Quá trình đẻ trứng của những con gà Đông Tảo có để đạt trung bình 70-75 trứng mỗi năm, đây là một quá trình sinh sản tự nhiên, ở điểu kiện chăn nuôi đơn thuần dân giã. Tuy nhiên vẫn có những giải pháp kỹ thuật giúp kích thích gà Đông Tảo đẻ trứng nhiều.
1. Cung cấp đủ năng lượng cho gà đẻ
   Gà ốm không thể có sức để đẻ nhiều trứng, cũng như gà quá mập sẽ không mang lại kết quả tốt. Gà đẻ nhiều trứng nhất ở hình thể không gầy không mập, và còn có thể dễ dàng phát hiện điều kiện thể chất bằng cảm quan về vùng dọc xương sống. Khi kiểm tra hai bên xương sống, nếu gà mái quá gầy sẽ nhô xương sống ra, nếu gà quá mập thì lớp mỡ nhô cao hơn vùng xương sống.
Chính vì thế, để gà đẻ nhiều hơn, bà con cần cung cấp đầy đủ năng lượng vì gà sẽ chuyển hóa năng lượng đó trong quá trình đẻ trứng. Dinh dưỡng đầy đủ và cân đối sẽ giúp gà cho năng suất ổn định trong thời gian dài. Cho gà ăn 2 lần/ngày, sáng 40% lượng thức ăn và chiều 60% lượng thức ăn. Trong khẩu phần ăn gồm chủ yếu ngô, thóc - và cám gà đẻ trứng. Đặc biệt trong thóc mầm có chứa ADE tự nhiên - là loại chất tạo tế bào giúp gà tái tạo buồng trứng và chống chọi lại với bệnh tật, hoặc sau dùng kháng sinh.
2. Kỹ thuật kích thích hoocmon
Trong sinh học, quá trình sinh nở tạo ra một lượng hoocmon cực lớn. Chúng sẽ gửi tín hiệu điều khiển các mô mềm dãn ra và trở nên đàn hồi hơn trước quá trình sinh sản. Khi lượng hoocmon tiết ra càng nhiều thì gà mái đẻ trứng đạt đến cực điểm. Để kích thích cơ thể sản xuất ra hoocmon, chúng ta cần cho gà phơi nắng bởi tuyến yên ở gà là nơi sản xuất hoocmon, mà ánh nắng mặt trời chính là nhân tố tác động chính đến tuyến yên, vì vậy bà con tăng cường chiếu sáng cho gà từ 12 – 14 giờ mỗi ngày, và làm điều đó liên tục 03 tuần sẽ giúp gà mái đẻ trứng nhiều hơn…

3. Cung cấp đủ nguồn nước
   Thành phần của trứng chứa rất nhiều nước, có thể nói gà cần uống một lượng nước khá lớn trong quá trình đẻ trứng. Nếu thiếu nước hiển nhiên gà sẽ không thể đẻ, bà con cần quan tâm nhiều đến nước và các vấn đề vệ sinh để đảm bảo cho nguồn trứng chất lượng.
4. Sử dụng thuốc kích thích đẻ trứng.
  Một số chất kích thích có thể sử dụng như bổ sung chất Thyreoprotein cho gà mái giúp kích thích đẻ. Chất Caseiniod giúp gà mái đẻ tăng thêm 6% và rút ngắn thời gian chu kỳ đẻ khoảng 20% thời gian.
Các chất như Eitririn làm tăng sản lượng trứng trên 26%, liều 8g/100kg thức ăn.
Các phương pháp như dùng thuốc thông dụng Analgin 500mg/viên cũng có thể giúp gà đẻ nhiều hơn và giảm thời gian chu kỳ đẻ.
Bài viết trên là một số kỹ thuật có thể giúp gà đẻ trứng nhiều hơn, thời gian chu kỳ đẻ ngắn hơn. Anh em và bà con có thể áp dụng kỹ thuật trên trong chăn nuôi, tuy nhiên các loại thuốc kích thích cần theo hướng dẫn của bác sĩ thú y nhằm mang lại kết quả tốt nhất.

DKT Biotech-VET- Giải pháp kích thích gà Đông Tảo đẻ trứng nhiều

Quá trình đẻ trứng của những con gà Đông Tảo có để đạt trung bình 70-75 trứng mỗi năm, đây là một quá trình sinh sản tự nhiên, ở điểu kiện chăn nuôi đơn thuần dân giã. Tuy nhiên vẫn có những giải pháp kỹ thuật giúp kích thích gà Đông Tảo đẻ trứng nhiều.
1. Cung cấp đủ năng lượng cho gà đẻ
   Gà ốm không thể có sức để đẻ nhiều trứng, cũng như gà quá mập sẽ không mang lại kết quả tốt. Gà đẻ nhiều trứng nhất ở hình thể không gầy không mập, và còn có thể dễ dàng phát hiện điều kiện thể chất bằng cảm quan về vùng dọc xương sống. Khi kiểm tra hai bên xương sống, nếu gà mái quá gầy sẽ nhô xương sống ra, nếu gà quá mập thì lớp mỡ nhô cao hơn vùng xương sống.
Chính vì thế, để gà đẻ nhiều hơn, bà con cần cung cấp đầy đủ năng lượng vì gà sẽ chuyển hóa năng lượng đó trong quá trình đẻ trứng. Dinh dưỡng đầy đủ và cân đối sẽ giúp gà cho năng suất ổn định trong thời gian dài. Cho gà ăn 2 lần/ngày, sáng 40% lượng thức ăn và chiều 60% lượng thức ăn. Trong khẩu phần ăn gồm chủ yếu ngô, thóc - và cám gà đẻ trứng. Đặc biệt trong thóc mầm có chứa ADE tự nhiên - là loại chất tạo tế bào giúp gà tái tạo buồng trứng và chống chọi lại với bệnh tật, hoặc sau dùng kháng sinh.
2. Kỹ thuật kích thích hoocmon
Trong sinh học, quá trình sinh nở tạo ra một lượng hoocmon cực lớn. Chúng sẽ gửi tín hiệu điều khiển các mô mềm dãn ra và trở nên đàn hồi hơn trước quá trình sinh sản. Khi lượng hoocmon tiết ra càng nhiều thì gà mái đẻ trứng đạt đến cực điểm. Để kích thích cơ thể sản xuất ra hoocmon, chúng ta cần cho gà phơi nắng bởi tuyến yên ở gà là nơi sản xuất hoocmon, mà ánh nắng mặt trời chính là nhân tố tác động chính đến tuyến yên, vì vậy bà con tăng cường chiếu sáng cho gà từ 12 – 14 giờ mỗi ngày, và làm điều đó liên tục 03 tuần sẽ giúp gà mái đẻ trứng nhiều hơn…

3. Cung cấp đủ nguồn nước
   Thành phần của trứng chứa rất nhiều nước, có thể nói gà cần uống một lượng nước khá lớn trong quá trình đẻ trứng. Nếu thiếu nước hiển nhiên gà sẽ không thể đẻ, bà con cần quan tâm nhiều đến nước và các vấn đề vệ sinh để đảm bảo cho nguồn trứng chất lượng.
4. Sử dụng thuốc kích thích đẻ trứng.
  Một số chất kích thích có thể sử dụng như bổ sung chất Thyreoprotein cho gà mái giúp kích thích đẻ. Chất Caseiniod giúp gà mái đẻ tăng thêm 6% và rút ngắn thời gian chu kỳ đẻ khoảng 20% thời gian.
Các chất như Eitririn làm tăng sản lượng trứng trên 26%, liều 8g/100kg thức ăn.
Các phương pháp như dùng thuốc thông dụng Analgin 500mg/viên cũng có thể giúp gà đẻ nhiều hơn và giảm thời gian chu kỳ đẻ.
Bài viết trên là một số kỹ thuật có thể giúp gà đẻ trứng nhiều hơn, thời gian chu kỳ đẻ ngắn hơn. Anh em và bà con có thể áp dụng kỹ thuật trên trong chăn nuôi, tuy nhiên các loại thuốc kích thích cần theo hướng dẫn của bác sĩ thú y nhằm mang lại kết quả tốt nhất.
Đọc thêm
Trước thực trạng kháng thuốc kháng sinh đang được coi là một cuộc khủng hoảng toàn cầu, khi mà những bệnh rất bình thường cũng có thể gây tử vong cho các loài vật nuôi, thậm chí cả con người. Đây là hệ quả tất yếu với thời gian dài sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi, kê đơn thuốc chưa hợp lý, việc sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản chưa được kiểm soát đúng đắn.
Trên thế giới, Thụy Điển là nước đầu tiên cấm sử dụng một số kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi năm 1986. Các nước EU cấm tất cả kháng sinh kích thích tăng trưởng trong năm 2006. Nhiều quốc gia khác như Mỹ, Thái Lan… ngừng sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi từ năm 2017.
Việt Nam cũng đã có giải pháp quản lý vấn đề này bằng việc ban hành Thông tư 20/2017/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 4/4/2017 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản. Trong đó giới hạn việc sử dụng thuốc kháng sinh và cách thức sử dụng thuốc kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi, điều trị vật nuôi và thời gian ngưng sử dụng để tránh tồn dư trên sản phẩm, từng bước kiểm soát việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi.
Thực tế trong sản xuất vật nuôi không kháng sinh rất cần môi trường chăn nuôi an toàn không có mầm bệnh. Trong đó áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học kết hợp với các giải pháp tổng thể khác sẽ hạn chế đến mức tối thiểu sử dụng hay không sử dụng kháng sinh.
Tính phù hợp của tinh dầu Oligo là bảo vệ vật nuôi giai đoạn cuối và không tồn dư kháng sinh cho xuất khẩu. Tinh dầu Oligo là sản phẩm có tính cộng hợp các ưu điểm của các hợp phần cấu thành từ thiên nhiên (dầu thầu dầu và dầu vỏ hạt điều). Ricinoleic Acid là thể mang ion hóa trị 2 tự nhiên có hoạt tính diệt khuẩn, chống lại vi khuẩn gram dương, hoạt động chống động vật nguyên sinh. Cơ chế chủ động chống viêm và điều chỉnh giảm thụ thể EP3. Cơ chế tác động này giúp cho vật nuôi kháng các loại vi khuẩn, vi rút xâm nhập, tăng tính đề kháng cho cơ thể vật nuôi. Cardol và Cardanol ngoài có hoạt tính diệt khuẩn, chống lại vi khuẩn gram dương, hoạt động chống động vật nguyên sinh thì khác với Ricinoleic Acid chúng có tính chống ôxy hóa rất cao. Cơ chế tác động của Cardol và Cardanol giúp cho thức ăn giảm tính ôxy hóa rất lớn (quá trình ôxy hóa trên thức ăn chăn nuôi gây mùi ôi trong thức ăn cho vật nuôi).
Nhờ có cơ chế tác động kép kháng khuẩn, chống ôxy hóa tương ứng của Ricinoleic Acid, Cardol và Cardanol mà tinh dầu Oligo giúp vật nuôi khỏe mạnh hơn với các hiệu ứng tác dụng cụ thể như: - Tiết giảm được năng lượng của vật nuôi tiêu hóa cho quá trình chống lại bệnh tật từ việc xâm hại của các vi khuẩn gây hại.
- Với cơ thể khỏe mạnh vật nuôi sẽ hấp thụ thức ăn tốt hơn và tăng hiệu quả sử dụng trên một đơn vị thức ăn cho vật nuôi.
- Tăng tính ngon miệng của vật nuôi trong sử dụng thức ăn bởi khả năng chống lại quá trình ôxy hóa, giúp thức ăn luôn có vị ngon khi cho vật nuôi sử dụng.  

DKT Biotech-VET- Tinh dầu Oligo - Giải pháp thay thế kháng sinh trong chăn nuôi

Trước thực trạng kháng thuốc kháng sinh đang được coi là một cuộc khủng hoảng toàn cầu, khi mà những bệnh rất bình thường cũng có thể gây tử vong cho các loài vật nuôi, thậm chí cả con người. Đây là hệ quả tất yếu với thời gian dài sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi, kê đơn thuốc chưa hợp lý, việc sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản chưa được kiểm soát đúng đắn.
Trên thế giới, Thụy Điển là nước đầu tiên cấm sử dụng một số kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi năm 1986. Các nước EU cấm tất cả kháng sinh kích thích tăng trưởng trong năm 2006. Nhiều quốc gia khác như Mỹ, Thái Lan… ngừng sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi từ năm 2017.
Việt Nam cũng đã có giải pháp quản lý vấn đề này bằng việc ban hành Thông tư 20/2017/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 4/4/2017 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản. Trong đó giới hạn việc sử dụng thuốc kháng sinh và cách thức sử dụng thuốc kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi, điều trị vật nuôi và thời gian ngưng sử dụng để tránh tồn dư trên sản phẩm, từng bước kiểm soát việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi.
Thực tế trong sản xuất vật nuôi không kháng sinh rất cần môi trường chăn nuôi an toàn không có mầm bệnh. Trong đó áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học kết hợp với các giải pháp tổng thể khác sẽ hạn chế đến mức tối thiểu sử dụng hay không sử dụng kháng sinh.
Tính phù hợp của tinh dầu Oligo là bảo vệ vật nuôi giai đoạn cuối và không tồn dư kháng sinh cho xuất khẩu. Tinh dầu Oligo là sản phẩm có tính cộng hợp các ưu điểm của các hợp phần cấu thành từ thiên nhiên (dầu thầu dầu và dầu vỏ hạt điều). Ricinoleic Acid là thể mang ion hóa trị 2 tự nhiên có hoạt tính diệt khuẩn, chống lại vi khuẩn gram dương, hoạt động chống động vật nguyên sinh. Cơ chế chủ động chống viêm và điều chỉnh giảm thụ thể EP3. Cơ chế tác động này giúp cho vật nuôi kháng các loại vi khuẩn, vi rút xâm nhập, tăng tính đề kháng cho cơ thể vật nuôi. Cardol và Cardanol ngoài có hoạt tính diệt khuẩn, chống lại vi khuẩn gram dương, hoạt động chống động vật nguyên sinh thì khác với Ricinoleic Acid chúng có tính chống ôxy hóa rất cao. Cơ chế tác động của Cardol và Cardanol giúp cho thức ăn giảm tính ôxy hóa rất lớn (quá trình ôxy hóa trên thức ăn chăn nuôi gây mùi ôi trong thức ăn cho vật nuôi).
Nhờ có cơ chế tác động kép kháng khuẩn, chống ôxy hóa tương ứng của Ricinoleic Acid, Cardol và Cardanol mà tinh dầu Oligo giúp vật nuôi khỏe mạnh hơn với các hiệu ứng tác dụng cụ thể như: - Tiết giảm được năng lượng của vật nuôi tiêu hóa cho quá trình chống lại bệnh tật từ việc xâm hại của các vi khuẩn gây hại.
- Với cơ thể khỏe mạnh vật nuôi sẽ hấp thụ thức ăn tốt hơn và tăng hiệu quả sử dụng trên một đơn vị thức ăn cho vật nuôi.
- Tăng tính ngon miệng của vật nuôi trong sử dụng thức ăn bởi khả năng chống lại quá trình ôxy hóa, giúp thức ăn luôn có vị ngon khi cho vật nuôi sử dụng.  
Đọc thêm
Nuôi gà Đông Tảo ấp trứng cần những điều kiện như thế nào về nhiệt độ, độ ẩm, không khí như thế nào là vừa đủ. Làm sao để quá trình ấp đạt hiệu quả tối đa
Ấp trứng gà Đông Tảo là một giai đoạn vô cùng vất vả và cần sự tỉ mỉ trong quá trình làm việc. Đặc biệt với một giống gà quý hiếm và khó nuôi như gà Đông Tảo thì việc cần chấp hành nghiêm các bước càng được đề cao hơn. Vậy làm sao để hiệu quả quá trình ấp trứng đạt iệu quả cao nhất? những lưu ý trong quá trình ấp trứng gà Đông Tảo  bạn cần biết?
Mức độ thông thoáng
Ở mỗi giai đoạn phát triển của trứng gà, trứng lại cần có độ thông thoáng khác nhau để thoát hơi nước và được cung cấp đầy đủ CO2 và O2 để hít thở và phát triển. Người điều hành máy ấp trứng cần nắm rõ được nhu cầu này của trứng để có thể điều chỉnh độ thông thoáng thích hợp cho lò ấp trứng, đảm bảo gà sinh được khỏe mạnh do được cung cấp đầy đủ dưỡng khí trong suốt quá trình trong trứng
Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình ấp trứng của các giống gia cầm nói chung và gà Đông Tảo nói riêng. Đối với việc ấp trứng của gà Đông Tảo thì nhiệt độ tốt nhất để ấp trứng là 37,5 – 37,8 độ C. Nhiệt độ tới hạn của phôi trứng gà Đông Tảo là 41 độ C, vượt qua mức nhiệt độ này, phôi gà sẽ chết, việc ấp trứng cho gà xem như phá sản. Nhiệt độ vô cùng quan trọng trong quá trình ấp trứng gà, nó quyết định trứng gà có nở đúng tiến độ không?, chất lượng gà con nở ra có được đảm bảo khỏe mạnh hay không? Nếu trứng không được ấp trong nhiệt độ chuẩn có thể gây chết phôi, gà nở muộn hoặc gà nở ra bị dị dạng rất nguy hiểm. Nếu là con giống để nuôi gà Đông Tảo thịt có thể sẽ cho sản lượng thịt kém, nếu nuôi gà cảnh thì mã không đẹp.

Độ ẩm
Độ ẩm cung cấp cho quá trìh ấp trứng cũng khác nhau theo từng giai đoạn. Càng về sau thì trứng càng cần độ ẩm lớn. Trong khoảng thời gia từ ngày đầu tiên ấp đến giữa tuần thứ 3 của giai đoạn ấp trứng, độ ẩm trong lò cần đảm bảo trong khoảng từ 60 – 65%. Tuy nhiên, Đến giai đoạn cuối cùng sau đó, độ ẩm cần cung cấp cho quá trình ấp trứng cần tăng lên đến 85 – 90%. Đây là giai đoạn cực kỳ quan trong quyết định đến hình hài và sức khỏe của con non sau này bạn cần đặc biệt lưu ý để có những con giống gà Đông Tảo khỏe mạnh. Tạo ra những con ga dong tao bieu tet mã đẹp sau này.
Ngoài các yếu tố này, để đạt chất lượng con giống tốt và tỉ lệ nở cao, bạn còn phải chọn gà Đông Tảo bố mẹ sinh sản thật tốt để sinh ra thế hệ con giong ga dong tao thuan chung. Ngoài ra cũng cần lưu ý trong quá trình lấy trứng và chuẩn bị ấp thật tốt để trứng đảm bảo tỉ lệ nở cao nhất.

DKT Biotech-VET- Lưu ý để ấp trứng gà Đông Tảo hiệu quả

Nuôi gà Đông Tảo ấp trứng cần những điều kiện như thế nào về nhiệt độ, độ ẩm, không khí như thế nào là vừa đủ. Làm sao để quá trình ấp đạt hiệu quả tối đa
Ấp trứng gà Đông Tảo là một giai đoạn vô cùng vất vả và cần sự tỉ mỉ trong quá trình làm việc. Đặc biệt với một giống gà quý hiếm và khó nuôi như gà Đông Tảo thì việc cần chấp hành nghiêm các bước càng được đề cao hơn. Vậy làm sao để hiệu quả quá trình ấp trứng đạt iệu quả cao nhất? những lưu ý trong quá trình ấp trứng gà Đông Tảo  bạn cần biết?
Mức độ thông thoáng
Ở mỗi giai đoạn phát triển của trứng gà, trứng lại cần có độ thông thoáng khác nhau để thoát hơi nước và được cung cấp đầy đủ CO2 và O2 để hít thở và phát triển. Người điều hành máy ấp trứng cần nắm rõ được nhu cầu này của trứng để có thể điều chỉnh độ thông thoáng thích hợp cho lò ấp trứng, đảm bảo gà sinh được khỏe mạnh do được cung cấp đầy đủ dưỡng khí trong suốt quá trình trong trứng
Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình ấp trứng của các giống gia cầm nói chung và gà Đông Tảo nói riêng. Đối với việc ấp trứng của gà Đông Tảo thì nhiệt độ tốt nhất để ấp trứng là 37,5 – 37,8 độ C. Nhiệt độ tới hạn của phôi trứng gà Đông Tảo là 41 độ C, vượt qua mức nhiệt độ này, phôi gà sẽ chết, việc ấp trứng cho gà xem như phá sản. Nhiệt độ vô cùng quan trọng trong quá trình ấp trứng gà, nó quyết định trứng gà có nở đúng tiến độ không?, chất lượng gà con nở ra có được đảm bảo khỏe mạnh hay không? Nếu trứng không được ấp trong nhiệt độ chuẩn có thể gây chết phôi, gà nở muộn hoặc gà nở ra bị dị dạng rất nguy hiểm. Nếu là con giống để nuôi gà Đông Tảo thịt có thể sẽ cho sản lượng thịt kém, nếu nuôi gà cảnh thì mã không đẹp.

Độ ẩm
Độ ẩm cung cấp cho quá trìh ấp trứng cũng khác nhau theo từng giai đoạn. Càng về sau thì trứng càng cần độ ẩm lớn. Trong khoảng thời gia từ ngày đầu tiên ấp đến giữa tuần thứ 3 của giai đoạn ấp trứng, độ ẩm trong lò cần đảm bảo trong khoảng từ 60 – 65%. Tuy nhiên, Đến giai đoạn cuối cùng sau đó, độ ẩm cần cung cấp cho quá trình ấp trứng cần tăng lên đến 85 – 90%. Đây là giai đoạn cực kỳ quan trong quyết định đến hình hài và sức khỏe của con non sau này bạn cần đặc biệt lưu ý để có những con giống gà Đông Tảo khỏe mạnh. Tạo ra những con ga dong tao bieu tet mã đẹp sau này.
Ngoài các yếu tố này, để đạt chất lượng con giống tốt và tỉ lệ nở cao, bạn còn phải chọn gà Đông Tảo bố mẹ sinh sản thật tốt để sinh ra thế hệ con giong ga dong tao thuan chung. Ngoài ra cũng cần lưu ý trong quá trình lấy trứng và chuẩn bị ấp thật tốt để trứng đảm bảo tỉ lệ nở cao nhất.

Đọc thêm
Có rất nhiều cách để xây dựng khẩu phần ăn cho heo con và một trong số đó bao gồm cả các phương pháp nhằm ngăn ngừa tiêu chảy do dinh dưỡng và tránh biến chứng của bệnh.
Tiêu chảy là căn bệnh chiếm tỷ lệ cao và là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong ở heo cai sữa trong thời gian gần đây. Căn nguyên của bệnh tiêu chảy có thể là do mầm bệnh, dinh dưỡng và thậm chí có thể trở nên nghiêm trọng hơn thông qua các biến chứng thứ phát. Khi tiêu chảy là do mầm bệnh thì cần phải có sự can thiệp của thú y để chữa trị các triệu chứng và loại bỏ các vi sinh vật gây bệnh. Tiêu chảy do dinh dưỡng thường đi kèm theo hoặc tương hỗ với các mầm bệnh, và do đó cần kết hợp can thiệp dinh dưỡng và điều trị thú y. Rõ ràng, khẩu phần dinh dưỡng được tạo ra bởi một chuyên gia dinh dưỡng có chuyên môn sẽ giúp ngăn ngừa các bệnh tiêu chảy thông thường.
Tiêu chảy do dinh dưỡng xuất phát từ ba lỗi chính trong việc xây dựng khẩu phần ăn:
• Thứ nhất, khẩu phần ăn ban đầu không đáp ứng lượng ăn vào tăng nhanh sau khi cai sữa làm cho heo đói, dẫn đến heo ăn nhiều thức ăn hỗn hợp khô giàu dinh dưỡng. Khi bị đói trong thời gian ngắn cũng có thể làm giảm khả năng tiêu hóa và hệ miễn dịch của đường tiêu hóa. Do đó, khi heo ăn quá mức sau một thời gian bị đói hoặc suy dinh dưỡng, thức ăn không tiêu hóa hết dẫn đến dư thừa một lượng chất nền (năng lượng và protein) cho sự gia tăng các vi sinh vật gây bệnh cơ hội (ví dụ Escherichia coli hoặc Salmonella).
• Thứ hai, khẩu phần ăn có chất lượng tương đối thấp, thường được sử dụng để giảm chi phí thức ăn, không chỉ cản trở sự gia tăng cảm giác thèm ăn ban đầu của heo con, mà còn gây tiêu hóa kém dẫn đến tồn đọng các thành phần không tiêu hóa được làm nền cho sự phát triển vi khuẩn ở đường tiêu hóa dưới.
• Thứ ba, một số thành phần thức ăn xác định (ví dụ như bột đậu nành) có chứa các tác nhân kháng dưỡng (ví dụ, các protein chứa glycin và beta-conglycin) có thể gây viêm đường tiêu hóa khi lượng ăn vào giảm và làm suy yếu biểu mô tiêu hóa.
Người ta khuyến cáo khẩu phần ăn có hàm lượng cao các loại đường đơn và các chất khoáng có thể gây rối loạn cân bằng thẩm thấu qua biểu mô ruột gây ra sự tiết nước quá mức trong ống lumen và làm phân bị lỏng. Chẳng hạn, bằng cách thay đổi lượng đường (sucrose và mật bắp ngô), độ thẩm thấu do khẩu phần được điều chỉnh vào khoảng 250 đến 700 mOsm / kg. Trong nghiên cứu này, sự hấp thu nước và carbohydrate từ ruột non ở heo con tăng lên, và do đó giảm khả năng bị tiêu chảy bởi vì sự thẩm thấu tăng lên đồng nghĩa các chất điện phân cũng được cân bằng. Tiêu chảy thẩm thấu có thể không có hại đến năng suất và sức khỏe của heo và có thể bù đắp bằng cách uống nhiều nước hơn. Tuy nhiên, đây là một viễn cảnh đáng lo ngại cho người chăn nuôi và bệnh tiêu chảy này cần phải được ngăn ngừa do việc chữa trị sẽ khó khăn và tốn kém hơn so với các bệnh tiêu chảy khác.
Các mối liên quan về dinh dưỡng đến bệnh phù nề
Bệnh phù nề, là một rối loạn ruột do Enterotoxemic Escherichia coligây ra, tiếp tục thách thức các bác sĩ thú y và các chuyên gia dinh dưỡng về phòng và điều trị các động vật mắc bệnh. Một nhóm nghiên cứu người Hà Lan đã theo dõi những con heo bị bệnh và heo khỏe mạnh từ cùng một đàn và kết luận rằng mặc dù bệnh phù nề có liên quan chặt chẽ đến sự có mặt của Escherichia coli (là chủng O139K82 trong trường hợp này), các yếu tố dinh dưỡng cũng có thể góp phần gây ra hoặc làm trầm trọng thêm rối loạn đường ruột này. Những con heo bệnh cho thấy máu và môi trường ruột có tính axit cao hơn, đây là triệu chứng chuyển hóa nhiễm axit. Các nhà nghiên cứu cho rằng các độc tố do Escherichia coli sản sinh trong đường tiêu hóa có cơ hội thuận lợi vượt qua rào cản đường ruột ở heo bị chuyển hóa nhiễm axit vì sự gia tăng tính axit ruột dẫn đến tăng cường thẩm thấu. Vì vậy, các phương pháp can thiệp bằng dinh dưỡng sẽ giảm nhiễm axit khi đối mặt với bệnh phù nề có thể hữu ích. Ngoài ra, khẩu phần globulin miễn dịch được xây dựng để chống lại các vi khuẩn gây phù nề có thể là một phương án bổ sung cần được xem xét khi xây dựng khẩu phần ăn chuyên biệt cho những vấn đề như thế này.
Khảo sát khuẩn Escherichia coli
Tiêu chảy do khuẩn Escherichia coli sau khi cai sữa thường liên quan đến khả năng tiêu hóa kém vì các chất dinh dưỡng chưa tiêu hóa trong ruột tạo thuận lợi cho sự phát triển của các chủng gây bệnh Escherichia coli, chính là loại khuẩn gây ra tiết dịch ruột và chất điện giải quá mức trong lumen của ruột. Điều này thường dẫn đến tiêu chảy, suy dinh dưỡng, tăng trưởng kém và đôi khi gây tử vong. Kết quả từ một cuộc khảo sát toàn diện ở Canada trên 34 trang trại, trong đó 17 báo cáo về vấn đề Escherichia coli, cho thấy phần lớn bệnh tiêu chảy xảy ra trong khoảng từ 3 đến 10 ngày sau khi cai sữa. Tuy nhiên, các ca bệnh sau 23 ngày sau cai sữa không phải là hiếm.
Ở các trang trại có phát hiện tiêu chảy do Escherichia coli phổ biến ở heo con, khẩu phần ăn có lượng protein thực vật cao hơn (+12 phần trăm), cụ thể là bột đậu nành và bột cải dầu. Ngoài ra, heo mắc bệnh tiêu chảy cũng được ăn thức ăn giàu canxi (+25 phần trăm) và magie (+6 phần trăm), cả hai đều tăng tính kiềm trong ruột (Escherichia coli phát triển mạnh trong môi trường kiềm). Hơn nữa, kẽm oxit 21 phần trăm ít được dùng hơn trong khẩu phần của heo đã được ghi nhận mắc bệnh tiêu chảy. Cuối cùng, cân bằng điện giải bị giảm tương đối trong khẩu phần ăn cho heo bị tiêu chảy (-8 phần trăm). Mặc dù nghiên cứu này không thiết lập một mối quan hệ nhân quả rõ ràng giữa thành phần thức ăn và bệnh tiêu chảy do Escherichia coli, nhưng ít nhất nó cũng cảnh báo rằng khẩu phần ăn không đúng có thể dẫn đến tiêu chảy, gia tăng các triệu chứng, hoặc chậm phục hồi.

Phương pháp can thiệp
Cần lưu ý rằng can thiệp dinh dưỡng sau khi mắc tiêu chảy nên được tiến hành dưới sự tham vấn của bác sĩ thú y và chuyên gia dinh dưỡng. Bởi vì các thí nghiệm khoa học ở heo bị nhiễm bệnh cùng với heo khỏe mạnh trong cùng phạm vi không có giá trị thực tiễn, những kinh nghiệm thực tế khả thi hơn căn cứ khoa học thường là cơ sở cho việc suy ra hầu hết các khuyến nghị. Các trang trại thường xuyên có heo con bị tiêu chảy sau cai sữa thì có thể thực hiện một hoặc vài phương pháp sau đây:
1. Phòng ngừa. Đối với tiêu chảy do vi khuẩn, có thể áp dụng các biện pháp được chỉ định đối với khẩu phần không có kháng sinh. Tuy nhiên, đối với bệnh tiêu chảy do virut thì tiêm phòng là cần thiết, mặc dù có nhiều đề nghị dùng các biện pháp kháng khuẩn để ngăn ngừa các biến chứng của vi khuẩn thứ phát.
2. Hạn chế cho ăn. Điều này đặc biệt phổ biến ở Châu Âu. Heo cai sữa được cho ăn một lượng thức ăn hạn chế trong tuần lễ đầu sau cai sữa, và tăng dần khẩu phần cho đến khi heo đạt được mức ăn tự do trong tuần thứ hai. Quá trình xây dựng khẩu phần mới và tăng tuổi cai sữa, cùng với việc sử dụng sản phẩm thức ăn chăn nuôi và/hoặc sữa thay thế cho tất cả nhưng hầu như không thực tế. Ngoài ra, có một nghiên cứu từ Đan Mạch mà ở đó việc cho ăn hạn chế đã trở thành tiêu chuẩn, cho thấy rằng việc cho ăn hạn chế có thể không phải lúc nào cũng có hiệu quả với bệnh tiêu chảy.
3. Giảm các yếu tố kháng dinh. Đậu tương và hầu hết các loại đậu khác có chứa các hợp chất ức chế hấp thu dinh dưỡng có khả năng kích ứng hệ thống tiêu hóa còn non yếu của heo con cai sữa, do đó tình trạng viêm và tiêu chảy thường xảy ra sau khi ăn nhiều các chất này. Bằng cách xử lý nhiệt có thể ngăn các thành phần có hại này gây viêm ruột, nhưng ở những con heo đang bị tiêu chảy nặng nên loại bỏ hẳn các chất này. Lựa chọn đúng nguồn protein đậu tương vẫn rất quan trọng trong việc xây dựng khẩu phần ăn mới cho heo con.
4. Gia tăng khẩu phần. Một lượng vừa phải của chất xơ chức năng làm tăng cường sự di chuyển của chất chứa trong ruột (digesta) qua hệ thống tiêu hóa, tăng khả năng giữ nước và tiết dịch. Bổ sung chất xơ trong khẩu phần heo con được cho là làm tăng đào thải các vi sinh vật gây bệnh, ngăn chặn tiếp xúc của vi khuẩn vào biểu mô ruột và tạo ra đường ruột khỏe mạnh. Yến mạch, bột củ cải đường, bột cỏ linh lăng, chất xơ gỗ và cám lúa mì là một trong những nguồn cung cấp chất xơ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay.
5. Các vấn đề về chất lượng thức ăn. Bảo đảm rằng không cho heo con ăn thức ăn nhiễm mần bệnh, đấy là một cách ngăn chặn các ca bệnh tiêu chảy không đáng có. Để đạt được điều này, việc lựa chọn thành phần thức ăn có tầm quan trọng vô cùng to lớn, giống như là một cách bảo đảm chất lượng bền vững. Thức ăn thành phẩm thường được xử lý bằng nhiệt để giảm lượng vi khuẩn. Ví dụ, tại Đan Mạch, yêu cầu đối với tất cả các thức ăn ép viên cho heo con phải được xử lý nhiệt ít nhất ở 83oC. Các bằng chứng gần đây cho thấy cấu tạo thức ăn thô và bột có khả năng bảo vệ vật chủ chống lại sự gia tăng khuẩn Escherichia coli và Salmonella so với thức ăn nghiền hoặc thức ăn ép viên, mặc dù điều này vẫn còn gây tranh cãi giữa các chuyên gia dinh dưỡng và bác sĩ thú y.

DKT Biotech-VET- Biện pháp cho heo ăn hạn chế tiêu chảy

Có rất nhiều cách để xây dựng khẩu phần ăn cho heo con và một trong số đó bao gồm cả các phương pháp nhằm ngăn ngừa tiêu chảy do dinh dưỡng và tránh biến chứng của bệnh.
Tiêu chảy là căn bệnh chiếm tỷ lệ cao và là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong ở heo cai sữa trong thời gian gần đây. Căn nguyên của bệnh tiêu chảy có thể là do mầm bệnh, dinh dưỡng và thậm chí có thể trở nên nghiêm trọng hơn thông qua các biến chứng thứ phát. Khi tiêu chảy là do mầm bệnh thì cần phải có sự can thiệp của thú y để chữa trị các triệu chứng và loại bỏ các vi sinh vật gây bệnh. Tiêu chảy do dinh dưỡng thường đi kèm theo hoặc tương hỗ với các mầm bệnh, và do đó cần kết hợp can thiệp dinh dưỡng và điều trị thú y. Rõ ràng, khẩu phần dinh dưỡng được tạo ra bởi một chuyên gia dinh dưỡng có chuyên môn sẽ giúp ngăn ngừa các bệnh tiêu chảy thông thường.
Tiêu chảy do dinh dưỡng xuất phát từ ba lỗi chính trong việc xây dựng khẩu phần ăn:
• Thứ nhất, khẩu phần ăn ban đầu không đáp ứng lượng ăn vào tăng nhanh sau khi cai sữa làm cho heo đói, dẫn đến heo ăn nhiều thức ăn hỗn hợp khô giàu dinh dưỡng. Khi bị đói trong thời gian ngắn cũng có thể làm giảm khả năng tiêu hóa và hệ miễn dịch của đường tiêu hóa. Do đó, khi heo ăn quá mức sau một thời gian bị đói hoặc suy dinh dưỡng, thức ăn không tiêu hóa hết dẫn đến dư thừa một lượng chất nền (năng lượng và protein) cho sự gia tăng các vi sinh vật gây bệnh cơ hội (ví dụ Escherichia coli hoặc Salmonella).
• Thứ hai, khẩu phần ăn có chất lượng tương đối thấp, thường được sử dụng để giảm chi phí thức ăn, không chỉ cản trở sự gia tăng cảm giác thèm ăn ban đầu của heo con, mà còn gây tiêu hóa kém dẫn đến tồn đọng các thành phần không tiêu hóa được làm nền cho sự phát triển vi khuẩn ở đường tiêu hóa dưới.
• Thứ ba, một số thành phần thức ăn xác định (ví dụ như bột đậu nành) có chứa các tác nhân kháng dưỡng (ví dụ, các protein chứa glycin và beta-conglycin) có thể gây viêm đường tiêu hóa khi lượng ăn vào giảm và làm suy yếu biểu mô tiêu hóa.
Người ta khuyến cáo khẩu phần ăn có hàm lượng cao các loại đường đơn và các chất khoáng có thể gây rối loạn cân bằng thẩm thấu qua biểu mô ruột gây ra sự tiết nước quá mức trong ống lumen và làm phân bị lỏng. Chẳng hạn, bằng cách thay đổi lượng đường (sucrose và mật bắp ngô), độ thẩm thấu do khẩu phần được điều chỉnh vào khoảng 250 đến 700 mOsm / kg. Trong nghiên cứu này, sự hấp thu nước và carbohydrate từ ruột non ở heo con tăng lên, và do đó giảm khả năng bị tiêu chảy bởi vì sự thẩm thấu tăng lên đồng nghĩa các chất điện phân cũng được cân bằng. Tiêu chảy thẩm thấu có thể không có hại đến năng suất và sức khỏe của heo và có thể bù đắp bằng cách uống nhiều nước hơn. Tuy nhiên, đây là một viễn cảnh đáng lo ngại cho người chăn nuôi và bệnh tiêu chảy này cần phải được ngăn ngừa do việc chữa trị sẽ khó khăn và tốn kém hơn so với các bệnh tiêu chảy khác.
Các mối liên quan về dinh dưỡng đến bệnh phù nề
Bệnh phù nề, là một rối loạn ruột do Enterotoxemic Escherichia coligây ra, tiếp tục thách thức các bác sĩ thú y và các chuyên gia dinh dưỡng về phòng và điều trị các động vật mắc bệnh. Một nhóm nghiên cứu người Hà Lan đã theo dõi những con heo bị bệnh và heo khỏe mạnh từ cùng một đàn và kết luận rằng mặc dù bệnh phù nề có liên quan chặt chẽ đến sự có mặt của Escherichia coli (là chủng O139K82 trong trường hợp này), các yếu tố dinh dưỡng cũng có thể góp phần gây ra hoặc làm trầm trọng thêm rối loạn đường ruột này. Những con heo bệnh cho thấy máu và môi trường ruột có tính axit cao hơn, đây là triệu chứng chuyển hóa nhiễm axit. Các nhà nghiên cứu cho rằng các độc tố do Escherichia coli sản sinh trong đường tiêu hóa có cơ hội thuận lợi vượt qua rào cản đường ruột ở heo bị chuyển hóa nhiễm axit vì sự gia tăng tính axit ruột dẫn đến tăng cường thẩm thấu. Vì vậy, các phương pháp can thiệp bằng dinh dưỡng sẽ giảm nhiễm axit khi đối mặt với bệnh phù nề có thể hữu ích. Ngoài ra, khẩu phần globulin miễn dịch được xây dựng để chống lại các vi khuẩn gây phù nề có thể là một phương án bổ sung cần được xem xét khi xây dựng khẩu phần ăn chuyên biệt cho những vấn đề như thế này.
Khảo sát khuẩn Escherichia coli
Tiêu chảy do khuẩn Escherichia coli sau khi cai sữa thường liên quan đến khả năng tiêu hóa kém vì các chất dinh dưỡng chưa tiêu hóa trong ruột tạo thuận lợi cho sự phát triển của các chủng gây bệnh Escherichia coli, chính là loại khuẩn gây ra tiết dịch ruột và chất điện giải quá mức trong lumen của ruột. Điều này thường dẫn đến tiêu chảy, suy dinh dưỡng, tăng trưởng kém và đôi khi gây tử vong. Kết quả từ một cuộc khảo sát toàn diện ở Canada trên 34 trang trại, trong đó 17 báo cáo về vấn đề Escherichia coli, cho thấy phần lớn bệnh tiêu chảy xảy ra trong khoảng từ 3 đến 10 ngày sau khi cai sữa. Tuy nhiên, các ca bệnh sau 23 ngày sau cai sữa không phải là hiếm.
Ở các trang trại có phát hiện tiêu chảy do Escherichia coli phổ biến ở heo con, khẩu phần ăn có lượng protein thực vật cao hơn (+12 phần trăm), cụ thể là bột đậu nành và bột cải dầu. Ngoài ra, heo mắc bệnh tiêu chảy cũng được ăn thức ăn giàu canxi (+25 phần trăm) và magie (+6 phần trăm), cả hai đều tăng tính kiềm trong ruột (Escherichia coli phát triển mạnh trong môi trường kiềm). Hơn nữa, kẽm oxit 21 phần trăm ít được dùng hơn trong khẩu phần của heo đã được ghi nhận mắc bệnh tiêu chảy. Cuối cùng, cân bằng điện giải bị giảm tương đối trong khẩu phần ăn cho heo bị tiêu chảy (-8 phần trăm). Mặc dù nghiên cứu này không thiết lập một mối quan hệ nhân quả rõ ràng giữa thành phần thức ăn và bệnh tiêu chảy do Escherichia coli, nhưng ít nhất nó cũng cảnh báo rằng khẩu phần ăn không đúng có thể dẫn đến tiêu chảy, gia tăng các triệu chứng, hoặc chậm phục hồi.

Phương pháp can thiệp
Cần lưu ý rằng can thiệp dinh dưỡng sau khi mắc tiêu chảy nên được tiến hành dưới sự tham vấn của bác sĩ thú y và chuyên gia dinh dưỡng. Bởi vì các thí nghiệm khoa học ở heo bị nhiễm bệnh cùng với heo khỏe mạnh trong cùng phạm vi không có giá trị thực tiễn, những kinh nghiệm thực tế khả thi hơn căn cứ khoa học thường là cơ sở cho việc suy ra hầu hết các khuyến nghị. Các trang trại thường xuyên có heo con bị tiêu chảy sau cai sữa thì có thể thực hiện một hoặc vài phương pháp sau đây:
1. Phòng ngừa. Đối với tiêu chảy do vi khuẩn, có thể áp dụng các biện pháp được chỉ định đối với khẩu phần không có kháng sinh. Tuy nhiên, đối với bệnh tiêu chảy do virut thì tiêm phòng là cần thiết, mặc dù có nhiều đề nghị dùng các biện pháp kháng khuẩn để ngăn ngừa các biến chứng của vi khuẩn thứ phát.
2. Hạn chế cho ăn. Điều này đặc biệt phổ biến ở Châu Âu. Heo cai sữa được cho ăn một lượng thức ăn hạn chế trong tuần lễ đầu sau cai sữa, và tăng dần khẩu phần cho đến khi heo đạt được mức ăn tự do trong tuần thứ hai. Quá trình xây dựng khẩu phần mới và tăng tuổi cai sữa, cùng với việc sử dụng sản phẩm thức ăn chăn nuôi và/hoặc sữa thay thế cho tất cả nhưng hầu như không thực tế. Ngoài ra, có một nghiên cứu từ Đan Mạch mà ở đó việc cho ăn hạn chế đã trở thành tiêu chuẩn, cho thấy rằng việc cho ăn hạn chế có thể không phải lúc nào cũng có hiệu quả với bệnh tiêu chảy.
3. Giảm các yếu tố kháng dinh. Đậu tương và hầu hết các loại đậu khác có chứa các hợp chất ức chế hấp thu dinh dưỡng có khả năng kích ứng hệ thống tiêu hóa còn non yếu của heo con cai sữa, do đó tình trạng viêm và tiêu chảy thường xảy ra sau khi ăn nhiều các chất này. Bằng cách xử lý nhiệt có thể ngăn các thành phần có hại này gây viêm ruột, nhưng ở những con heo đang bị tiêu chảy nặng nên loại bỏ hẳn các chất này. Lựa chọn đúng nguồn protein đậu tương vẫn rất quan trọng trong việc xây dựng khẩu phần ăn mới cho heo con.
4. Gia tăng khẩu phần. Một lượng vừa phải của chất xơ chức năng làm tăng cường sự di chuyển của chất chứa trong ruột (digesta) qua hệ thống tiêu hóa, tăng khả năng giữ nước và tiết dịch. Bổ sung chất xơ trong khẩu phần heo con được cho là làm tăng đào thải các vi sinh vật gây bệnh, ngăn chặn tiếp xúc của vi khuẩn vào biểu mô ruột và tạo ra đường ruột khỏe mạnh. Yến mạch, bột củ cải đường, bột cỏ linh lăng, chất xơ gỗ và cám lúa mì là một trong những nguồn cung cấp chất xơ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay.
5. Các vấn đề về chất lượng thức ăn. Bảo đảm rằng không cho heo con ăn thức ăn nhiễm mần bệnh, đấy là một cách ngăn chặn các ca bệnh tiêu chảy không đáng có. Để đạt được điều này, việc lựa chọn thành phần thức ăn có tầm quan trọng vô cùng to lớn, giống như là một cách bảo đảm chất lượng bền vững. Thức ăn thành phẩm thường được xử lý bằng nhiệt để giảm lượng vi khuẩn. Ví dụ, tại Đan Mạch, yêu cầu đối với tất cả các thức ăn ép viên cho heo con phải được xử lý nhiệt ít nhất ở 83oC. Các bằng chứng gần đây cho thấy cấu tạo thức ăn thô và bột có khả năng bảo vệ vật chủ chống lại sự gia tăng khuẩn Escherichia coli và Salmonella so với thức ăn nghiền hoặc thức ăn ép viên, mặc dù điều này vẫn còn gây tranh cãi giữa các chuyên gia dinh dưỡng và bác sĩ thú y.
Đọc thêm
Gà đông tảo 1 tháng tuổi vẫn còn chưa cứng cáp, dễ mắc nhiều bệnh tật. Chính vì vậy ngay từ những bước đầu tiên sau khi đã chọn giống, cần chọn một cách chăm sóc hợp lý.
1. Đặc điểm gà Đông Tảo thuần chủng 1 tháng tuổi:
Một tháng tuổi là giai đoạn gà vẫn chưa thực sự cứng cáp, lông tơ vẫn đang phát triển nhiều. Vì vậy gà chịu lạnh rất kém. Mặt và bắp thịt đỏ dần và rất hay cắn đá nhau.
Trọng lượng khoảng 300-400g, gà ăn rất khỏe và hoạt bát.
2. Cách chọn thức ăn cho gà Đông Tảo:
Thời điểm này, gà Đông Tảo thuần chủng 1 tháng tuổi cần được bổ xung rất nhiều tinh bột và các chất khoáng cần thiết để phát triển cơ thể. Bà con nên cho gà ăn cám mảnh có kèm ăn cơm, thóc hoặc ngô mảnh (để gà tập quen dần với thức ăn mới). Cho gà ăn vừa phải, không nên cho ăn quá nhiều, gà dễ mắc bệnh phân trắng.
Bổ sung nước đầy đủ: Thường xuyên kiểm tra và châm nước vào máng uống cho gà, đảm bảo gà luôn có đủ nước uống (đặc biệt khi cho gà ăn). Quý khách nên chú ý nếu gà Đông Tảo con có bệnh đi ngoài thì các bạn nên hòa thuốc kèm với nước để cho gà uống. Trước khi châm nước mới vào bình phải loại bỏ nước cặn trong bình. Dùng nước mưa, nước máy, trường hợp dùng nước giếng phải đảm bảo tiêu chuẩn nước

- Lông ít chịu lạnh rất kém nên nuôi nhốt. Tùy theo độ tuổi của gà mà bà con có kỹ thuật nuôi hợp lý. Gà ở tuổi này nên ủ điện cả ngày lẫn đêm, bổ sung các loại vitamin trong khẩu phần ăn để gà khỏe mạnh và có sức đề kháng.
- Máng ăn, máng uống phải sạch sẽ. Gà ở tuổi này lông tơ vẫn đang phát triển nhiều, mặt và bắp thịt đỏ dần và rất hay cắn đá nhau.
- Khi gà đạt trọng lượng khoảng 300gam-350gam, gà ăn rất khỏe, hoạt bát.
- Mật độ nuôi: 10 con/m2 ( thời gian gà còn bé việc để mật độ đông sẽ giúp giữ ấm cho cả đàn gà)
- Thời gian chiếu sáng 18/24 giờ
. Ban ngày: sử dụng ánh sáng tự nhiên.Buổi trưa các bạn nên đưa gà ra ngoài sưởi nắng tự nhiên, không nên để mãi trong chuồng.
. Ban đêm thắp sáng bằng bóng điện loại 4U: 4-6 giờ và từ 18 giờ đến 22 giờ. Trong trường hợp thời tiết thay đổi, gà có biểu hiện lạnh (dồn đống) thì thắp bóng đèn tròn 75W để sưởi ấm cho đàn gà (1 bóng/25 m2, treo cao so với nền chuồng 1 – 1,5m).
- Bố trí máng ăn, máng uống: máng ăn máng uống đặt liền nhau, sử dụng kiểu máng tròn (đường kính 15 cm), bình quân 30 – 40 con/máng, treo cao 5 – 10 cm so với nền chuồng.
- Chăm sóc, nuôi dưỡng: Cho gà ăn 4 lần/ngày. Lần 1: sáng 07h30 (40%), lần 2: 10h30 (20%), lần 3: 13h 30 (15%), lần 4: 16h30 (25%).

DKT Biotech-VET- Chăm sóc gà đông tảo thuần chủng 1 tháng tuổi

Gà đông tảo 1 tháng tuổi vẫn còn chưa cứng cáp, dễ mắc nhiều bệnh tật. Chính vì vậy ngay từ những bước đầu tiên sau khi đã chọn giống, cần chọn một cách chăm sóc hợp lý.
1. Đặc điểm gà Đông Tảo thuần chủng 1 tháng tuổi:
Một tháng tuổi là giai đoạn gà vẫn chưa thực sự cứng cáp, lông tơ vẫn đang phát triển nhiều. Vì vậy gà chịu lạnh rất kém. Mặt và bắp thịt đỏ dần và rất hay cắn đá nhau.
Trọng lượng khoảng 300-400g, gà ăn rất khỏe và hoạt bát.
2. Cách chọn thức ăn cho gà Đông Tảo:
Thời điểm này, gà Đông Tảo thuần chủng 1 tháng tuổi cần được bổ xung rất nhiều tinh bột và các chất khoáng cần thiết để phát triển cơ thể. Bà con nên cho gà ăn cám mảnh có kèm ăn cơm, thóc hoặc ngô mảnh (để gà tập quen dần với thức ăn mới). Cho gà ăn vừa phải, không nên cho ăn quá nhiều, gà dễ mắc bệnh phân trắng.
Bổ sung nước đầy đủ: Thường xuyên kiểm tra và châm nước vào máng uống cho gà, đảm bảo gà luôn có đủ nước uống (đặc biệt khi cho gà ăn). Quý khách nên chú ý nếu gà Đông Tảo con có bệnh đi ngoài thì các bạn nên hòa thuốc kèm với nước để cho gà uống. Trước khi châm nước mới vào bình phải loại bỏ nước cặn trong bình. Dùng nước mưa, nước máy, trường hợp dùng nước giếng phải đảm bảo tiêu chuẩn nước

- Lông ít chịu lạnh rất kém nên nuôi nhốt. Tùy theo độ tuổi của gà mà bà con có kỹ thuật nuôi hợp lý. Gà ở tuổi này nên ủ điện cả ngày lẫn đêm, bổ sung các loại vitamin trong khẩu phần ăn để gà khỏe mạnh và có sức đề kháng.
- Máng ăn, máng uống phải sạch sẽ. Gà ở tuổi này lông tơ vẫn đang phát triển nhiều, mặt và bắp thịt đỏ dần và rất hay cắn đá nhau.
- Khi gà đạt trọng lượng khoảng 300gam-350gam, gà ăn rất khỏe, hoạt bát.
- Mật độ nuôi: 10 con/m2 ( thời gian gà còn bé việc để mật độ đông sẽ giúp giữ ấm cho cả đàn gà)
- Thời gian chiếu sáng 18/24 giờ
. Ban ngày: sử dụng ánh sáng tự nhiên.Buổi trưa các bạn nên đưa gà ra ngoài sưởi nắng tự nhiên, không nên để mãi trong chuồng.
. Ban đêm thắp sáng bằng bóng điện loại 4U: 4-6 giờ và từ 18 giờ đến 22 giờ. Trong trường hợp thời tiết thay đổi, gà có biểu hiện lạnh (dồn đống) thì thắp bóng đèn tròn 75W để sưởi ấm cho đàn gà (1 bóng/25 m2, treo cao so với nền chuồng 1 – 1,5m).
- Bố trí máng ăn, máng uống: máng ăn máng uống đặt liền nhau, sử dụng kiểu máng tròn (đường kính 15 cm), bình quân 30 – 40 con/máng, treo cao 5 – 10 cm so với nền chuồng.
- Chăm sóc, nuôi dưỡng: Cho gà ăn 4 lần/ngày. Lần 1: sáng 07h30 (40%), lần 2: 10h30 (20%), lần 3: 13h 30 (15%), lần 4: 16h30 (25%).
Đọc thêm
Bệnh đậu dê là một bệnh truyền nhiễm chung cho cả dê và cừu, bệnh lây lan nhanh với các mụn đậu xuất hiện ở nhiều chỗ trên da mặt và niêm mạc miệng, mũi... Dê, cừu non bị bệnh nặng và chết với tỷ lệ cao (30-40%), gây thiệt hại về kinh tế.
Tiêm vắc xin phòng bệnh cho dê, cừu.
Giữ chuồng luôn khô sạch, ấm về mùa đông và thoáng mát vào mùa hè, phát hiện sớm dê, cừu bệnh để cách ly, xử lý và khẩn trương báo cáo lên cơ quan thú y cấp trên.
Xử lý khi dê mắc bệnh
Cách ly triệt để dàn dê mắc bệnh.
Không có thuốc đặc hiệu điều trị bệnh đậu dê.
Bôi các dụng dịch sát trùng lên các mụn đậu, thường dùng dung dịch xanh methylen hoặc dung dịch Iodin 1% bôi lên vết mụn loét, các dung dịch này diệt được vi rút và vi khuẩn ở mụn đậu, làm cho mụn đậu đóng vảy nhanh, bong ra và liền sẹo nhanh.
Khi có hiện tượng viêm nhiễm kế phát ở mũi, miệng và viêm khí quản thì điều trị bằng kháng sinh như AmpiKana hoặc Gentamicin - Doxycyclin, Lincospecto, liều theo khuyến cáo của nhà sản xuất, kết hợp với sử dụng các loại thuốc trợ sức, trợ lực như Urotropin, Vitamin B1, Vitamin C và Cafein.
Trong thời gian điều trị giữ chuồng khô, sạch sẽ, tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng để dê nhanh bình phục.
Khi dịch xảy ra: Phải thực hiện ngay các biện pháp cấp bách để phòng chống dịch như khoanh vùng có dịch, giám sát theo dõi diễn biến của dịch, thường xuyên thông báo tình hình dịch bệnh, các triệu chứng lâm sàng để nhanh chóng xử lý, dùng hóa chất để phun tiêu độc chuồng trại cho các hộ chăn nuôi dê, xử lý xác dê đã bị chết hoặc quá yếu. Ngừng mua bán, trao đổi và vận chuyển dê sang các địa phương khác để phòng tránh bệnh lây lan ra diện rộng, tiêm phòng vắc xin bao vây ổ dịch.
Luân phiên trống chuồng, bãi chăn thả, vệ sinh, tiêu độc khử trùng để tiêu diệt mầm bệnh

DKT Biotech-VET- Cách phòng và xử lý bệnh đậu dê

Bệnh đậu dê là một bệnh truyền nhiễm chung cho cả dê và cừu, bệnh lây lan nhanh với các mụn đậu xuất hiện ở nhiều chỗ trên da mặt và niêm mạc miệng, mũi... Dê, cừu non bị bệnh nặng và chết với tỷ lệ cao (30-40%), gây thiệt hại về kinh tế.
Tiêm vắc xin phòng bệnh cho dê, cừu.
Giữ chuồng luôn khô sạch, ấm về mùa đông và thoáng mát vào mùa hè, phát hiện sớm dê, cừu bệnh để cách ly, xử lý và khẩn trương báo cáo lên cơ quan thú y cấp trên.
Xử lý khi dê mắc bệnh
Cách ly triệt để dàn dê mắc bệnh.
Không có thuốc đặc hiệu điều trị bệnh đậu dê.
Bôi các dụng dịch sát trùng lên các mụn đậu, thường dùng dung dịch xanh methylen hoặc dung dịch Iodin 1% bôi lên vết mụn loét, các dung dịch này diệt được vi rút và vi khuẩn ở mụn đậu, làm cho mụn đậu đóng vảy nhanh, bong ra và liền sẹo nhanh.
Khi có hiện tượng viêm nhiễm kế phát ở mũi, miệng và viêm khí quản thì điều trị bằng kháng sinh như AmpiKana hoặc Gentamicin - Doxycyclin, Lincospecto, liều theo khuyến cáo của nhà sản xuất, kết hợp với sử dụng các loại thuốc trợ sức, trợ lực như Urotropin, Vitamin B1, Vitamin C và Cafein.
Trong thời gian điều trị giữ chuồng khô, sạch sẽ, tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng để dê nhanh bình phục.
Khi dịch xảy ra: Phải thực hiện ngay các biện pháp cấp bách để phòng chống dịch như khoanh vùng có dịch, giám sát theo dõi diễn biến của dịch, thường xuyên thông báo tình hình dịch bệnh, các triệu chứng lâm sàng để nhanh chóng xử lý, dùng hóa chất để phun tiêu độc chuồng trại cho các hộ chăn nuôi dê, xử lý xác dê đã bị chết hoặc quá yếu. Ngừng mua bán, trao đổi và vận chuyển dê sang các địa phương khác để phòng tránh bệnh lây lan ra diện rộng, tiêm phòng vắc xin bao vây ổ dịch.
Luân phiên trống chuồng, bãi chăn thả, vệ sinh, tiêu độc khử trùng để tiêu diệt mầm bệnh

Đọc thêm
 Quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái ở nông hộ, bà con cần lưu ý một số điểm sau đây:
- Lợn nái chửa nuôi theo 2 giai đoạn: giai đoạn I (84 ngày chửa đầu) khối lượng bào thai đạt khoảng 25 - 30%; giai đoạn II (khoảng 30 ngày chửa cuối) bào thai phát triển nhanh, chiếm khoảng 65-70% khối lượng lợn con sơ sinh. Vì vậy để lợn con đạt khối lượng sơ sinh cao cần tăng khoảng 25 - 30% lượng thức ăn cho lợn nái chửa kỳ II, mức tăng tuỳ thuộc vào thể trạng béo hay gầy của lợn nái.
- Trong thời kỳ mang thai, lợn nái cần lượng chất khoáng nhiều hơn để phát triển hệ xương của bào thai. Khi khẩu phần ăn của lợn mẹ không đủ, sẽ phải huy động nhiều chất khoáng từ cơ thể lợn mẹ (đặc biệt là canxi và phốt pho từ xương) để nuôi thai. Vì thế, lợn mẹ bị thiếu chất khoáng và dễ dẫn tới bại liệt.
- Bã rượu và thức ăn ủ men có chứa chất kích thích, dễ gây sảy thai. Vì vậy chỉ nên cho lợn ăn dưới 15% trong khẩu phần.

- Những biểu hiện của lợn nái sắp đẻ: lợn nái sắp đẻ thường đi lại nhiều, đái dắt, cào ổ, âm hộ nở to và tiết dịch nhờn màu hồng, vú có thể chảy sữa.
- Đối với lợn nái chửa khi tiêm phòng vắcxin phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của bào thai và chủng loại vắcxin. Vì vậy, khi tiêm phòng cho lợn nên thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắcxin và cán bộ thú y. Chú ý không nên tiêm các loại vắcxin sống (vắc xin nhược độc) cho lợn nái chửa vì dễ gây ảnh hưởng đến thai.
- Cần chuẩn bị cho lợn nái đẻ: vệ sinh chuồng nuôi và lợn nái; chuẩn bị ô úm, lót chuồng và dụng cụ đỡ đẻ (vải xô mềm, cồn i-ốt, bông, kéo, panh, chỉ buộc rốn, kìm bấm nanh…)
- Những biểu hiện lợn đẻ khó: lợn nái co chân rặn nhiều, nước ối ra mà con không ra; quá 1 tiếng vẫn chưa đẻ con tiếp theo; lợn mẹ rặn đẻ yếu.
- Những biện pháp xử lý khi lợn đẻ khó:
  • + Không vội vàng sử dụng ngay thuốc kích thích đẻ (oxi-tô-xin)
  • + Kiểm tra ngôi thai: chụm thẳng 5 đầu ngón tay, nhẹ nhàng đưa vào qua âm đạo theo nhịp rặn đẻ của lợn nái. Dùng các đầu ngón tay lần tìm lợn con để xác định thai thuận ngôi hay không (chú ý phải cắt ngắn móng tay, rửa tay bằng xà phòng, sau đó thoa nhẹ lên tay một ít vadơlin hoặc dầu ăn).
  • + Nếu là thai không thuận ngôi thì phải chỉnh theo hướng thai thuận rồi mới từ từ lôi ra theo nhịp rặn đẻ của lợn mẹ
  • + Nếu là thai to thì lúc đó mới tiêm thuốc oxytocin (oxi-tô-xin) và thuốc trợ lực cho lợn nái (liều sử dụng theo chỉ dẫn của nhà sản xuất) kết hợp nhẹ nhàng lôi lợn con ra theo nhịp rặn đẻ của lợn mẹ.
  • + Nên mời cán bộ thú y trợ giúp khi xác định là lợn nái đẻ khó.
- Khi lợn đẻ bọc phải xé bọc ngay, khẩn trương lấy dịch ở miệng và mũi của lợn con, dùng vải xô, vải mềm, giấy vệ sinh lau sạch lỗ mũi lợn. Lợn con bị ngạt phải thổi hơi ngay vào mồm lợn. Nếu lợn con chưa tỉnh thì ngâm lợn chìm trong nước ấm (30 - 350C) khoảng 5 - 10 phút rồi hô hấp nhân tạo.

DKT Biotech-VET- Những lưu ý khi chăm sóc lợn nái ở nông hộ

 Quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái ở nông hộ, bà con cần lưu ý một số điểm sau đây:
- Lợn nái chửa nuôi theo 2 giai đoạn: giai đoạn I (84 ngày chửa đầu) khối lượng bào thai đạt khoảng 25 - 30%; giai đoạn II (khoảng 30 ngày chửa cuối) bào thai phát triển nhanh, chiếm khoảng 65-70% khối lượng lợn con sơ sinh. Vì vậy để lợn con đạt khối lượng sơ sinh cao cần tăng khoảng 25 - 30% lượng thức ăn cho lợn nái chửa kỳ II, mức tăng tuỳ thuộc vào thể trạng béo hay gầy của lợn nái.
- Trong thời kỳ mang thai, lợn nái cần lượng chất khoáng nhiều hơn để phát triển hệ xương của bào thai. Khi khẩu phần ăn của lợn mẹ không đủ, sẽ phải huy động nhiều chất khoáng từ cơ thể lợn mẹ (đặc biệt là canxi và phốt pho từ xương) để nuôi thai. Vì thế, lợn mẹ bị thiếu chất khoáng và dễ dẫn tới bại liệt.
- Bã rượu và thức ăn ủ men có chứa chất kích thích, dễ gây sảy thai. Vì vậy chỉ nên cho lợn ăn dưới 15% trong khẩu phần.

- Những biểu hiện của lợn nái sắp đẻ: lợn nái sắp đẻ thường đi lại nhiều, đái dắt, cào ổ, âm hộ nở to và tiết dịch nhờn màu hồng, vú có thể chảy sữa.
- Đối với lợn nái chửa khi tiêm phòng vắcxin phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của bào thai và chủng loại vắcxin. Vì vậy, khi tiêm phòng cho lợn nên thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất vắcxin và cán bộ thú y. Chú ý không nên tiêm các loại vắcxin sống (vắc xin nhược độc) cho lợn nái chửa vì dễ gây ảnh hưởng đến thai.
- Cần chuẩn bị cho lợn nái đẻ: vệ sinh chuồng nuôi và lợn nái; chuẩn bị ô úm, lót chuồng và dụng cụ đỡ đẻ (vải xô mềm, cồn i-ốt, bông, kéo, panh, chỉ buộc rốn, kìm bấm nanh…)
- Những biểu hiện lợn đẻ khó: lợn nái co chân rặn nhiều, nước ối ra mà con không ra; quá 1 tiếng vẫn chưa đẻ con tiếp theo; lợn mẹ rặn đẻ yếu.
- Những biện pháp xử lý khi lợn đẻ khó:
  • + Không vội vàng sử dụng ngay thuốc kích thích đẻ (oxi-tô-xin)
  • + Kiểm tra ngôi thai: chụm thẳng 5 đầu ngón tay, nhẹ nhàng đưa vào qua âm đạo theo nhịp rặn đẻ của lợn nái. Dùng các đầu ngón tay lần tìm lợn con để xác định thai thuận ngôi hay không (chú ý phải cắt ngắn móng tay, rửa tay bằng xà phòng, sau đó thoa nhẹ lên tay một ít vadơlin hoặc dầu ăn).
  • + Nếu là thai không thuận ngôi thì phải chỉnh theo hướng thai thuận rồi mới từ từ lôi ra theo nhịp rặn đẻ của lợn mẹ
  • + Nếu là thai to thì lúc đó mới tiêm thuốc oxytocin (oxi-tô-xin) và thuốc trợ lực cho lợn nái (liều sử dụng theo chỉ dẫn của nhà sản xuất) kết hợp nhẹ nhàng lôi lợn con ra theo nhịp rặn đẻ của lợn mẹ.
  • + Nên mời cán bộ thú y trợ giúp khi xác định là lợn nái đẻ khó.
- Khi lợn đẻ bọc phải xé bọc ngay, khẩn trương lấy dịch ở miệng và mũi của lợn con, dùng vải xô, vải mềm, giấy vệ sinh lau sạch lỗ mũi lợn. Lợn con bị ngạt phải thổi hơi ngay vào mồm lợn. Nếu lợn con chưa tỉnh thì ngâm lợn chìm trong nước ấm (30 - 350C) khoảng 5 - 10 phút rồi hô hấp nhân tạo.

Đọc thêm