khác. Người nuôi cần thực hiện đồng bộ biện pháp theo các bước sau:
Bước 1: Cắt nguồn dinh dưỡng đưa xuống ao, thay nước, tăng cường oxy
- Dừng ngay việc đưa phân xuống ao (như phân vịt, phân lợn, phân gà…) nếu đang sử dụng phân chuồng.
- Giảm 1/2 lượng thức ăn của cá. Cần theo dõi, tính toán lượng thức ăn để cá ăn đủ, không để dư thừa dưới đáy ao. Dừng cho cá ăn 1 ngày nếu cá có hiện tượng nổi đầu và không ăn. Nếu trong ao có nuôi cá trắm cỏ, hàng ngày phải vệ sinh vớt hết cỏ dư thừa lên khỏi ao để tránh thối nước.
- Thay nước từ 30 - 40% lượng nước trong ao, bằng cách rút nước đáy và bổ sung nước tầng mặt, thay 2 - 3 ngày liên tục tùy theo mức độ ô nhiễm của ao. Nước cấp vào phải đảm bảo từ nguồn nước sạch và được lọc qua túi lọc tại cống cấp, nhằm loại bỏ các mầm bệnh, cá tạp từ bên ngoài xâm nhập vào ao nuôi.
- Dùng quạt khí để tăng cường oxy và đẩy khí độc ra khỏi ao. Hoặc dùng vòi nước bơm từ trên cao xuống ao cũng có thể tăng cường oxy cho ao.
- Hằng ngày vệ sinh ao, vớt hết váng tảo đổ xa bờ ao.
Bước 2: Tiêu diệt tảo
- Dùng một trong những thuốc khử trùng có thể diệt tảo: BKC, BKA, đồng sunphat (CuSO4.5H2O), TCCA, vôi, dùng 1 - 2 lần, mỗi lần cách nhau 2 - 3 ngày; liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì. Lưu ý, dùng vôi có thể diệt tảo trong thời gian cấp bách nhưng sẽ tạo ra mùi tanh, bẩn, nhất là là những ngày nắng nóng không nên sử dụng vôi để tiêu diệt tảo.
Bước 3: Làm sạch môi trường nước và đáy ao
- Sau khi khử trùng 1 - 2 ngày, dùng chế phẩm sinh học có các thành phần: Bacillus, Lactopacillus, Nitrobacter, Nitrosomonas, có chứa những vi khuẩn có thể làm giảm hàm lượng Nitrit (NO2- ), chuyển Nitrit thành nitrat (NO3- ) giảm độc cho cá. Sau  7 - 10 ngày tiếp tục dùng chế phẩm sinh học EM, Zeo Bacillus, Yucca Zeo (liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì) để phân hủy các xác tảo, tránh hiện tượng tảo lại tái xuất hiện; đồng thời phân hủy các chất thải, mùn bã hữu cơ ở đáy ao, phân cá, thức ăn dư thừa trong nước, tạo vi sinh vật có lợi, ức chế vi sinh vật có hại. Nếu bùn ao dày, đen có thể dùng chế phẩm vi sinh Zeolite để hấp thụ các khí độc được tốt hơn.
Lưu ý: Nếu chỉ xử lý nước mà không cắt nguồn dinh dưỡng đưa xuống ao thì việc xử lý tảo sẽ không hiệu quả và tốn kém vì tảo có thể phát triển trở lại trong ao. 
Bước 4: Phòng bệnh cho cá
- Sau khi cá trải qua đợt bị nhiễm độc, thiếu ôxy, sức đề kháng của cá giảm. Vì vậy cần dùng một số thảo dược như bột tỏi, Ekavarine để phòng bệnh cho cá; đồng thời tăng sức đề kháng và chống sốc cho cá bằng Vitamin C, B1.
- Định kỳ mỗi tháng 2 lần sử dụng vôi bột với liều lượng từ 2 - 4 kg/100 m3nước, hòa đều vào chậu, tạt đều khắp ao để phòng bệnh cho cá.
- Quản lý môi trường nước: Cần phải duy trì độ trong cho nước ao trong suốt quá trình nuôi ở ngưỡng thích hợp từ 30 - 40 cm, nếu độ trong không đảm bảo phải kịp thời xử lý nước ao. Đối với ao nuôi cá thịt cần phải đảm bảo độ sâu từ 1,5 - 2m để ổn định môi trường nước, nếu dưới 1,5 m các yếu tố môi trường trong ao dễ biến động, có thể làm nước ao bị ô nhiễm trở lại.
Chú ý: Đối với ao cá đã bị nhiễm trùng do nước ô nhiễm, nếu chỉ tiêu diệt tảo và khử trùng nước thì chưa mang lại hiệu quả, mà cần phải kịp thời dùng kháng sinh chữa trị cho cá bị bệnh nhiễm khuẩn.

DKT Biotech-Vet-Cách xử lý nước ao nuôi nổi nhiều váng xanh

Dưới đây là cách khắc phục khi nước ao nuôi đổi màu xanh:
Nguyên nhân
Do sự phát triển của tảo lam (Cyanophyta spp) hay còn gọi là vi khuẩn lam. Khi tảo lam phát triển quá nhanh gây hiện tượng “tảo nở hoa”, tảo tàn và nổi lên tạo thành lớp váng trên mặt ao, thường gọi là váng tảo. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do: Bón quá nhiều phân chuồng; cho cá ăn dư thừa thức ăn tạo thành mùn bã hữu cơ, làm ô nhiễm đáy ao; không thay nước kịp thời; tẩy dọn đáy ao khi bước vào vụ nuôi chưa đảm bảo.

Hậu quả 
Tảo lam phát triển mạnh, xuất hiện màng nhầy và kết thành từng mảng; ban đầu chỉ là một đám nhỏ, sau thời gian lan rộng phủ kín một phần diện tích bề mặt ao. Tảo kéo từng tảng theo chiều gió đến góc ao, sau đó tàn lụi rồi chìm xuống đáy ao và bị phân hủy. Quá trình phân hủy này sử dụng oxy và sinh ra các khí độc cho cá như NO2, NH3, H2S, xảy ra tình trạng ô nhiễm và thiếu oxy trong ao, gây ngạt cá, đặc biệt cá trắm cỏ (loài ưa môi trường nước sạch); cá giảm ăn sau đó bỏ ăn, thường xuyên nổi trên mặt nước, chậm phát triển, giảm sức đề kháng, từ đó dễ phát sinh bệnh, thậm chí cá bị chết. Ngoài ra, tảo còn tiết ra độc tố gây độc cho cá, đặc biệt là những loài cá ăn lọc như cá mè trắng, mè hoa.



Biện pháp khắc phục
Tảo lam có khả năng phục hồi quần thể tốt nên chúng khó bị tiêu diệt hơn các loài tảo khác. Người nuôi cần thực hiện đồng bộ biện pháp theo các bước sau:
Bước 1: Cắt nguồn dinh dưỡng đưa xuống ao, thay nước, tăng cường oxy
- Dừng ngay việc đưa phân xuống ao (như phân vịt, phân lợn, phân gà…) nếu đang sử dụng phân chuồng.
- Giảm 1/2 lượng thức ăn của cá. Cần theo dõi, tính toán lượng thức ăn để cá ăn đủ, không để dư thừa dưới đáy ao. Dừng cho cá ăn 1 ngày nếu cá có hiện tượng nổi đầu và không ăn. Nếu trong ao có nuôi cá trắm cỏ, hàng ngày phải vệ sinh vớt hết cỏ dư thừa lên khỏi ao để tránh thối nước.
- Thay nước từ 30 - 40% lượng nước trong ao, bằng cách rút nước đáy và bổ sung nước tầng mặt, thay 2 - 3 ngày liên tục tùy theo mức độ ô nhiễm của ao. Nước cấp vào phải đảm bảo từ nguồn nước sạch và được lọc qua túi lọc tại cống cấp, nhằm loại bỏ các mầm bệnh, cá tạp từ bên ngoài xâm nhập vào ao nuôi.
- Dùng quạt khí để tăng cường oxy và đẩy khí độc ra khỏi ao. Hoặc dùng vòi nước bơm từ trên cao xuống ao cũng có thể tăng cường oxy cho ao.
- Hằng ngày vệ sinh ao, vớt hết váng tảo đổ xa bờ ao.
Bước 2: Tiêu diệt tảo
- Dùng một trong những thuốc khử trùng có thể diệt tảo: BKC, BKA, đồng sunphat (CuSO4.5H2O), TCCA, vôi, dùng 1 - 2 lần, mỗi lần cách nhau 2 - 3 ngày; liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì. Lưu ý, dùng vôi có thể diệt tảo trong thời gian cấp bách nhưng sẽ tạo ra mùi tanh, bẩn, nhất là là những ngày nắng nóng không nên sử dụng vôi để tiêu diệt tảo.
Bước 3: Làm sạch môi trường nước và đáy ao
- Sau khi khử trùng 1 - 2 ngày, dùng chế phẩm sinh học có các thành phần: Bacillus, Lactopacillus, Nitrobacter, Nitrosomonas, có chứa những vi khuẩn có thể làm giảm hàm lượng Nitrit (NO2- ), chuyển Nitrit thành nitrat (NO3- ) giảm độc cho cá. Sau  7 - 10 ngày tiếp tục dùng chế phẩm sinh học EM, Zeo Bacillus, Yucca Zeo (liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất ghi trên bao bì) để phân hủy các xác tảo, tránh hiện tượng tảo lại tái xuất hiện; đồng thời phân hủy các chất thải, mùn bã hữu cơ ở đáy ao, phân cá, thức ăn dư thừa trong nước, tạo vi sinh vật có lợi, ức chế vi sinh vật có hại. Nếu bùn ao dày, đen có thể dùng chế phẩm vi sinh Zeolite để hấp thụ các khí độc được tốt hơn.
Lưu ý: Nếu chỉ xử lý nước mà không cắt nguồn dinh dưỡng đưa xuống ao thì việc xử lý tảo sẽ không hiệu quả và tốn kém vì tảo có thể phát triển trở lại trong ao. 
Bước 4: Phòng bệnh cho cá
- Sau khi cá trải qua đợt bị nhiễm độc, thiếu ôxy, sức đề kháng của cá giảm. Vì vậy cần dùng một số thảo dược như bột tỏi, Ekavarine để phòng bệnh cho cá; đồng thời tăng sức đề kháng và chống sốc cho cá bằng Vitamin C, B1.
- Định kỳ mỗi tháng 2 lần sử dụng vôi bột với liều lượng từ 2 - 4 kg/100 m3nước, hòa đều vào chậu, tạt đều khắp ao để phòng bệnh cho cá.
- Quản lý môi trường nước: Cần phải duy trì độ trong cho nước ao trong suốt quá trình nuôi ở ngưỡng thích hợp từ 30 - 40 cm, nếu độ trong không đảm bảo phải kịp thời xử lý nước ao. Đối với ao nuôi cá thịt cần phải đảm bảo độ sâu từ 1,5 - 2m để ổn định môi trường nước, nếu dưới 1,5 m các yếu tố môi trường trong ao dễ biến động, có thể làm nước ao bị ô nhiễm trở lại.
Chú ý: Đối với ao cá đã bị nhiễm trùng do nước ô nhiễm, nếu chỉ tiêu diệt tảo và khử trùng nước thì chưa mang lại hiệu quả, mà cần phải kịp thời dùng kháng sinh chữa trị cho cá bị bệnh nhiễm khuẩn.
Đọc thêm
Do lợi nhuận từ nghề nuôi cá mang lại khá cao nên trong những năm gần đây số lượng ao, bè nuôi tăng lên một cách đáng kể và trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều hộ gia đình. Tuy nhiên, luôn có những bệnh tiềm ẩn, ảnh hưởng đến khả năng phát triển và chất lượng của đàn cá. BiotechViet sẽ hướng dẫn bà con cách nhận biết và phòng trị một số bệnh do giáp xác ký sinh ở cá nuôi.
Bệnh do trùng mỏ neo.
- Tác nhân gây bệnh:
Trùng gây bệnh có tên Lernaea, có dạng giống mỏ neo, cơ thể có chiều dài 8-16mm, giống như cái que, đầu có mấu 16mm, giống mỏ neo cắm sâu vào cơ thể cá.
- Triệu chứng:
Cá nhiễm bệnh kém ăn, gầy yếu, chung quanh các chỗ trùng bám viên và xuất huyết. Nơi trùng mỏ neo bám  là điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển.
- Tác hại và phân bố bệnh:
Bệnh gây tác hại lớn cho cá giống và cá hương.
Đối với cá lớn, trùng mỏ neo làm thành vết thương tạo điều kiện cho các tác nhân khác gây bệnh như: nấm, ký sinh trùng, vi khuẩn,... xâm nhập.
Trùng thường ký sinh ở da, mang, vây, mắt, ... trên các loài cá như: cá lóc bông, cá bống tượng, cá chép, cá mè, cá tai tượng...
- Phòng trị:
Kiểm tra cá trước khi thả nuôi, nếu phát hiện có trùng mỏ neo ký sinh dùng thuốc tím 10-25g/ m3tắm trong một giờ. Trị bệnh có thể dùng lá xoan liều lượng 0,3-0,5kg/ mnước.
Bệnh nấm thuỷ mi.
- Tác nhận gây bệnh
Do hai giống nấm là Saprolegnia và Achlya.
- Dấu hiệu bệnh lý.
Trên da cá xuất hiện những vùng trắng xám, có những sợi nấm nhỏ nhìn trong nước giống như sợi bông trên thân cá.
- Phân bố và lan truyền bệnh.
Các giai đoạn phát triển của các loài cá nước ngọt, baba, ếch... đều có thể nhiễm nấm khi nuôi với mật độ dày.
Nhiệt độ nước 18-25 độ C, thích hợp cho nấm phát triển.
- Chẩn đoán bệnh:
Nhìn bằng mắt thường có thể thấy các sợi nấm nhỏ như sợi bông, mềm, tua tủa.
Bệnh rận cá.
- Tác nhân gây bệnh:
Trùng thường gây thuộc giống Argulus, màu trắng ngà, có hình dạng giống con rệp nên còn gọi là rận cá hoặc bọ cá, bọ vè, nhận thấy dđược bằng mắt thường.
- Dấu hiệu bệnh:
Trùng ký sinh bám trên da cá hút máu cá đồng thời phá huỷ da, làm viêm loét tạo điều kiện cho các sinh vật khác tấn công.
- Phòng trị:
Áp dụng cách phòng trị giống trùng mỏ neo hoặc dùng thuốc tím ( KmnO4) với nồng độ 10 g/( m3) trong một giờ.

DKT Biotech-Vet- Bệnh do giáp xác ký sinh trên cá nuôi

Do lợi nhuận từ nghề nuôi cá mang lại khá cao nên trong những năm gần đây số lượng ao, bè nuôi tăng lên một cách đáng kể và trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều hộ gia đình. Tuy nhiên, luôn có những bệnh tiềm ẩn, ảnh hưởng đến khả năng phát triển và chất lượng của đàn cá. BiotechViet sẽ hướng dẫn bà con cách nhận biết và phòng trị một số bệnh do giáp xác ký sinh ở cá nuôi.
Bệnh do trùng mỏ neo.
- Tác nhân gây bệnh:
Trùng gây bệnh có tên Lernaea, có dạng giống mỏ neo, cơ thể có chiều dài 8-16mm, giống như cái que, đầu có mấu 16mm, giống mỏ neo cắm sâu vào cơ thể cá.
- Triệu chứng:
Cá nhiễm bệnh kém ăn, gầy yếu, chung quanh các chỗ trùng bám viên và xuất huyết. Nơi trùng mỏ neo bám  là điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển.
- Tác hại và phân bố bệnh:
Bệnh gây tác hại lớn cho cá giống và cá hương.
Đối với cá lớn, trùng mỏ neo làm thành vết thương tạo điều kiện cho các tác nhân khác gây bệnh như: nấm, ký sinh trùng, vi khuẩn,... xâm nhập.
Trùng thường ký sinh ở da, mang, vây, mắt, ... trên các loài cá như: cá lóc bông, cá bống tượng, cá chép, cá mè, cá tai tượng...
- Phòng trị:
Kiểm tra cá trước khi thả nuôi, nếu phát hiện có trùng mỏ neo ký sinh dùng thuốc tím 10-25g/ m3tắm trong một giờ. Trị bệnh có thể dùng lá xoan liều lượng 0,3-0,5kg/ mnước.
Bệnh nấm thuỷ mi.
- Tác nhận gây bệnh
Do hai giống nấm là Saprolegnia và Achlya.
- Dấu hiệu bệnh lý.
Trên da cá xuất hiện những vùng trắng xám, có những sợi nấm nhỏ nhìn trong nước giống như sợi bông trên thân cá.
- Phân bố và lan truyền bệnh.
Các giai đoạn phát triển của các loài cá nước ngọt, baba, ếch... đều có thể nhiễm nấm khi nuôi với mật độ dày.
Nhiệt độ nước 18-25 độ C, thích hợp cho nấm phát triển.
- Chẩn đoán bệnh:
Nhìn bằng mắt thường có thể thấy các sợi nấm nhỏ như sợi bông, mềm, tua tủa.
Bệnh rận cá.
- Tác nhân gây bệnh:
Trùng thường gây thuộc giống Argulus, màu trắng ngà, có hình dạng giống con rệp nên còn gọi là rận cá hoặc bọ cá, bọ vè, nhận thấy dđược bằng mắt thường.
- Dấu hiệu bệnh:
Trùng ký sinh bám trên da cá hút máu cá đồng thời phá huỷ da, làm viêm loét tạo điều kiện cho các sinh vật khác tấn công.
- Phòng trị:
Áp dụng cách phòng trị giống trùng mỏ neo hoặc dùng thuốc tím ( KmnO4) với nồng độ 10 g/( m3) trong một giờ.
Đọc thêm
Qua kinh nghiệm chăn nuôi, nhiều người cũng nhận biết được rằng gà tây cũng vưới phải một số bệnh như một số loại gia cầm khác, trong đó có nhiều bệnh truyền nhiễm như cầu trùng, dịch tả, bệnh toi, bệnh trái rạ.
Trong số những bệnh gà tây mắc phải, một số có thuốc chủng ngừa, một số chưa có thuốc đặc trị. Vì vậy cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh cho chúng là nên chăm sóc kỹ, nên giữ gìn khu vệ sinh thức ăn nước uống, nhất là làm vệ sinh khu vực chăn nuôi thật chu đáo sẽ giúp ta yên tâm phần nào.
Bệnh ở gà Tây thường tập trung vào lứa gà con dưới 3 tháng tuổi, vì vậy nếu không có biện pháp phòng ngừa và chữa trị thì tỷ lệ gà nuôi sống sẽ rất thấp. Lứa gà tây trên 3 tháng tuổi thường ít vướng bệnh nên sống khoẻ mạnh.
Dưới đây là một số bệnh và cách chữa bệnh nuôi gà Tây thường mắc phải:

  • Bệnh trái (bệnh đậu)
Bệnh trái gà do một loại cực vị trùng gây ra, xâm nhập vào da, vào niêm mắt, mũi, miệng, đi xuống ruột. Gà tây và bổ cây thường bị bệnh trái gà này.
Cực vi trùng này xâm nhập vào cơ thể gà qua những vết trầy trụa ngoài da, như do muỗi cắn, hay qua nước uống và thức ăn nhiễm trùng. Đây là bệnh hay lây, gà tây sống mạnh nếu sống chung chuồng với gà bệnh sẽ bị lây bệnh từ 2 đến 12 ngày.
Ở nước ta, gà tây con thường bị bệnh trái mà chết rất nhiều, có khi chết trọn bầy. Thời gian gà tây con bị bệnh trái là gà vài tuần tuổi đến tháng tuổi. Khi bị bệnh này, ở mí mắt, niêm mạc mũi, miệng (cả trong miệng gà) chỗ da mông ở cánh, ở khuỷu cánh và bàn chân gà nổi lên nhiều mụt to bằng hột bắp. Những mụt này sẽ có mủ và gây tác hại cho sức khoẻ của gà bệnh như bị nghẹt mũi, bị mù mắt, không ăn được do miệng nổi nhiều mụt, và chân đau nhức nên gà mất sức dần và chết.
Để phòng ngừa bệnh trái, khi gà tây con mới nở được 3 ngày ta nên trồng trái để ngừa bệnh (trễ nhất là 7 ngày). Mùa mưa bệnh trái phát mạnh hơn mùa nắng, vì vậy trong mùa mưa chủng bệnh này sớm hơn mới tốt.
Trị bệnh bằng cách rửa các mụt lở ở mắt và mũi bằng nước chín rồi dùng thuốc sulfate de zince vào mắt, và thuốc nhỏ mũi vào mũi. Rơ miệng bằng nước chanh nguyên chất, ngày vài ba lần, rồi xức thuốc xanh vào. Những mụt ở cánh, ở chân cũng dùng nước chanh chua hay nước khế chua mà rửa, sau đó xức thuốc xanh (Collyre Bleu).
Nên cách ly những gà bị bệnh khỏi bầy gà mạnh khi phát giác bệnh trái chớm phát, để khỏi bị lây lan.
  • Bệnh cầu trùng
Bệnh cầu trùng chỉ hại các loài thú tơ, trong đó có gà tây con. Bệnh cầu trùng do ký sinh trùng Coccidie ở trong ruột, tàn phá tế bào niêm ruột, khiến ruột mỏng sinh ra xuất huyết vì đứt mạch máu.
Gà tây bị bệnh này đi tiêu chảy phân vàng, có khi nâu vì lẫn máu. Khi bệnh trở nặng gà ỉa ra máu tưởi.
Nguyên do gà tây c on bị bệnh cầu trùng là do ăn phải phân của gà bệnh, có trứng cầu trùng Cocidie lẫn lộn trong đó. Loại trứng này sống lâu được trong đất ẩm ướt, dính vào cỏ, và trong những vùng nước tù đọng.
Gà tây con bị bệnh cầu trùng có dáng cù rụ, lông xù lên, uống nhiều nước, phân có bọt, nhiều khi lẫn máu. Gà bệnh chết rất nhanh từ 1 đến 5 ngày.
Ngừa bệnh bằng cách không nên nuôi gà tây con chung với gà lớn (Gà tây lớn cũng mắc bệnh cầu trùng nhưng chúng không phát bệnh và chết, tai hại là trong phân gà tây lớn có chứa trứng cầu trùng khiến gà tây con ăn phải nên bị bệnh). Nên vệ sinh chuồng nuôi cho sạch sẽ, cho gà tây con ở nơi ấm áp, tránh nuôi nơi ẩm thấp, lạnh lẽo.
Ngừa bệnh bằng thuốc Anti-coccid với liều lượng 20g pha vào 20 lít nước cho 100kg gà uống trong 1 ngày. Gà bệnh nặng nên tăng liều lượng thuốc lên gấp 2.
  • Bệnh đốt đỏ
Bệnh “đốt đỏ” của gà tây (Crise du rouge des dindonneaux) là bệnh đặc biệt của giống gà tây, các loại gia cầm khác không mắc phải.
Bệnh này chỉ có gà tây khoảng 2 tháng tuổi mới mắc phải, nhất là đối với những gà đang bị suy yếu sức lực. Ở vào tuổi này gà tây bắt đầy mọc mồng tích, trong thời gian mọc mồng tích này gày tây bị yếu sức rất nhiều do mồng tích mọc. Gà nào có sức đề kháng mạnh thì bệnh lướt qua, con nào yếu sức dễ bị chết.
Bệnh này chưa có thuốc đặc trị. Chỉ có cách phòng ngừa là trong hai tháng tuổi đầu cố nuôi gà con cho mập mạnh để khi mọc mồng tích chúng tránh được suy nhược quá mức để khỏi chết.
Ngoài những bệnh vừa kể, gà tây con còn bị bệnh hen, bệnh New Castle (tiêu phân xanh, đầu ngoẹo một bên), bệnh rận mạt và các bệnh thiếu vitamin.

DKT Biotech-Vet- Những bệnh gà Tây thường mắc

Qua kinh nghiệm chăn nuôi, nhiều người cũng nhận biết được rằng gà tây cũng vưới phải một số bệnh như một số loại gia cầm khác, trong đó có nhiều bệnh truyền nhiễm như cầu trùng, dịch tả, bệnh toi, bệnh trái rạ.
Trong số những bệnh gà tây mắc phải, một số có thuốc chủng ngừa, một số chưa có thuốc đặc trị. Vì vậy cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh cho chúng là nên chăm sóc kỹ, nên giữ gìn khu vệ sinh thức ăn nước uống, nhất là làm vệ sinh khu vực chăn nuôi thật chu đáo sẽ giúp ta yên tâm phần nào.
Bệnh ở gà Tây thường tập trung vào lứa gà con dưới 3 tháng tuổi, vì vậy nếu không có biện pháp phòng ngừa và chữa trị thì tỷ lệ gà nuôi sống sẽ rất thấp. Lứa gà tây trên 3 tháng tuổi thường ít vướng bệnh nên sống khoẻ mạnh.
Dưới đây là một số bệnh và cách chữa bệnh nuôi gà Tây thường mắc phải:

  • Bệnh trái (bệnh đậu)
Bệnh trái gà do một loại cực vị trùng gây ra, xâm nhập vào da, vào niêm mắt, mũi, miệng, đi xuống ruột. Gà tây và bổ cây thường bị bệnh trái gà này.
Cực vi trùng này xâm nhập vào cơ thể gà qua những vết trầy trụa ngoài da, như do muỗi cắn, hay qua nước uống và thức ăn nhiễm trùng. Đây là bệnh hay lây, gà tây sống mạnh nếu sống chung chuồng với gà bệnh sẽ bị lây bệnh từ 2 đến 12 ngày.
Ở nước ta, gà tây con thường bị bệnh trái mà chết rất nhiều, có khi chết trọn bầy. Thời gian gà tây con bị bệnh trái là gà vài tuần tuổi đến tháng tuổi. Khi bị bệnh này, ở mí mắt, niêm mạc mũi, miệng (cả trong miệng gà) chỗ da mông ở cánh, ở khuỷu cánh và bàn chân gà nổi lên nhiều mụt to bằng hột bắp. Những mụt này sẽ có mủ và gây tác hại cho sức khoẻ của gà bệnh như bị nghẹt mũi, bị mù mắt, không ăn được do miệng nổi nhiều mụt, và chân đau nhức nên gà mất sức dần và chết.
Để phòng ngừa bệnh trái, khi gà tây con mới nở được 3 ngày ta nên trồng trái để ngừa bệnh (trễ nhất là 7 ngày). Mùa mưa bệnh trái phát mạnh hơn mùa nắng, vì vậy trong mùa mưa chủng bệnh này sớm hơn mới tốt.
Trị bệnh bằng cách rửa các mụt lở ở mắt và mũi bằng nước chín rồi dùng thuốc sulfate de zince vào mắt, và thuốc nhỏ mũi vào mũi. Rơ miệng bằng nước chanh nguyên chất, ngày vài ba lần, rồi xức thuốc xanh vào. Những mụt ở cánh, ở chân cũng dùng nước chanh chua hay nước khế chua mà rửa, sau đó xức thuốc xanh (Collyre Bleu).
Nên cách ly những gà bị bệnh khỏi bầy gà mạnh khi phát giác bệnh trái chớm phát, để khỏi bị lây lan.
  • Bệnh cầu trùng
Bệnh cầu trùng chỉ hại các loài thú tơ, trong đó có gà tây con. Bệnh cầu trùng do ký sinh trùng Coccidie ở trong ruột, tàn phá tế bào niêm ruột, khiến ruột mỏng sinh ra xuất huyết vì đứt mạch máu.
Gà tây bị bệnh này đi tiêu chảy phân vàng, có khi nâu vì lẫn máu. Khi bệnh trở nặng gà ỉa ra máu tưởi.
Nguyên do gà tây c on bị bệnh cầu trùng là do ăn phải phân của gà bệnh, có trứng cầu trùng Cocidie lẫn lộn trong đó. Loại trứng này sống lâu được trong đất ẩm ướt, dính vào cỏ, và trong những vùng nước tù đọng.
Gà tây con bị bệnh cầu trùng có dáng cù rụ, lông xù lên, uống nhiều nước, phân có bọt, nhiều khi lẫn máu. Gà bệnh chết rất nhanh từ 1 đến 5 ngày.
Ngừa bệnh bằng cách không nên nuôi gà tây con chung với gà lớn (Gà tây lớn cũng mắc bệnh cầu trùng nhưng chúng không phát bệnh và chết, tai hại là trong phân gà tây lớn có chứa trứng cầu trùng khiến gà tây con ăn phải nên bị bệnh). Nên vệ sinh chuồng nuôi cho sạch sẽ, cho gà tây con ở nơi ấm áp, tránh nuôi nơi ẩm thấp, lạnh lẽo.
Ngừa bệnh bằng thuốc Anti-coccid với liều lượng 20g pha vào 20 lít nước cho 100kg gà uống trong 1 ngày. Gà bệnh nặng nên tăng liều lượng thuốc lên gấp 2.
  • Bệnh đốt đỏ
Bệnh “đốt đỏ” của gà tây (Crise du rouge des dindonneaux) là bệnh đặc biệt của giống gà tây, các loại gia cầm khác không mắc phải.
Bệnh này chỉ có gà tây khoảng 2 tháng tuổi mới mắc phải, nhất là đối với những gà đang bị suy yếu sức lực. Ở vào tuổi này gà tây bắt đầy mọc mồng tích, trong thời gian mọc mồng tích này gày tây bị yếu sức rất nhiều do mồng tích mọc. Gà nào có sức đề kháng mạnh thì bệnh lướt qua, con nào yếu sức dễ bị chết.
Bệnh này chưa có thuốc đặc trị. Chỉ có cách phòng ngừa là trong hai tháng tuổi đầu cố nuôi gà con cho mập mạnh để khi mọc mồng tích chúng tránh được suy nhược quá mức để khỏi chết.
Ngoài những bệnh vừa kể, gà tây con còn bị bệnh hen, bệnh New Castle (tiêu phân xanh, đầu ngoẹo một bên), bệnh rận mạt và các bệnh thiếu vitamin.
Đọc thêm
Nhiều báo cáo khoa học đã cho biết: gà con ở tuần tuổi đầu tiên sau khi nở thiếu đáp ứng miễn dịch một cách đầy đủ và do vậy nhậy cảm cao với các bệnh truyền nhiễm. Cần phải biết rằng sự phát triển hệ thống miễn dịch ở gà broiler và khả năng đáp ứng cao đối với những kháng nguyên khác nhau (vi khuẩn và các chất độc hại) rất quan trọng trong việc bảo vệ gà khi còn non.

Hệ thống miễn dịch của gia cầm

Đây là một hệ thống phức tạp, hoàn thiện cả về chức năng và cấu trúc, phân bố khắp cơ thể, bao gồm cơ quan, những yếu tố tế bào và những yếu tố dịch thể.
Cũng như ở động vật có vú, năng lực miễn dịch của gia cầm phát triển thông qua hệ thống lympho. Cơ quan của hệ miễn dịch được chia thành cơ quan lympho sơ cấp và thứ cấp.
Túi Fabricius (viết tắt là túi F) và tuyến ức là cơ quan lympho sơ cấp trong đó các tiền lympho bào phát triển thành các lympho bào miễn dịch.
Những tổ chức lympho thứ cấp là lách, tủy xương, tuyến Harderian, tuyến quả thông (pineal gland) và các mô lympho gắn với bề mặt niêm mạc như niêm mạc khí quản, niêm mạc ruột và những cụm biệt hóa của những tế bào lympho thuộc các cơ quan khác nhau.
Sự phát triển của hệ thống miễn dịch xẩy ra chủ yếu trong quá trình phát triển của phôi. Các cơ quan miễn dịch và các globulin miễn dịch thành thục trong các cơ quan miễn dịch bị chi phối bởi nhiều yếu tố, ngoài yếu tố di truyền, yếu tố thức ăn là một yếu tố quan trọng.

Điều gì cản trở sự gà con mới nở tiếp xúc với thức ăn?

Trong thực tế, một số gà con nở ra phải sau 36-48 giờ mới được tiếp xúc với thức ăn và nước uống. Đây là nguyên nhân làm cho gà yếu và chậm tăng trưởng. Như vậy từ khi nở tới khi bắt đầu nhận các chất dinh dưỡng của thức ăn là một thời kỳ khủng hoảng trong quá trình phát triển của gà.
Trong chăn nuôi gà thương phẩm, quá trình nở của gà thường kéo dài 2 ngày và gà con chỉ được chuyển khỏi máy ấp khi đại đa số chúng đã sạch vỏ. Sau khi đưa ra khỏi máy ấp một số công việc khác còn tiếp tục như chọn đực cái, vaccine, đóng hộp trước khi vận chuyển đi các nơi.

Nguồn dinh dưỡng cho gà mới nở

Lòng đỏ lưu thường chỉ dùng được trong khoảng 4 ngày sau khi nở, nhưng những nghiên cứu gần đây xác định rằng lòng đỏ lưu sẽ được dùng nhanh hơn nhiều ở những gà được tiếp xúc sớm với thức ăn sau khi nở so với những gà bị nhịn đói 48 giờ (khối lượng lòng đỏ lưu giảm 26% nếu được tiếp xúc với thức ăn 24 giờ sau khi nở, nhưng giảm 46% nếu được tiếp xúc với thức ăn 48 giờ sau khi nở). Nguyên nhân là thức ăn có trong đường ruột đã thúc đẩy sự di chuyển lòng đỏ tới tá tràng.
Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển sớm của hệ thống miễn dịch ở gà con mới nở, một trong yếu tố quan trọng đó là thức ăn. Ở gà con, lòng đỏ là nguồn cung cấp năng lượng và protein ngay khi mới nở. Sự hấp thu các chất dinh dưỡng và kháng thể mẹ từ túi lòng đỏ là yêu cầu quan trọng để sống sót trong giai đoạn đầu của đời sống.

Nuôi dưỡng sớm có lợi cho hệ miễn dịch
Như đã nói, thời gian từ khi nở tới khi nhận được thức ăn là thời kỳ khủng hoảng của gà con mới nở.
Khoảng 2-5% gà nở ra không sống sót trong thời kỳ này do dự trữ thức ăn trong cơ thể bị hạn chế, một số con khác có biểu hiện còi cọc, hiệu quả lợi dụng thức ăn kém, nghèo sản lượng thịt và kém sức đề kháng với bệnh.
Những hạn chế này có thể giảm nhẹ bằng cách áp dụng kỹ thuật “nuôi dưỡng sớm”, đó là kỹ thuật cung cấp chất dinh dưỡng cho gà trong nhà ấp ngay sau khi nở.
Cung cấp chất dinh dưỡng cân đối và cho tiếp xúc với thức ăn ngay sau khi nở có thể thúc đẩy sự sử dụng lòng đỏ, nâng cao sự phát triển của ống tiêu hóa, kích thích tụy tiết enzyme. Những yếu tố này giúp đồng hóa tốt chất dinh dưỡng, đóng góp cho tăng trưởng của cơ và cải thiện thành tích sản xuất của gà từ mới nở đến khi đạt thể trọng thương mại.
Thức ăn cũng cung cấp chất dinh dưỡng cho sự tăng trưởng và phát triển của cả cơ quan lympho sơ cấp và thứ cấp.
Hệ thống miễn dịch của gà mới nở, đặc biệt là hệ miễn dịch niêm mạc, cần thức ăn để phát triển nhanh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chậm tiếp xúc với thức ăn không chỉ cản trở đến sự phát triển của ruột mà còn cản trở sự phát triển của mô lympho gắn với ruột, với túi F…
Tiếp xúc sớm với thức ăn cũng giúp gà con có đáp ứng nhanh với việc chích ngừa vacxin. Một trong những kết quả nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã xác định rằng: titre kháng thể (lúc gà 21 ngày) đáp ứng với vaccine RD (kháng sinh phòng bệnh đường hô hấp) khi gà 5 ngày tuổi cao hơn rõ rệt ở những gà được ăn ngay so với những gà bị nhịn đói 24 giờ hay 48 giờ.

Kết luận
Thời gian từ khi nở tới khi được tiếp xúc với thức ăn là một thời kỳ khủng hoảng trong sự phát triển của gia cầm mới nở. Lòng đỏ lưu chỉ đủ để gà sống trong 3-4 ngày sau khi nở, nhưng không đủ chất dinh dưỡng cho tăng trưởng và phát triển tối ưu cơ quan miễn dịch và năng lực miễn dịch.
Dinh dưỡng cân đối và tạo cơ hội cho gà tiếp xúc sớm với thức ăn ngay sau khi nở có thể thúc đẩy sự lợi dụng lòng đỏ và kích thích sự phát triển của hệ miễn dịch.
Như vậy, dinh dưỡng sớm sẽ thu được những gà con khỏe mạnh ngay từ đầu đời, từ đó hạn chế được nhiều thiệt hại cho nhà sản xuất trong suốt cả quá trình chăn nuôi đàn gà.

DKT Biotech- VET- Gà con mới nở nên được tiếp xúc ngay với thức ăn

Nhiều báo cáo khoa học đã cho biết: gà con ở tuần tuổi đầu tiên sau khi nở thiếu đáp ứng miễn dịch một cách đầy đủ và do vậy nhậy cảm cao với các bệnh truyền nhiễm. Cần phải biết rằng sự phát triển hệ thống miễn dịch ở gà broiler và khả năng đáp ứng cao đối với những kháng nguyên khác nhau (vi khuẩn và các chất độc hại) rất quan trọng trong việc bảo vệ gà khi còn non.

Hệ thống miễn dịch của gia cầm

Đây là một hệ thống phức tạp, hoàn thiện cả về chức năng và cấu trúc, phân bố khắp cơ thể, bao gồm cơ quan, những yếu tố tế bào và những yếu tố dịch thể.
Cũng như ở động vật có vú, năng lực miễn dịch của gia cầm phát triển thông qua hệ thống lympho. Cơ quan của hệ miễn dịch được chia thành cơ quan lympho sơ cấp và thứ cấp.
Túi Fabricius (viết tắt là túi F) và tuyến ức là cơ quan lympho sơ cấp trong đó các tiền lympho bào phát triển thành các lympho bào miễn dịch.
Những tổ chức lympho thứ cấp là lách, tủy xương, tuyến Harderian, tuyến quả thông (pineal gland) và các mô lympho gắn với bề mặt niêm mạc như niêm mạc khí quản, niêm mạc ruột và những cụm biệt hóa của những tế bào lympho thuộc các cơ quan khác nhau.
Sự phát triển của hệ thống miễn dịch xẩy ra chủ yếu trong quá trình phát triển của phôi. Các cơ quan miễn dịch và các globulin miễn dịch thành thục trong các cơ quan miễn dịch bị chi phối bởi nhiều yếu tố, ngoài yếu tố di truyền, yếu tố thức ăn là một yếu tố quan trọng.

Điều gì cản trở sự gà con mới nở tiếp xúc với thức ăn?

Trong thực tế, một số gà con nở ra phải sau 36-48 giờ mới được tiếp xúc với thức ăn và nước uống. Đây là nguyên nhân làm cho gà yếu và chậm tăng trưởng. Như vậy từ khi nở tới khi bắt đầu nhận các chất dinh dưỡng của thức ăn là một thời kỳ khủng hoảng trong quá trình phát triển của gà.
Trong chăn nuôi gà thương phẩm, quá trình nở của gà thường kéo dài 2 ngày và gà con chỉ được chuyển khỏi máy ấp khi đại đa số chúng đã sạch vỏ. Sau khi đưa ra khỏi máy ấp một số công việc khác còn tiếp tục như chọn đực cái, vaccine, đóng hộp trước khi vận chuyển đi các nơi.

Nguồn dinh dưỡng cho gà mới nở

Lòng đỏ lưu thường chỉ dùng được trong khoảng 4 ngày sau khi nở, nhưng những nghiên cứu gần đây xác định rằng lòng đỏ lưu sẽ được dùng nhanh hơn nhiều ở những gà được tiếp xúc sớm với thức ăn sau khi nở so với những gà bị nhịn đói 48 giờ (khối lượng lòng đỏ lưu giảm 26% nếu được tiếp xúc với thức ăn 24 giờ sau khi nở, nhưng giảm 46% nếu được tiếp xúc với thức ăn 48 giờ sau khi nở). Nguyên nhân là thức ăn có trong đường ruột đã thúc đẩy sự di chuyển lòng đỏ tới tá tràng.
Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển sớm của hệ thống miễn dịch ở gà con mới nở, một trong yếu tố quan trọng đó là thức ăn. Ở gà con, lòng đỏ là nguồn cung cấp năng lượng và protein ngay khi mới nở. Sự hấp thu các chất dinh dưỡng và kháng thể mẹ từ túi lòng đỏ là yêu cầu quan trọng để sống sót trong giai đoạn đầu của đời sống.

Nuôi dưỡng sớm có lợi cho hệ miễn dịch
Như đã nói, thời gian từ khi nở tới khi nhận được thức ăn là thời kỳ khủng hoảng của gà con mới nở.
Khoảng 2-5% gà nở ra không sống sót trong thời kỳ này do dự trữ thức ăn trong cơ thể bị hạn chế, một số con khác có biểu hiện còi cọc, hiệu quả lợi dụng thức ăn kém, nghèo sản lượng thịt và kém sức đề kháng với bệnh.
Những hạn chế này có thể giảm nhẹ bằng cách áp dụng kỹ thuật “nuôi dưỡng sớm”, đó là kỹ thuật cung cấp chất dinh dưỡng cho gà trong nhà ấp ngay sau khi nở.
Cung cấp chất dinh dưỡng cân đối và cho tiếp xúc với thức ăn ngay sau khi nở có thể thúc đẩy sự sử dụng lòng đỏ, nâng cao sự phát triển của ống tiêu hóa, kích thích tụy tiết enzyme. Những yếu tố này giúp đồng hóa tốt chất dinh dưỡng, đóng góp cho tăng trưởng của cơ và cải thiện thành tích sản xuất của gà từ mới nở đến khi đạt thể trọng thương mại.
Thức ăn cũng cung cấp chất dinh dưỡng cho sự tăng trưởng và phát triển của cả cơ quan lympho sơ cấp và thứ cấp.
Hệ thống miễn dịch của gà mới nở, đặc biệt là hệ miễn dịch niêm mạc, cần thức ăn để phát triển nhanh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chậm tiếp xúc với thức ăn không chỉ cản trở đến sự phát triển của ruột mà còn cản trở sự phát triển của mô lympho gắn với ruột, với túi F…
Tiếp xúc sớm với thức ăn cũng giúp gà con có đáp ứng nhanh với việc chích ngừa vacxin. Một trong những kết quả nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã xác định rằng: titre kháng thể (lúc gà 21 ngày) đáp ứng với vaccine RD (kháng sinh phòng bệnh đường hô hấp) khi gà 5 ngày tuổi cao hơn rõ rệt ở những gà được ăn ngay so với những gà bị nhịn đói 24 giờ hay 48 giờ.

Kết luận
Thời gian từ khi nở tới khi được tiếp xúc với thức ăn là một thời kỳ khủng hoảng trong sự phát triển của gia cầm mới nở. Lòng đỏ lưu chỉ đủ để gà sống trong 3-4 ngày sau khi nở, nhưng không đủ chất dinh dưỡng cho tăng trưởng và phát triển tối ưu cơ quan miễn dịch và năng lực miễn dịch.
Dinh dưỡng cân đối và tạo cơ hội cho gà tiếp xúc sớm với thức ăn ngay sau khi nở có thể thúc đẩy sự lợi dụng lòng đỏ và kích thích sự phát triển của hệ miễn dịch.
Như vậy, dinh dưỡng sớm sẽ thu được những gà con khỏe mạnh ngay từ đầu đời, từ đó hạn chế được nhiều thiệt hại cho nhà sản xuất trong suốt cả quá trình chăn nuôi đàn gà.
Đọc thêm
Gà con mới nở thường yếu, dễ hao hụt, cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà giai đoạn này để gà tăng trưởng tốt và tránh được những tổn thất không đáng có.
Chuồng úm
Cần được dọn sạch sẽ, phun thuốc sát trùng xung quanh chuồng trước 14 ngày trước khi bắt gà về úm. Có thể úm gà trên lồng hoặc trên nền chuồng.
Úm trên nền: Chất độn chuồng (trấu hoặc dăm bào) phải khô, sạch dày 7 - 10 cm và phun thuốc sát trùng Formol 2%. Cần rải độn chuồng ít nhất 72 giờ trước khi thả gà con. Dùng cót cao 50 - 70 cm để quây gà (15 - 20 con/m2) và nới rộng cót theo thời gian sinh trưởng của gà.
Úm trên lồng: Kích cỡ lồng: 1 x 2 x 0,9 m (trong đó chân đáy 0,4 m) để úm 100 gà con. Đáy lồng làm bằng sắt ô vuông 1 x 1 cm, xung quanh chuồng dùng lưới sắt mắt cáo và nẹp tre, gỗ để bao.
Hệ thống sưởi ấm cho gà
Có thể dùng bóng điện, đèn dầu hoặc than củi. Nhiệt độ sưởi ấm thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau. Tuần thứ nhất đảm bảo 31 - 340C, tuần 2 là 29 - 310C, tuần 3 là 26 - 290C, tuần 4 là 22 - 260C.
Hàng ngày thường xuyên quan sát hoạt động của gà để chiều chỉnh cho phù hợp. Nếu gà con tập trung một chỗ gần nguồn nhiệt, đứng co ro, run rẩy hoặc nằm chồng lên nhau thì cần tăng nhiệt độ và ngược lại, nhiệt độ cao, gà tản ra xa nguồn nhiệt, nằm há mỏ, thở mạnh, uống nhiều nước. 
Chăm sóc và nuôi dưỡng gà con mới nở
Gà mới bắt về nên cho nhịn, để gà nghỉ 10 - 15 phút rồi cho uống nước có pha 50 gram đường glucoza với 1 gram Vitamin C/3 lít nước để chống stress cho gà. Nước uống phải sạch và ấm ở nhiệt độ 16 - 200C.
Cho gà ăn thức ăn đảm bảo chất lượng, đủ dinh dưỡng. Nên cho gà ăn bằng thức ăn công nghiệp, loại cám hỗn hợp hoặc cám viên dành cho gà con, tỷ lệ protein thô 19 - 21%.
Sau một ngày tiến hành cho gà ăn, cho ăn nhiều lần trong ngày, mỗi lần một ít để thức ăn luôn được mới, thơm ngon, kích thích tính thèm ăn của gà. Cho thức ăn vào mẹt, khay tôn, khay nhựa cao 3 - 5 cm hoặc máng ăn bằng tre, luồng để cho gà ăn.
Thức ăn đựng trong máng gà con chỉ đủ cho chúng ăn trong ngày, số dư ra đổ bỏ vì đã ôi thiu. Máng phải đem ra ngoài cọ rửa sạch rồi phơi nắng khử trùng cho hợp vệ sinh. Hàng ngày nên thay nước mới hai lần, vệ sinh máng cũ sạch sẽ.
Phòng bệnh cho gà con mới nở
Giữ cho chuồng trại luôn sạch sẽ khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, tránh gió lùa, thường xuyên vệ sinh sát trùng, hạn chế người ra vào và thực hiện tốt lịch phòng bệnh cho gà. 

DTK Biotech-Vet - Kỹ thuật úm gà con mới nở

Gà con mới nở thường yếu, dễ hao hụt, cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà giai đoạn này để gà tăng trưởng tốt và tránh được những tổn thất không đáng có.
Chuồng úm
Cần được dọn sạch sẽ, phun thuốc sát trùng xung quanh chuồng trước 14 ngày trước khi bắt gà về úm. Có thể úm gà trên lồng hoặc trên nền chuồng.
Úm trên nền: Chất độn chuồng (trấu hoặc dăm bào) phải khô, sạch dày 7 - 10 cm và phun thuốc sát trùng Formol 2%. Cần rải độn chuồng ít nhất 72 giờ trước khi thả gà con. Dùng cót cao 50 - 70 cm để quây gà (15 - 20 con/m2) và nới rộng cót theo thời gian sinh trưởng của gà.
Úm trên lồng: Kích cỡ lồng: 1 x 2 x 0,9 m (trong đó chân đáy 0,4 m) để úm 100 gà con. Đáy lồng làm bằng sắt ô vuông 1 x 1 cm, xung quanh chuồng dùng lưới sắt mắt cáo và nẹp tre, gỗ để bao.
Hệ thống sưởi ấm cho gà
Có thể dùng bóng điện, đèn dầu hoặc than củi. Nhiệt độ sưởi ấm thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau. Tuần thứ nhất đảm bảo 31 - 340C, tuần 2 là 29 - 310C, tuần 3 là 26 - 290C, tuần 4 là 22 - 260C.
Hàng ngày thường xuyên quan sát hoạt động của gà để chiều chỉnh cho phù hợp. Nếu gà con tập trung một chỗ gần nguồn nhiệt, đứng co ro, run rẩy hoặc nằm chồng lên nhau thì cần tăng nhiệt độ và ngược lại, nhiệt độ cao, gà tản ra xa nguồn nhiệt, nằm há mỏ, thở mạnh, uống nhiều nước. 
Chăm sóc và nuôi dưỡng gà con mới nở
Gà mới bắt về nên cho nhịn, để gà nghỉ 10 - 15 phút rồi cho uống nước có pha 50 gram đường glucoza với 1 gram Vitamin C/3 lít nước để chống stress cho gà. Nước uống phải sạch và ấm ở nhiệt độ 16 - 200C.
Cho gà ăn thức ăn đảm bảo chất lượng, đủ dinh dưỡng. Nên cho gà ăn bằng thức ăn công nghiệp, loại cám hỗn hợp hoặc cám viên dành cho gà con, tỷ lệ protein thô 19 - 21%.
Sau một ngày tiến hành cho gà ăn, cho ăn nhiều lần trong ngày, mỗi lần một ít để thức ăn luôn được mới, thơm ngon, kích thích tính thèm ăn của gà. Cho thức ăn vào mẹt, khay tôn, khay nhựa cao 3 - 5 cm hoặc máng ăn bằng tre, luồng để cho gà ăn.
Thức ăn đựng trong máng gà con chỉ đủ cho chúng ăn trong ngày, số dư ra đổ bỏ vì đã ôi thiu. Máng phải đem ra ngoài cọ rửa sạch rồi phơi nắng khử trùng cho hợp vệ sinh. Hàng ngày nên thay nước mới hai lần, vệ sinh máng cũ sạch sẽ.
Phòng bệnh cho gà con mới nở
Giữ cho chuồng trại luôn sạch sẽ khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, tránh gió lùa, thường xuyên vệ sinh sát trùng, hạn chế người ra vào và thực hiện tốt lịch phòng bệnh cho gà. 
Đọc thêm
Mùa nắng, nóng là mùa ảnh hưởng lớn đến chăn nuôi trâu, bò do phải chịu tác động của nền nhiệt độ cao làm giảm thu nhận thức ăn, giảm sức đề kháng, đồng thời là mùa sinh sôi phát triển của nhiều loài động vật và côn trùng trung gian truyền các bệnh ký sinh trùng đường máu, gây thiệt hại lớn đến sức sản xuất của trâu, bò, thậm chí gây chết trâu, bò nếu không chữa trị kịp thời. Sau đây xin giới thiệu với người chăn nuôi cách nhận biết và phòng trị các bệnh ký sinh trùng đường máu trên trâu, bò.

Bệnh Biên trùng (Anaplasmosis)
Bệnh do một loại đơn bào rất nhỏ, sống ký sinh ở rìa biên của hồng cầu con bệnh nên có tên gọi là biên trùng. Mỗi hồng cầu có thể chứa từ 1 - 5 đơn vị, đó là các chấm tròn rất nhỏ. Chúng hút chất dinh dưỡng, phá vỡ hồng cầu gây thiếu máu.
Ra ngoài cơ thể, mầm bệnh nhanh chóng bị tiêu diệt. Chúng ký sinh trong cơ thể loài ve hút máu suốt đời.
Đường truyền lây
Do ve chích hút máu truyền bệnh
Biểu hiện
Bệnh xảy ra cả ở cả hai dạng cấp tính và mãn tính
- Dạng cấp tính: Sốt cao 410C , nhiệt độ lên xuống thất thường. Lúc sốt cao, toàn thân run rẩy, các cơ bắp co giật, thở gấp, tim đập nhanh, mạnh, bỏ ăn, không nhai lại, chảy nhiều dãi rớt. Niêm mạc miệng, mắt nhợt nhạt. Bệnh có thể gây chết trong 3-5 ngày.
- Dạng mãn tính: Triệu chứng giống như thể cấp tính nhưng mức độ nhẹ hơn có thể diễn biến trong vòng một tháng. Con vật gầy còm, ăn ít, suy nhược, thiếu máu, có thể chết do suy kiệt. Con vật mang bệnh thể này sẽ là vật mang trùng trong tự nhiên, để cho ve hút máu gieo rắc lưu giữ mầm bệnh.

Bệnh Tiên mao trùng (Trypanosomiase)
Nguyên nhân, đặc điểm của bệnh
Bệnh do loại ký sinh trùng đơn bào T.evansi, sống trong huyết tương có thể di động nhờ có đuôi roi. Chúng sinh sôi trong máu, tiết ra độc tố làm suy yếu và có thể giết chết con vật.
Ra khỏi cơ thể con vật, tiên mao trùng nhanh chóng bị tiêu diệt vì điều kiện ngoại cảnh không thích hợp.
Đường truyền lây
- Bệnh thường biểu hiện ở thể mãn tính.
Biểu hiện
- Trâu bò sốt 40 – 410C nhưng có cơn sốt gián đoạn, không theo quy luật.
- Con vật thiếu máu, suy nhược, ỉa chảy kéo dài nhưng vẫn ăn cỏ. Phù thũng là biểu hiện phổ biến: phù nề ở dưới hầu, dưới yếm da cổ, vùng bụng, mí mắt, bìu dái hoặc âm hộ.
- Một số ít có biểu hiện cấp tính với các dấu hiệu thần kinh, quay cuồng, run rẩy từng cơn, đi vòng tròn.
- Thường thì bệnh kéo dài hàng tháng, con vật nếu không chết thì sự hồi phục cũng chậm chạp và kéo dài.

Bệnh Lê dạng trùng (Babesisllosis)
Nguyên nhân, đặc điểm của bệnh
Đây là bệnh ra do một loại đơn bào ký sinh trong hồng cầu, có hình quả lê nên gọi là bệnh lê dạng trùng.
Ra ngoài cơ thể, mầm bệnh nhanh chóng bị tiêu diệt. Chúng ký sinh trong cơ thể loài ve hút máu suốt đời.
Đường truyền lây
Do ve chích hút máu truyền bệnh
Biểu hiện
Bệnh xảy ra cả ở cả hai dạng cấp tính và mãn tính
- Dạng cấp tính: Thời gian ủ bệnh từ 10 - 15 ngày, con vật mệt mỏi, ít ăn. Sau đó chuyển sang sốt cao liên tục hàng tuần đến 40 - 410C .
Bò đái ra nước tiểu màu hồng, đỏ dần rồi chuyển thành màu cà phê.
Bò giảm ăn hoặc bỏ ăn, chỉ uống nước, thở khó và nhanh, có con ỉa ra máu. Phần lớn táo bón, đôi khi lại có ỉa chảy. Bò thường bồn chồn, mệt mỏi, nằm một chỗ và không chịu cày kéo.
- Dạng mãn tính: Các biểu hiện của bệnh cũng gần giống như thể cấp tính nhưng biểu hiện nhẹ hơn. Thường thấy bò gầy yếu, thiếu máu, niêm mạc mắt nhợt nhạt hơi vàng, bò vắt sữa thì lượng sữa giảm. Còn trường hợp bò chửa thì bị sẩy thai.

Phòng bệnh ký sinh trùng trên trâu bò
- Luôn giữ chuồng trại và khu vực chăn nuôi sạch sẽ. Thường xuyên thu gom phân, chất thải để xử lý bằng biogas hoặc ủ nóng sinh học, giảm thiểu chất thải trong chuồng nuôi. Phát quang bờ bụi và khai thông các cống rãnh quanh chuồng và bãi chăn để côn trùng không có nơi cư trú.
- Định kỳ kiểm tra máu mỗi năm hai lần để phát hiện các loại ký sinh trùng đường máu. Hàng năm, thực hiện tiêm phòng bệnh cho trâu, bò vào thời điểm đầu mùa nắng nóng (tháng 3 đến tháng 4 hàng năm).
- Diệt côn trùng hút máu và truyền bệnh (ve,mòng) bằng các thuốc diệt côn trùng.
- Chăm sóc nuôi dưỡng tốt để tăng sức đề kháng cho trâu, bò
BiotechViet tổng hợp theo TTKNQG

DTK Biotech-Vet -Một số bệnh ký sinh trùng đường máu trên trâu, bò

Mùa nắng, nóng là mùa ảnh hưởng lớn đến chăn nuôi trâu, bò do phải chịu tác động của nền nhiệt độ cao làm giảm thu nhận thức ăn, giảm sức đề kháng, đồng thời là mùa sinh sôi phát triển của nhiều loài động vật và côn trùng trung gian truyền các bệnh ký sinh trùng đường máu, gây thiệt hại lớn đến sức sản xuất của trâu, bò, thậm chí gây chết trâu, bò nếu không chữa trị kịp thời. Sau đây xin giới thiệu với người chăn nuôi cách nhận biết và phòng trị các bệnh ký sinh trùng đường máu trên trâu, bò.

Bệnh Biên trùng (Anaplasmosis)
Bệnh do một loại đơn bào rất nhỏ, sống ký sinh ở rìa biên của hồng cầu con bệnh nên có tên gọi là biên trùng. Mỗi hồng cầu có thể chứa từ 1 - 5 đơn vị, đó là các chấm tròn rất nhỏ. Chúng hút chất dinh dưỡng, phá vỡ hồng cầu gây thiếu máu.
Ra ngoài cơ thể, mầm bệnh nhanh chóng bị tiêu diệt. Chúng ký sinh trong cơ thể loài ve hút máu suốt đời.
Đường truyền lây
Do ve chích hút máu truyền bệnh
Biểu hiện
Bệnh xảy ra cả ở cả hai dạng cấp tính và mãn tính
- Dạng cấp tính: Sốt cao 410C , nhiệt độ lên xuống thất thường. Lúc sốt cao, toàn thân run rẩy, các cơ bắp co giật, thở gấp, tim đập nhanh, mạnh, bỏ ăn, không nhai lại, chảy nhiều dãi rớt. Niêm mạc miệng, mắt nhợt nhạt. Bệnh có thể gây chết trong 3-5 ngày.
- Dạng mãn tính: Triệu chứng giống như thể cấp tính nhưng mức độ nhẹ hơn có thể diễn biến trong vòng một tháng. Con vật gầy còm, ăn ít, suy nhược, thiếu máu, có thể chết do suy kiệt. Con vật mang bệnh thể này sẽ là vật mang trùng trong tự nhiên, để cho ve hút máu gieo rắc lưu giữ mầm bệnh.

Bệnh Tiên mao trùng (Trypanosomiase)
Nguyên nhân, đặc điểm của bệnh
Bệnh do loại ký sinh trùng đơn bào T.evansi, sống trong huyết tương có thể di động nhờ có đuôi roi. Chúng sinh sôi trong máu, tiết ra độc tố làm suy yếu và có thể giết chết con vật.
Ra khỏi cơ thể con vật, tiên mao trùng nhanh chóng bị tiêu diệt vì điều kiện ngoại cảnh không thích hợp.
Đường truyền lây
- Bệnh thường biểu hiện ở thể mãn tính.
Biểu hiện
- Trâu bò sốt 40 – 410C nhưng có cơn sốt gián đoạn, không theo quy luật.
- Con vật thiếu máu, suy nhược, ỉa chảy kéo dài nhưng vẫn ăn cỏ. Phù thũng là biểu hiện phổ biến: phù nề ở dưới hầu, dưới yếm da cổ, vùng bụng, mí mắt, bìu dái hoặc âm hộ.
- Một số ít có biểu hiện cấp tính với các dấu hiệu thần kinh, quay cuồng, run rẩy từng cơn, đi vòng tròn.
- Thường thì bệnh kéo dài hàng tháng, con vật nếu không chết thì sự hồi phục cũng chậm chạp và kéo dài.

Bệnh Lê dạng trùng (Babesisllosis)
Nguyên nhân, đặc điểm của bệnh
Đây là bệnh ra do một loại đơn bào ký sinh trong hồng cầu, có hình quả lê nên gọi là bệnh lê dạng trùng.
Ra ngoài cơ thể, mầm bệnh nhanh chóng bị tiêu diệt. Chúng ký sinh trong cơ thể loài ve hút máu suốt đời.
Đường truyền lây
Do ve chích hút máu truyền bệnh
Biểu hiện
Bệnh xảy ra cả ở cả hai dạng cấp tính và mãn tính
- Dạng cấp tính: Thời gian ủ bệnh từ 10 - 15 ngày, con vật mệt mỏi, ít ăn. Sau đó chuyển sang sốt cao liên tục hàng tuần đến 40 - 410C .
Bò đái ra nước tiểu màu hồng, đỏ dần rồi chuyển thành màu cà phê.
Bò giảm ăn hoặc bỏ ăn, chỉ uống nước, thở khó và nhanh, có con ỉa ra máu. Phần lớn táo bón, đôi khi lại có ỉa chảy. Bò thường bồn chồn, mệt mỏi, nằm một chỗ và không chịu cày kéo.
- Dạng mãn tính: Các biểu hiện của bệnh cũng gần giống như thể cấp tính nhưng biểu hiện nhẹ hơn. Thường thấy bò gầy yếu, thiếu máu, niêm mạc mắt nhợt nhạt hơi vàng, bò vắt sữa thì lượng sữa giảm. Còn trường hợp bò chửa thì bị sẩy thai.

Phòng bệnh ký sinh trùng trên trâu bò
- Luôn giữ chuồng trại và khu vực chăn nuôi sạch sẽ. Thường xuyên thu gom phân, chất thải để xử lý bằng biogas hoặc ủ nóng sinh học, giảm thiểu chất thải trong chuồng nuôi. Phát quang bờ bụi và khai thông các cống rãnh quanh chuồng và bãi chăn để côn trùng không có nơi cư trú.
- Định kỳ kiểm tra máu mỗi năm hai lần để phát hiện các loại ký sinh trùng đường máu. Hàng năm, thực hiện tiêm phòng bệnh cho trâu, bò vào thời điểm đầu mùa nắng nóng (tháng 3 đến tháng 4 hàng năm).
- Diệt côn trùng hút máu và truyền bệnh (ve,mòng) bằng các thuốc diệt côn trùng.
- Chăm sóc nuôi dưỡng tốt để tăng sức đề kháng cho trâu, bò
BiotechViet tổng hợp theo TTKNQG
Đọc thêm
Thời gian qua, tình hình biến đổi khí hậu, trong đó có hạn hán và xâm nhập mặn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Mặt khác, theo tập quán canh tác của người dân, sau khi thu hoạch lúa xong, nông dân thường hay cày vùi rơm cho tự phân hủy hoặc đốt đồng. Đây là việc làm mang đến nhiều tác hại, nhất là việc để rơm tự phân hủy mất nhiều thời gian, trong khi nhu cầu sản xuất vụ mùa là cấp bách. Chính vì thế khi sản xuất lúa vụ sau dễ bị ngộ độc hữu cơ. Còn việc đốt đồng thì đã vô tình làm mất đi chất hữu cơ cung cấp lại cho đất, gây hiện tượng phát thải khí nhà kính.
Nhằm góp phần giải quyết các hạn chế nêu trên và tiếp tục thực hiện mục tiêu đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng. Máy cuốn rơm được hệ thống khuyến nông triển khai làm mô hình. Rơm được cuộn lại thành từng cuộn hình trụ, đường kính 45 cm, dài 75 cm. Kích thước này giúp nông dân thuận tiện hơn trong khâu vận chuyển. Qua thực tế cho thấy việc ứng dụng máy cuốn rơm không chỉ mang lại lợi ích qua việc giảm chi phí thu gom rơm, giảm phát thải khí nhà kính mà còn tạo điều kiện cho việc tăng thu nhập từ sử dụng rơm.

Sử dụng rơm cuộn chế biến làm thức ăn cho trâu bò là kỹ thuật mới áp dụng trong chăn nuôi tại các tỉnh thành phía Nam.
Quy trình ủ rơm urê trong các bao nilon có kích cỡ vừa đúng cuộn rơm đang được nông dân sử dụng hiện nay (rơm được cuộn bằng máy sau khi thu hoạch lúa bằng máy liên hợp). Sử dụng 4% urê và ủ trong thời gian 2 tuần để tăng giá trị dinh dưỡng của rơm: tăng hàm lượng đạm, giảm hàm lượng xơ và tăng tỷ lệ tiêu hóa.
Quy trình ủ rơm urê làm thức ăn cho bò được Trung tâm Công nghệ sinh học chăn nuôi xây dựng từ kết quả nhiệm vụ khoa học công nghệ đã được nghiệm thu. Quy trình như sau :


- Vật dụng để ủ: Túi nilon có kích thước vừa đúng cuộn rơm.
- Các chất bổ sung: (1) Nước để hòa tan các chất bổ sung và ngấm vào rơm (2) Urê bổ sung chất đạm, tạo a-mo-ni-ắc cho vi sinh vật (3) Rỉ mật bổ sung chất đường cho vi sinh vật (4) Muối tạo chất đệm, tính ngon miệng.
- Công thức ủ:  100 kg rơm +100 lít nước sạch + 4 kg urê + 2 kg rỉ mật+ 1 kg muối.
- Các bước tiến hành: Bước 1: Hòa urê, rỉ mật, muối vào nước theo tỷ lệ  như trên. Bước 2: Cho cuộn rơm vào túi nilon. Bước 3: Tưới nước đã hòa các chất bổ sung vào rơm (tưới từ từ cho ngấm). Bước 4: Cột chặt miệng bao, túi nilon, để vào nơi râm mát.
- Tính lượng rơm để ủ:  Một con trâu, bò ăn khoảng 3-7 kg rơm mỗi ngày (tùy theo lượng cỏ). Một con dê, cừu ăn bằng 1/10 lượng trâu, bò; Ủ đủ ăn trong 1 tuần. Sau 1 tuần lấy cho ăn thì ủ tiếp đợt khác.
- Kiểm tra chất lượng rơm ủ: Rơm ẩm, có màu vàng tươi; có độ nóng cao, mùi khai nước tiểu rất nồng ; không bị mốc xanh, đen; có thể có một ít mốc trắng.
- Tập cho gia súc ăn: Tập cho ăn từ từ, cần thiết cho nhịn đói; không rửa lại nước, không phơi khô khi cho ăn.
- Lượng cho ăn: Cho ăn tối đa, có thể thay thế đến 80% lượng cỏ xanh.
Đối với rơm ủ urê so với rơm không ủ (rơm khô, rơm tươi), hàm lượng đạm đã tăng lên khoảng 50%, tỷ lệ tiêu hóa tăng khoảng 30%, khả năng sản xuất của gia súc tăng khoảng 15% so với trước đây.

DTK Biotech-Vet - Hướng dẫn chế biến rơm cuộn làm thức ăn cho gia súc

Thời gian qua, tình hình biến đổi khí hậu, trong đó có hạn hán và xâm nhập mặn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Mặt khác, theo tập quán canh tác của người dân, sau khi thu hoạch lúa xong, nông dân thường hay cày vùi rơm cho tự phân hủy hoặc đốt đồng. Đây là việc làm mang đến nhiều tác hại, nhất là việc để rơm tự phân hủy mất nhiều thời gian, trong khi nhu cầu sản xuất vụ mùa là cấp bách. Chính vì thế khi sản xuất lúa vụ sau dễ bị ngộ độc hữu cơ. Còn việc đốt đồng thì đã vô tình làm mất đi chất hữu cơ cung cấp lại cho đất, gây hiện tượng phát thải khí nhà kính.
Nhằm góp phần giải quyết các hạn chế nêu trên và tiếp tục thực hiện mục tiêu đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng. Máy cuốn rơm được hệ thống khuyến nông triển khai làm mô hình. Rơm được cuộn lại thành từng cuộn hình trụ, đường kính 45 cm, dài 75 cm. Kích thước này giúp nông dân thuận tiện hơn trong khâu vận chuyển. Qua thực tế cho thấy việc ứng dụng máy cuốn rơm không chỉ mang lại lợi ích qua việc giảm chi phí thu gom rơm, giảm phát thải khí nhà kính mà còn tạo điều kiện cho việc tăng thu nhập từ sử dụng rơm.

Sử dụng rơm cuộn chế biến làm thức ăn cho trâu bò là kỹ thuật mới áp dụng trong chăn nuôi tại các tỉnh thành phía Nam.
Quy trình ủ rơm urê trong các bao nilon có kích cỡ vừa đúng cuộn rơm đang được nông dân sử dụng hiện nay (rơm được cuộn bằng máy sau khi thu hoạch lúa bằng máy liên hợp). Sử dụng 4% urê và ủ trong thời gian 2 tuần để tăng giá trị dinh dưỡng của rơm: tăng hàm lượng đạm, giảm hàm lượng xơ và tăng tỷ lệ tiêu hóa.
Quy trình ủ rơm urê làm thức ăn cho bò được Trung tâm Công nghệ sinh học chăn nuôi xây dựng từ kết quả nhiệm vụ khoa học công nghệ đã được nghiệm thu. Quy trình như sau :


- Vật dụng để ủ: Túi nilon có kích thước vừa đúng cuộn rơm.
- Các chất bổ sung: (1) Nước để hòa tan các chất bổ sung và ngấm vào rơm (2) Urê bổ sung chất đạm, tạo a-mo-ni-ắc cho vi sinh vật (3) Rỉ mật bổ sung chất đường cho vi sinh vật (4) Muối tạo chất đệm, tính ngon miệng.
- Công thức ủ:  100 kg rơm +100 lít nước sạch + 4 kg urê + 2 kg rỉ mật+ 1 kg muối.
- Các bước tiến hành: Bước 1: Hòa urê, rỉ mật, muối vào nước theo tỷ lệ  như trên. Bước 2: Cho cuộn rơm vào túi nilon. Bước 3: Tưới nước đã hòa các chất bổ sung vào rơm (tưới từ từ cho ngấm). Bước 4: Cột chặt miệng bao, túi nilon, để vào nơi râm mát.
- Tính lượng rơm để ủ:  Một con trâu, bò ăn khoảng 3-7 kg rơm mỗi ngày (tùy theo lượng cỏ). Một con dê, cừu ăn bằng 1/10 lượng trâu, bò; Ủ đủ ăn trong 1 tuần. Sau 1 tuần lấy cho ăn thì ủ tiếp đợt khác.
- Kiểm tra chất lượng rơm ủ: Rơm ẩm, có màu vàng tươi; có độ nóng cao, mùi khai nước tiểu rất nồng ; không bị mốc xanh, đen; có thể có một ít mốc trắng.
- Tập cho gia súc ăn: Tập cho ăn từ từ, cần thiết cho nhịn đói; không rửa lại nước, không phơi khô khi cho ăn.
- Lượng cho ăn: Cho ăn tối đa, có thể thay thế đến 80% lượng cỏ xanh.
Đối với rơm ủ urê so với rơm không ủ (rơm khô, rơm tươi), hàm lượng đạm đã tăng lên khoảng 50%, tỷ lệ tiêu hóa tăng khoảng 30%, khả năng sản xuất của gia súc tăng khoảng 15% so với trước đây.
Đọc thêm