Hầu hết các trại gà trong tỉnh Khánh Hòa đều thiệt hại nặng do cơn bão số 12. Hiện nay, bên cạnh nỗ lực khắc phục khó khăn, đưa trại gà hoạt động trở lại, các chủ trại đều mong muốn Nhà nước có chính sách hỗ trợ để giảm bớt khó khăn.
Thiệt hại nặng nề
Khu vực trại gà thôn Đồng Bé (xã Diên Thọ, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa), có 5 chủ nuôi gà với hàng chục dãy chuồng trại lợp bằng mái tôn đều bị bão cuốn phăng, xếp thành dãy dài, bẹp dúm. Phờ phạc sau nhiều đêm mất ngủ và nỗi buồn vì phút chốc gia sản tiền tỷ tan theo mây khói, ông chủ trại gà Phạm Hữu Nghĩa mếu máo: “Nhà sập, toàn bộ 4 dãy chuồng tổng diện tích 3.200m2 cũng sập, đè chết hơn 2.000 con gà mái. Mấy ngày nay tôi chẳng thiết ăn uống, làm gì nữa”.
Tổng thiệt hại do bão đối với trại gà của ông Nghĩa lên tới 1,2 tỷ đồng. Để cứu 8.000 con gà còn lại (4.000 gà đẻ, 4.000 gà hậu bị), ông che tạm 2 lán nhỏ, mỗi lán gần 200m2 để có nơi cho gà ở. Vì làm tạm nên việc cho ăn, uống, vệ sinh, thu trứng và quản lý gặp nhiều khó khăn. “Lán trại tuềnh toàng, nên nguy cơ dịch bệnh rất cao do gà tiếp xúc trực tiếp với đất, môi trường gió lạnh, vệ sinh kém. Tôi mong muốn Nhà nước hỗ trợ cho vay vốn (300 triệu đồng) để sớm khắc phục thiệt hại”, ông Nghĩa nói.
Trại gà của ông Võ Đông Anh (Cẩm Sơn, Diên Thọ, Diên Khánh) cũng tan tành do bão. Hơn 1.000m2 chuồng trại chỉ trơ lại khung sắt, 1.000 con gà hậu bị bị đè chết trong tổng đàn 5.000 gà đẻ và 3.500 gà hậu bị. Đồng thời, dàn cây sưa 8 năm tuổi của ông cũng bị gãy, đổ hư hỏng hết 200 cây. Tổng thiệt hại hơn nửa tỷ đồng.
Trại gà của ông Trần Văn Hiếu (Vạn Thuận, xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa) cũng đổ nát như một bãi chiến trường. Đây là trại gà điển hình của thị xã Ninh Hòa được cấp giấy chứng nhận trang trại an toàn vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm. Nhặt nhạnh những gì còn sót lại, ông Hiếu cho biết, trước bão trang trại có 6.000 gà đẻ và 3.000 gà hậu bị (4,5 tháng tuổi). Sau bão, số gà đẻ, gà hậu bị do thiếu nước, đè nhau chết chỉ tận thu bán được 1.800 con, còn lại phải đốt bỏ tiêu hủy. Bên cạnh đó, bão còn làm tốc mái, sập tường nhiều diện tích nơi làm việc và nhà ở của công nhân, thiệt hại hơn 3,8 tỷ đồng. “17 - 18 năm tâm huyết, tích cóp vốn nuôi gà nay tay trắng. Bây giờ tôi chỉ biết cố gắng khắc phục làm lại 1 - 2 dãy chuồng kiếm lợi tức sống qua ngày và mong Nhà nước sớm có chính sách hỗ trợ”, ông Hiếu nói.
Trại gà của ông Anh chỉ còn trơ khung sắt
Đang thống kê thiệt hại
Theo Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn huyện Cam Lâm, TP. Cam Ranh, thiệt hại các trang trại gà tại 2 địa phương này không lớn. Tại huyện Vạn Ninh, ông Nguyễn Ngọc Ý - Trưởng phòng Kinh tế cho hay, trang trại gà trên địa bàn huyện không nhiều, chỉ có vài trại nuôi theo hình thức gia trại, không phải quy mô doanh nghiệp, chủ yếu tại 2 xã Vạn Thắng và Vạn Bình, mỗi trại vài ngàn con nhưng đến nay chưa có số liệu thống kê chính thức. Huyện đã giao Trạm Chăn nuôi và Thú y phối hợp với các địa phương thống kê, rà soát, bổ sung để có kế hoạch hỗ trợ bà con theo quy định.
Thị xã Ninh Hòa cũng đang triển khai việc thống kê, tổng hợp số liệu. Đến ngày 12-11, toàn thị xã có 50.166 con gia cầm bị chết, cuốn trôi. Theo lãnh đạo Phòng Kinh tế thị xã, việc thống kê thực hiện theo biểu quy định, không tách từng đối tượng gia súc, gia cầm (trâu, bò, gà, vịt) nên không có số liệu riêng về gà.
Ông Nguyễn Lương Thao - Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh cho biết, hiện nay, các địa phương vẫn đang triển khai việc rà soát, thống kê số lượng gà bị thiệt hại do bão. Về hỗ trợ thiệt hại do thiên tai, Trung ương có Nghị định 02/2017 về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; UBND tỉnh có Quyết định 2229/QĐ-UBND (4-8-2017) quy định mức hỗ trợ cụ thể giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn tỉnh. “Tuy nhiên, theo Quyết định 2229, để có phương án hỗ trợ, việc thống kê, rà soát phải hết sức cụ thể, bởi văn bản quy định việc hỗ trợ theo lứa tuổi gia súc, gia cầm. Ví dụ: gà đến 15 ngày tuổi hỗ trợ 10.000 đồng/con; 28 ngày tuổi hỗ trợ 20.000 đồng/con; 28 - 60 ngày tuổi hỗ trợ 30.000 đồng/con và trên 60 ngày tuổi hỗ trợ 35.000 đồng/con. Vì thế, việc thống kê phải tỉ mỉ, mất nhiều thời gian, hiện nay, các địa phương vẫn đang triển khai”, ông Thao cho biết.

DTK Biotech-Vet - Tan hoang trại gà

Hầu hết các trại gà trong tỉnh Khánh Hòa đều thiệt hại nặng do cơn bão số 12. Hiện nay, bên cạnh nỗ lực khắc phục khó khăn, đưa trại gà hoạt động trở lại, các chủ trại đều mong muốn Nhà nước có chính sách hỗ trợ để giảm bớt khó khăn.
Thiệt hại nặng nề
Khu vực trại gà thôn Đồng Bé (xã Diên Thọ, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa), có 5 chủ nuôi gà với hàng chục dãy chuồng trại lợp bằng mái tôn đều bị bão cuốn phăng, xếp thành dãy dài, bẹp dúm. Phờ phạc sau nhiều đêm mất ngủ và nỗi buồn vì phút chốc gia sản tiền tỷ tan theo mây khói, ông chủ trại gà Phạm Hữu Nghĩa mếu máo: “Nhà sập, toàn bộ 4 dãy chuồng tổng diện tích 3.200m2 cũng sập, đè chết hơn 2.000 con gà mái. Mấy ngày nay tôi chẳng thiết ăn uống, làm gì nữa”.
Tổng thiệt hại do bão đối với trại gà của ông Nghĩa lên tới 1,2 tỷ đồng. Để cứu 8.000 con gà còn lại (4.000 gà đẻ, 4.000 gà hậu bị), ông che tạm 2 lán nhỏ, mỗi lán gần 200m2 để có nơi cho gà ở. Vì làm tạm nên việc cho ăn, uống, vệ sinh, thu trứng và quản lý gặp nhiều khó khăn. “Lán trại tuềnh toàng, nên nguy cơ dịch bệnh rất cao do gà tiếp xúc trực tiếp với đất, môi trường gió lạnh, vệ sinh kém. Tôi mong muốn Nhà nước hỗ trợ cho vay vốn (300 triệu đồng) để sớm khắc phục thiệt hại”, ông Nghĩa nói.
Trại gà của ông Võ Đông Anh (Cẩm Sơn, Diên Thọ, Diên Khánh) cũng tan tành do bão. Hơn 1.000m2 chuồng trại chỉ trơ lại khung sắt, 1.000 con gà hậu bị bị đè chết trong tổng đàn 5.000 gà đẻ và 3.500 gà hậu bị. Đồng thời, dàn cây sưa 8 năm tuổi của ông cũng bị gãy, đổ hư hỏng hết 200 cây. Tổng thiệt hại hơn nửa tỷ đồng.
Trại gà của ông Trần Văn Hiếu (Vạn Thuận, xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa) cũng đổ nát như một bãi chiến trường. Đây là trại gà điển hình của thị xã Ninh Hòa được cấp giấy chứng nhận trang trại an toàn vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm. Nhặt nhạnh những gì còn sót lại, ông Hiếu cho biết, trước bão trang trại có 6.000 gà đẻ và 3.000 gà hậu bị (4,5 tháng tuổi). Sau bão, số gà đẻ, gà hậu bị do thiếu nước, đè nhau chết chỉ tận thu bán được 1.800 con, còn lại phải đốt bỏ tiêu hủy. Bên cạnh đó, bão còn làm tốc mái, sập tường nhiều diện tích nơi làm việc và nhà ở của công nhân, thiệt hại hơn 3,8 tỷ đồng. “17 - 18 năm tâm huyết, tích cóp vốn nuôi gà nay tay trắng. Bây giờ tôi chỉ biết cố gắng khắc phục làm lại 1 - 2 dãy chuồng kiếm lợi tức sống qua ngày và mong Nhà nước sớm có chính sách hỗ trợ”, ông Hiếu nói.
Trại gà của ông Anh chỉ còn trơ khung sắt
Đang thống kê thiệt hại
Theo Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn huyện Cam Lâm, TP. Cam Ranh, thiệt hại các trang trại gà tại 2 địa phương này không lớn. Tại huyện Vạn Ninh, ông Nguyễn Ngọc Ý - Trưởng phòng Kinh tế cho hay, trang trại gà trên địa bàn huyện không nhiều, chỉ có vài trại nuôi theo hình thức gia trại, không phải quy mô doanh nghiệp, chủ yếu tại 2 xã Vạn Thắng và Vạn Bình, mỗi trại vài ngàn con nhưng đến nay chưa có số liệu thống kê chính thức. Huyện đã giao Trạm Chăn nuôi và Thú y phối hợp với các địa phương thống kê, rà soát, bổ sung để có kế hoạch hỗ trợ bà con theo quy định.
Thị xã Ninh Hòa cũng đang triển khai việc thống kê, tổng hợp số liệu. Đến ngày 12-11, toàn thị xã có 50.166 con gia cầm bị chết, cuốn trôi. Theo lãnh đạo Phòng Kinh tế thị xã, việc thống kê thực hiện theo biểu quy định, không tách từng đối tượng gia súc, gia cầm (trâu, bò, gà, vịt) nên không có số liệu riêng về gà.
Ông Nguyễn Lương Thao - Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh cho biết, hiện nay, các địa phương vẫn đang triển khai việc rà soát, thống kê số lượng gà bị thiệt hại do bão. Về hỗ trợ thiệt hại do thiên tai, Trung ương có Nghị định 02/2017 về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; UBND tỉnh có Quyết định 2229/QĐ-UBND (4-8-2017) quy định mức hỗ trợ cụ thể giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn tỉnh. “Tuy nhiên, theo Quyết định 2229, để có phương án hỗ trợ, việc thống kê, rà soát phải hết sức cụ thể, bởi văn bản quy định việc hỗ trợ theo lứa tuổi gia súc, gia cầm. Ví dụ: gà đến 15 ngày tuổi hỗ trợ 10.000 đồng/con; 28 ngày tuổi hỗ trợ 20.000 đồng/con; 28 - 60 ngày tuổi hỗ trợ 30.000 đồng/con và trên 60 ngày tuổi hỗ trợ 35.000 đồng/con. Vì thế, việc thống kê phải tỉ mỉ, mất nhiều thời gian, hiện nay, các địa phương vẫn đang triển khai”, ông Thao cho biết.
Đọc thêm
Cúm gia cầm là chủ đề chưa bao giờ hết hot trong chăn nuôi gà từ trước đến nay. Không chỉ bởi những thiệt hại mà chúng mang đến mà bởi vì có những lúc, con người thực sự cảm thấy bất lực trước sự tàn phá của nó.
Trường hợp cúm gia cầm điển hình trong thực tế
Gà con 40 ngày tuổi nhiễm cúm gia cầm, mào sưng và tím tái.
Trường hợp cúm gia cầm điển hình trong thực tế
Các triệu chứng của cúm gia cầm trên gà con thả vườn, mào và chân tím tái.
Dù chân đã tím tái nhưng chú gà thả vườn này vẫn có thể di chuyển hoạt động bình thường. Nếu là gà thịt công nghiệp nhiễm cúm gia cầm trong trường hợp này thì đa phần đã bại liệt, trầm cảm và nằm im một chỗ.
Trường hợp cúm gia cầm điển hình trong thực tế
Gà nhiễm bệnh chân bắt đầu co cứng. 
Đàn gà này không hề tiêm vaccine cúm gia cầm trước đó nên khi mầm bệnh tấn công thì xuất hiện các triệu chứng rất điển hình: chân xuất huyết tím tái. Một số con đã chết trước đó 2 ngày.
Trường hợp cúm gia cầm điển hình trong thực tế
Xuất huyết chân khi gà mắc cúm gia cầm
Toàn bộ phần chân xuất huyết, tím tái.
Viêm kết mạc nhẹ.
Phần xoang bụng và các cơ quan nội tạng không có nhiều biểu hiện rõ ràng.
Ruột không có tổn thương đáng kể nào.
Phần dạ dày tuyến và dạ dày cơ trong trường hợp này cũng không có biểu hiện đáng kể nào.
Triệu chứng điển hình nhất trong trường hợp gà nhiễm cúm gia cầm H5N1 này chính là xuất huyết dưới da gây tím tái ở 2 chân; mào sưng phù nề và tím tái. Tiếp đó là tỷ lệ tử vong tăng cao, gà chết đột ngột.
Tuy vậy trong thực tế, không phải lúc nào bệnh cũng biểu hiện rõ ràng như trên. Đa phần, gà nhiễm bệnh sẽ chết rất đột ngột thậm chí ta không nhìn thấy một dấu hiệu bệnh lý nào của cúm gia cầm nên việc chẩn đoán dựa vào các triệu chứng bệnh tích trong thực tế thường không khả thi. Chúng ta cần được hỗ trợ các biện pháp kiểm tra nhanh để chẩn đoán sớm.

DTK Biotech-Vet - Trường hợp cúm gia cầm điển hình trong thực tế

Cúm gia cầm là chủ đề chưa bao giờ hết hot trong chăn nuôi gà từ trước đến nay. Không chỉ bởi những thiệt hại mà chúng mang đến mà bởi vì có những lúc, con người thực sự cảm thấy bất lực trước sự tàn phá của nó.
Trường hợp cúm gia cầm điển hình trong thực tế
Gà con 40 ngày tuổi nhiễm cúm gia cầm, mào sưng và tím tái.
Trường hợp cúm gia cầm điển hình trong thực tế
Các triệu chứng của cúm gia cầm trên gà con thả vườn, mào và chân tím tái.
Dù chân đã tím tái nhưng chú gà thả vườn này vẫn có thể di chuyển hoạt động bình thường. Nếu là gà thịt công nghiệp nhiễm cúm gia cầm trong trường hợp này thì đa phần đã bại liệt, trầm cảm và nằm im một chỗ.
Trường hợp cúm gia cầm điển hình trong thực tế
Gà nhiễm bệnh chân bắt đầu co cứng. 
Đàn gà này không hề tiêm vaccine cúm gia cầm trước đó nên khi mầm bệnh tấn công thì xuất hiện các triệu chứng rất điển hình: chân xuất huyết tím tái. Một số con đã chết trước đó 2 ngày.
Trường hợp cúm gia cầm điển hình trong thực tế
Xuất huyết chân khi gà mắc cúm gia cầm
Toàn bộ phần chân xuất huyết, tím tái.
Viêm kết mạc nhẹ.
Phần xoang bụng và các cơ quan nội tạng không có nhiều biểu hiện rõ ràng.
Ruột không có tổn thương đáng kể nào.
Phần dạ dày tuyến và dạ dày cơ trong trường hợp này cũng không có biểu hiện đáng kể nào.
Triệu chứng điển hình nhất trong trường hợp gà nhiễm cúm gia cầm H5N1 này chính là xuất huyết dưới da gây tím tái ở 2 chân; mào sưng phù nề và tím tái. Tiếp đó là tỷ lệ tử vong tăng cao, gà chết đột ngột.
Tuy vậy trong thực tế, không phải lúc nào bệnh cũng biểu hiện rõ ràng như trên. Đa phần, gà nhiễm bệnh sẽ chết rất đột ngột thậm chí ta không nhìn thấy một dấu hiệu bệnh lý nào của cúm gia cầm nên việc chẩn đoán dựa vào các triệu chứng bệnh tích trong thực tế thường không khả thi. Chúng ta cần được hỗ trợ các biện pháp kiểm tra nhanh để chẩn đoán sớm.
Đọc thêm
Nuôi gà trên đệm lót sinh học là phương pháp dễ làm, từ những nguyên liệu sẵn có, giúp giảm chi phí trong quá trình chăn nuôi, tuy nhiên nếu không thực hiện đúng cách có thể dẫn đến một số mầm bệnh cho gà.
Cách làm đệm lót
Bước 1: Rải trấu lên toàn bộ nền chuồng dầy 10cm (gà thịt) hoặc trên 15cm (gà đẻ), sau đó thả gà vào nuôi.
Bước 2: Sau một thời gian (sau 7- 10 ngày đối với gà nuôi úm, sau 2-3 ngày đối với gà lớn) quan sát thấy khi nào phân rải khắp trên bề mặt chuồng thì rắc men.
Cách rắc men: Lấy 1kg BALASA-N01 đem trộn thật đều với 1 kg bột ngô (có thể là cám gạo, bột sắn hay bột ngô đều được), sau đó đem rắc đều len toàn bộ bề mặt độn lót là được.
Phương pháp sử dụng và bảo dưỡng
– Chỉ cần rắc men một lần trong suốt quá trình nuôi.
– Cứ sau một vài ngày (tùy lượng phân nhiều hay ít) cào nhẹ trên bề mặt đệm lót một lần để giúp vùi phân và làm cho đệm lót được thông thoáng để thoát mùi hăng hắc do tiêu hủy phân sinh ra.
– Tránh làm đệm lót bị ướt (nước uống và nước mưa hắt…). Nếu thấy nước rớt làm ướt đệm lót ở khu vực máng uống thì phải thay ngay bằng lớp trấu mới.
– Đệm lót lên men có sự khử trùng tốt nên không cần phun thuốc khử trùng định kỳ lên mặt đệm lót.
– Ở tháng nóng nhất trong mùa hè phải có biện pháp chống nóng.
– Nếu nuôi với mật độ gà thích hợp, phương pháp sử dụng và bảo dưỡng tốt thì đệm lót có thể kéo dài hàng năm.
Chú ý trong việc chống nóng
Do đệm lót luôn sinh nhiệt nên ở các mùa có thời tiết mát lạnh thì nuôi gà rất tốt hoặc ở tháng có nhiệt độ không quá nóng mà có biện pháp chống nóng tốt cũng sẽ ảnh hưởng nhiều.
Với úm gà và nuôi gà đẻ lồng tầng ở chuồng kín không cần chống nóng:
– Do gà con cần nhiệt độ chuồng nuôi cao nên làm đệm lót lên men chuồng để úm gà sẽ có được hiệu quả rất tốt ở tất cả các mùa trong năm.
– Nuôi gà đẻ lồng tầng ở chuồng kín cũng có thể duy trì đệm lót chuồng quanh năm, gà không trực tiếp sống trên đệm lót.
Chống nóng trong mùa hè chủ yếu đối với gà nuôi thịt, gà đẻ trên nền chuồng láng xi măng hoặc lát gạch. Cụ thể: Cần mở hết cửa cho thông thoáng, nếu cần phải dùng quạt hơi nước để thoát hơi nóng và làm mát chuồng nuôi, tránh bị om nhiệt trong chuồng làm cho gà bị xỉu, có thể bị chết; Trong trường hợp không có biện pháp chống nóng tốt thì trong vài tháng nóng nhất có thể thực hiện nuôi trên đệm lót mỏng định kỳ thay mới.

DTK Biotech-Vet - Lưu ý khi làm đệm lót sinh học nuôi gà

Nuôi gà trên đệm lót sinh học là phương pháp dễ làm, từ những nguyên liệu sẵn có, giúp giảm chi phí trong quá trình chăn nuôi, tuy nhiên nếu không thực hiện đúng cách có thể dẫn đến một số mầm bệnh cho gà.
Cách làm đệm lót
Bước 1: Rải trấu lên toàn bộ nền chuồng dầy 10cm (gà thịt) hoặc trên 15cm (gà đẻ), sau đó thả gà vào nuôi.
Bước 2: Sau một thời gian (sau 7- 10 ngày đối với gà nuôi úm, sau 2-3 ngày đối với gà lớn) quan sát thấy khi nào phân rải khắp trên bề mặt chuồng thì rắc men.
Cách rắc men: Lấy 1kg BALASA-N01 đem trộn thật đều với 1 kg bột ngô (có thể là cám gạo, bột sắn hay bột ngô đều được), sau đó đem rắc đều len toàn bộ bề mặt độn lót là được.
Phương pháp sử dụng và bảo dưỡng
– Chỉ cần rắc men một lần trong suốt quá trình nuôi.
– Cứ sau một vài ngày (tùy lượng phân nhiều hay ít) cào nhẹ trên bề mặt đệm lót một lần để giúp vùi phân và làm cho đệm lót được thông thoáng để thoát mùi hăng hắc do tiêu hủy phân sinh ra.
– Tránh làm đệm lót bị ướt (nước uống và nước mưa hắt…). Nếu thấy nước rớt làm ướt đệm lót ở khu vực máng uống thì phải thay ngay bằng lớp trấu mới.
– Đệm lót lên men có sự khử trùng tốt nên không cần phun thuốc khử trùng định kỳ lên mặt đệm lót.
– Ở tháng nóng nhất trong mùa hè phải có biện pháp chống nóng.
– Nếu nuôi với mật độ gà thích hợp, phương pháp sử dụng và bảo dưỡng tốt thì đệm lót có thể kéo dài hàng năm.
Chú ý trong việc chống nóng
Do đệm lót luôn sinh nhiệt nên ở các mùa có thời tiết mát lạnh thì nuôi gà rất tốt hoặc ở tháng có nhiệt độ không quá nóng mà có biện pháp chống nóng tốt cũng sẽ ảnh hưởng nhiều.
Với úm gà và nuôi gà đẻ lồng tầng ở chuồng kín không cần chống nóng:
– Do gà con cần nhiệt độ chuồng nuôi cao nên làm đệm lót lên men chuồng để úm gà sẽ có được hiệu quả rất tốt ở tất cả các mùa trong năm.
– Nuôi gà đẻ lồng tầng ở chuồng kín cũng có thể duy trì đệm lót chuồng quanh năm, gà không trực tiếp sống trên đệm lót.
Chống nóng trong mùa hè chủ yếu đối với gà nuôi thịt, gà đẻ trên nền chuồng láng xi măng hoặc lát gạch. Cụ thể: Cần mở hết cửa cho thông thoáng, nếu cần phải dùng quạt hơi nước để thoát hơi nóng và làm mát chuồng nuôi, tránh bị om nhiệt trong chuồng làm cho gà bị xỉu, có thể bị chết; Trong trường hợp không có biện pháp chống nóng tốt thì trong vài tháng nóng nhất có thể thực hiện nuôi trên đệm lót mỏng định kỳ thay mới.
Đọc thêm
Nhằm nâng cao chất lượng đàn bò Việt Nam, Nhà nước đã tiến hành chương trình Sind hóa đàn bò trên cả nước nghĩa là sử dụng bò đực Sind hoặc tinh của nó phối cho bò Vàng Việt Nam để tạo ra con Lai Sind có tầm vóc lớn hơn.
Để nuôi bò Lai Sind đạt hiệu quả đòi hỏi người nuôi phải biết chăm sóc đúng kỹ thuật và đảm bảo lượng thức ăn cho bò. Sau đây chúng tôi xin được phổ biến tới bà con chăn nuôi một số đặc điểm cơ bản về bò Lai Sind cũng như kỹ thuật nuôi dưỡng:
1. Khái niệm:
Bò Lai Sind là kết quả tạp giao giữa bò Red Sindhi hoặc bò Sahiwal với bò Vàng Việt Nam. Tỷ lệ máu của bò Lai Sind thay đổi rất lớn giữa các cá thể và do đó mà ngoại hình và sức sản xuất cũng thay đổi tương ứng.
Hướng dẫn nuôi bò Lai Sind
2. Ngoại hình:
Ngoại hình của bò Lai Sind trung gian giữa bò Sind và bò Vàng VN.
+ Đầu hẹp, trán gồ, tai to cụp xuống.
+ Rốn và yếm rất phát triển: yếm kéo dài từ hầu đến rốn; nhiều nếp nhăn.
+ U vai nổi rõ. Âm hộ có nhiều nếp nhăn.
+ Lưng ngắn, ngực sâu, mông dốc.
+ Bầu vú khá phát triển, đuôi dài, chót đuôi thường không có xương.
+ Màu lông thường là vàng hoặc sẫm, một số ít con có vá trắng.
3. Tính năng sản xuất:
Thể vóc lớn hơn bò Vàng:
+ Khối lượng sơ sinh 17 – 19kg,
+ Trưởng thành 250 – 350kg đối với con cái, 400 – 450 kg đối với con đực.
+ Có thể phối giống lần đầu lúc 18 – 24 tháng tuổi.
+ Khoảng cách lúa đẻ khoảng 15 tháng.
+ Năng suất sữa khoảng 1200 – 1400kg/240 – 270 ngày, mỡ sữa: 5 – 5,5
+ Có thể dùng làm nền để lai với bò sữa tạo ra các con lai cho sữa tốt.
+ Tỉ lệ thịt xẻ 48 – 49% (bò thiến).
+ Có thể dùng làm nền để lai với bò đực chuyên dụng thịt thành bò lai hướng thịt.
Bò này có khả năng cày kéo tốt: sức kéo trung bình 560 – 600N, tối đa: cái 1300 – 2500N,đực 2000 – 3000N.
Bò Lai Sind chịu đựng kham khổ tốt, khả năng chống bệnh tật cao, thích nghi tốt được với khí hậu nóng ẩm.
4. Kỹ thuật nuôi bò lai Sind:
4.1. Chọn giống:
a. Chọn nuôi thịt
Chọn những con tốt, thân hình vạm vỡ, mình tròn, phía mông và vai phát triển như nhau giống hình trụ. Nên biết rõ nguồn góc và tính năng sản xuất của đời bố mẹ.
b. Chọn nuôi sinh sản
Chọn những con cái nhanh nhẹn, da mỏng, lông thưa, thuần tính, hiền lành, có sự hài hoà giữa các phần đầu và cổ, thân và vai; ngực sâu, rộng, bầu vú phát triển.
4.2. Thức ăn, dinh dưỡng:
– Nguồn thức ăn chủ yếu của bò gồm các loại cỏ tươi, rơm rạ, cỏ khô, thức ăn xanh thô và củ, quả…
– Ngoài ra nên sử dụng thức ăn ủ chua hoặc rơm được kiềm hóa và thức ăn tinh chế chủ động trong việc tìm thức ăn cho bò.
4.3. Nuôi dưỡng, chăm sóc, thú y:
4.3.1 Nuôi dưỡng, chăm sóc
– Bò cái chửa: Cần cho ăn uống đầy đủ, tránh cày kéo nặng, đặc biệt là ở những tháng chửa cuối cùng. Nhu cầu ăn mỗi ngày là: 25 – 30kg cỏ tươi, 2kg rơm, 1 kg thức ăn tinh và 20 – 30g muối.
– Bò cái nuôi con: Ngoài khẩu phần trên, cần cho thêm các thức ăn củ quả tươi và thức ăn tinh để bò cái tăng khả năng tiết sữa nuôi con.
– Bê con: Tập cho bê con ăn cỏ khô từ tháng thứ 2, cỏ tươi và củ quả từ tháng thứ 4 và cai sữa từ tháng thứ 6. Khi trời nắng ấm nên cho bê con vận động tự do. Nhu cầu ăn mỗi ngày 5 – 10kg cỏ tươi, 0,2 – 0,3kg thức ăn tinh.
– Bê từ 6 – 24 tháng: Trường hợp nuôi chuồng phải thường xuyên cho bò, bê ra sân vận động từ 2 – 4 giờ/ngày. Nhu cầu ăn một ngày: 10 – 15kg cỏ tươi và cho ăn thêm các thức ăn tận dụng khác như ngọn mía, dây khoai, rơm rạ, cỏ khô, cỏ ủ chua và củ quả thay thế.
– Để có bò thịt đạt khối lượng cuối cùng khi giết thịt từ 250 – 300kg lúc 24 tháng tuổi cần nuôi vỗ béo bò trong khoảng 80 – 90 ngày trước khi bán bằng thức ăn tinh 1 kg/con/ ngày.
Chú ý :
Muốn nuôi bò thịt có hiệu quả kinh doanh cao, người chăn nuôi phải biết tận dụng khả năng tiêu hóa thức ăn xanh thô của chúng. Cho bò ăn no, đủ cỏ tươi và các loại củ quả. Trường hợp thiếu cỏ tươi có thể thay thế:
1kg cỏ khô = 4 – 5kg cỏ tươi
1kg cỏ ủ chua, 1kg rơm ủ urê, 1 kg củ quả = 2kg cỏ tươi
4.3.2. Thú y
Thực hiện tốt lịch tiêm phòng các loại bệnh tụ huyết trùng, lở mồm long móng… theo quy định của ngành thú y đề ra. Định kỳ tẩy giun, sán (sán lá gan, sán dạ cỏ…) cho bò bằng các loại thuốc đặc hiệu như dùng thuốc tẩy giun Lêvamisol với liều lượng 1ml/8-10 kg trọng lượng bò hơi; thuốc tẩy sán DextilB với liều 1 viên thuốc dùng cho 75 kg trọng lượng bò hơi, phòng trị các loại bệnh ký sinh trùng đường máu cho bò.

DTK Biotech-Vet - Hướng dẫn nuôi bò Lai Sind

Nhằm nâng cao chất lượng đàn bò Việt Nam, Nhà nước đã tiến hành chương trình Sind hóa đàn bò trên cả nước nghĩa là sử dụng bò đực Sind hoặc tinh của nó phối cho bò Vàng Việt Nam để tạo ra con Lai Sind có tầm vóc lớn hơn.
Để nuôi bò Lai Sind đạt hiệu quả đòi hỏi người nuôi phải biết chăm sóc đúng kỹ thuật và đảm bảo lượng thức ăn cho bò. Sau đây chúng tôi xin được phổ biến tới bà con chăn nuôi một số đặc điểm cơ bản về bò Lai Sind cũng như kỹ thuật nuôi dưỡng:
1. Khái niệm:
Bò Lai Sind là kết quả tạp giao giữa bò Red Sindhi hoặc bò Sahiwal với bò Vàng Việt Nam. Tỷ lệ máu của bò Lai Sind thay đổi rất lớn giữa các cá thể và do đó mà ngoại hình và sức sản xuất cũng thay đổi tương ứng.
Hướng dẫn nuôi bò Lai Sind
2. Ngoại hình:
Ngoại hình của bò Lai Sind trung gian giữa bò Sind và bò Vàng VN.
+ Đầu hẹp, trán gồ, tai to cụp xuống.
+ Rốn và yếm rất phát triển: yếm kéo dài từ hầu đến rốn; nhiều nếp nhăn.
+ U vai nổi rõ. Âm hộ có nhiều nếp nhăn.
+ Lưng ngắn, ngực sâu, mông dốc.
+ Bầu vú khá phát triển, đuôi dài, chót đuôi thường không có xương.
+ Màu lông thường là vàng hoặc sẫm, một số ít con có vá trắng.
3. Tính năng sản xuất:
Thể vóc lớn hơn bò Vàng:
+ Khối lượng sơ sinh 17 – 19kg,
+ Trưởng thành 250 – 350kg đối với con cái, 400 – 450 kg đối với con đực.
+ Có thể phối giống lần đầu lúc 18 – 24 tháng tuổi.
+ Khoảng cách lúa đẻ khoảng 15 tháng.
+ Năng suất sữa khoảng 1200 – 1400kg/240 – 270 ngày, mỡ sữa: 5 – 5,5
+ Có thể dùng làm nền để lai với bò sữa tạo ra các con lai cho sữa tốt.
+ Tỉ lệ thịt xẻ 48 – 49% (bò thiến).
+ Có thể dùng làm nền để lai với bò đực chuyên dụng thịt thành bò lai hướng thịt.
Bò này có khả năng cày kéo tốt: sức kéo trung bình 560 – 600N, tối đa: cái 1300 – 2500N,đực 2000 – 3000N.
Bò Lai Sind chịu đựng kham khổ tốt, khả năng chống bệnh tật cao, thích nghi tốt được với khí hậu nóng ẩm.
4. Kỹ thuật nuôi bò lai Sind:
4.1. Chọn giống:
a. Chọn nuôi thịt
Chọn những con tốt, thân hình vạm vỡ, mình tròn, phía mông và vai phát triển như nhau giống hình trụ. Nên biết rõ nguồn góc và tính năng sản xuất của đời bố mẹ.
b. Chọn nuôi sinh sản
Chọn những con cái nhanh nhẹn, da mỏng, lông thưa, thuần tính, hiền lành, có sự hài hoà giữa các phần đầu và cổ, thân và vai; ngực sâu, rộng, bầu vú phát triển.
4.2. Thức ăn, dinh dưỡng:
– Nguồn thức ăn chủ yếu của bò gồm các loại cỏ tươi, rơm rạ, cỏ khô, thức ăn xanh thô và củ, quả…
– Ngoài ra nên sử dụng thức ăn ủ chua hoặc rơm được kiềm hóa và thức ăn tinh chế chủ động trong việc tìm thức ăn cho bò.
4.3. Nuôi dưỡng, chăm sóc, thú y:
4.3.1 Nuôi dưỡng, chăm sóc
– Bò cái chửa: Cần cho ăn uống đầy đủ, tránh cày kéo nặng, đặc biệt là ở những tháng chửa cuối cùng. Nhu cầu ăn mỗi ngày là: 25 – 30kg cỏ tươi, 2kg rơm, 1 kg thức ăn tinh và 20 – 30g muối.
– Bò cái nuôi con: Ngoài khẩu phần trên, cần cho thêm các thức ăn củ quả tươi và thức ăn tinh để bò cái tăng khả năng tiết sữa nuôi con.
– Bê con: Tập cho bê con ăn cỏ khô từ tháng thứ 2, cỏ tươi và củ quả từ tháng thứ 4 và cai sữa từ tháng thứ 6. Khi trời nắng ấm nên cho bê con vận động tự do. Nhu cầu ăn mỗi ngày 5 – 10kg cỏ tươi, 0,2 – 0,3kg thức ăn tinh.
– Bê từ 6 – 24 tháng: Trường hợp nuôi chuồng phải thường xuyên cho bò, bê ra sân vận động từ 2 – 4 giờ/ngày. Nhu cầu ăn một ngày: 10 – 15kg cỏ tươi và cho ăn thêm các thức ăn tận dụng khác như ngọn mía, dây khoai, rơm rạ, cỏ khô, cỏ ủ chua và củ quả thay thế.
– Để có bò thịt đạt khối lượng cuối cùng khi giết thịt từ 250 – 300kg lúc 24 tháng tuổi cần nuôi vỗ béo bò trong khoảng 80 – 90 ngày trước khi bán bằng thức ăn tinh 1 kg/con/ ngày.
Chú ý :
Muốn nuôi bò thịt có hiệu quả kinh doanh cao, người chăn nuôi phải biết tận dụng khả năng tiêu hóa thức ăn xanh thô của chúng. Cho bò ăn no, đủ cỏ tươi và các loại củ quả. Trường hợp thiếu cỏ tươi có thể thay thế:
1kg cỏ khô = 4 – 5kg cỏ tươi
1kg cỏ ủ chua, 1kg rơm ủ urê, 1 kg củ quả = 2kg cỏ tươi
4.3.2. Thú y
Thực hiện tốt lịch tiêm phòng các loại bệnh tụ huyết trùng, lở mồm long móng… theo quy định của ngành thú y đề ra. Định kỳ tẩy giun, sán (sán lá gan, sán dạ cỏ…) cho bò bằng các loại thuốc đặc hiệu như dùng thuốc tẩy giun Lêvamisol với liều lượng 1ml/8-10 kg trọng lượng bò hơi; thuốc tẩy sán DextilB với liều 1 viên thuốc dùng cho 75 kg trọng lượng bò hơi, phòng trị các loại bệnh ký sinh trùng đường máu cho bò.
Đọc thêm
Những yêu cầu hiện đại đối với gà đẻ đã tạo ra một “lý do hoàn hảo” dẫn đến những nguyên nhân gây tổn thương cho xương lưỡi hái; tiến sĩ Mike Toscano – một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu đã cảnh báo về vấn đề này. “Ngày nay, chúng ta có thể thấy gà có biểu hiện xương yếu và dễ gãy ngày một tăng, nhưng chúng lại sống trong môi trường chuồng nuôi khá phức tạp và nguy hiểm”, ý kiến của tiến sĩ Mike Toscano từ trường đại học Bern, Thụy Sĩ.
Trong cuộc họp mùa xuân mới đây của WPSA tại Chester, tiến sĩ Toscano cho biết: “Giai đoạn sản xuất trứng cao độ sẽ làm thay đổi cấu trúc tổng thể của xương, trong khi cuộc cách mạng nuôi thả trong chuồng thay thế cho kiểu lồng nuôi truyền thống đã tạo ra những thách thức buộc gà phải thích nghi trong chính môi trường sống của chúng. Vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay có liên quan đến sức khỏe của xương chính là tình trạng nứt, gãy xương lưỡi hái. Đến cuối giai đoạn sản xuất trứng, có đến hơn 50% gà trong hệ thống có biểu hiện tổn thương xương lưỡi hái ở mức độ nhất định. Đây thật sự là một vấn đề nghiêm trọng”.
Tìm hiểu về trường hợp tổn thương xương lưỡi hái ở gà đẻ
Tình trạng nứt, gãy xương được ghi nhận ở tất cả các hệ thống chuồng nuôi và trên cả mọi giống di truyền, và dữ liệu tương tự cũng đã được ghi nhận từ Anh, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sĩ và Canada.
Nhu cầu can xi
Nhu cầu canxi trong vỏ trứng là một yếu tố quan trọng. “Với 40% lượng canxi trong vỏ trứng được huy động từ xương xuyên suốt giai đoạn sản xuất trứng kéo dài, các bạn sẽ thấy tình trạng xương bị mất khoáng chất và gà có khuynh hướng bị gãy xương. Kết quả gãy xương được cho là phát sinh từ sự va chạm nội lực bên trong cấu trúc ống xương, mặc dù hệ thống những vết nứt không giống cơ chế va chạm cơ học.”
Những vấn đề về xương khác bao gồm tình trạng xương lưỡi hái bị cong vẹo xuất hiện khi gà bay lên xuống, bị chấn thương khi vận chuyển gà hậu bị và gà già.
Có ý kiến cho rằng nhu cầu canxi cần cho sản xuất trứng ngày nay và khi gà bước vào giai đoạn sản xuất cao độ là nguyên nhân gây nứt, gãy xương lưỡi hái, nhưng những bằng chứng gần đây cho thấy nguyên nhân cuối cùng phức tạp hơn. Mặc dù sản lượng trứng sản xuất vẫn còn tương đối cao, và có thể kéo dài vượt quá 55 tuần tuổi, tỷ lệ xuất hiện nứt gãy xương mới giảm dần và thậm chí giảm khi gà dưới 45 tuần tuổi. Nguồn gốc của sự tổn thương hiện đang là một “câu hỏi lớn”, điều mà ông vẫn chưa thể đưa ra câu trả lời ngay lúc này. “Như vậy, trong khi chúng ta đã nhận thức được vấn đề tồn tại nhưng nguyên nhân gốc rễ vẫn chưa được tìm ra, và làm thế nào để giải quyết tận gốc những vấn đề liên quan đến sức khỏe của xương?”
“Mặc dù chúng tôi tin rằng gà bị ngã và va chạm là nguyên nhân chính, ngay cả ở những nơi mà chúng tôi nghĩ rằng ít có khả năng xảy các va chạm cơ học như trong chuồng lồng kín thì tỷ lệ gà bị tổn thương ghi nhận được vẫn ở tỷ lệ khoảng 38%. Dường như gà có thể gặp vấn đề gì đó khiến chúng trở nên sợ hãi, hoảng loạn và chạy va vào vật gì đó.”
Ông cũng nghĩ rằng có thể có những nguyên nhân khác, ví dụ khi gà vỗ cánh có thể gây ra các vết nứt gãy.
Các vết nứt gãy giảm dần ở giai đoạn 40 tuần tuổi
Có một khía cạnh không giải thích được ở đây là tỷ lệ nứt, gãy xương giảm dần sau giai đoạn 45 – 50 tuần tuổi.
“Có lẽ chúng ta dự đoán rằng, tỷ lệ gãy xương sẽ tăng dần theo thời gian. Gà mái vẫn còn sản xuất nhiều trứng ở giai đoạn 45 – 50 tuần tuổi, nhưng thực tế thì tỷ lệ nứt gãy xương không còn tăng nữa. Người ta cho rằng sự thay đổi hành vi và tập tính sống của gà có thể giải thích cho hiện tượng này; khi được 40 tuần tuổi, gà đã tự tìm ra cách để di chuyển xung quanh hệ thống chuồng nuôi. Gà có thể đã thích nghi với điều kiện ít nguy hiểm, hoặc đơn giản là khi càng lớn thì gà càng có xu hướng giảm hoạt động.”
Để phân tích riêng lẻ những tác động hành vi lên đặc tính của xương, một loạt những bài kiểm tra va chạm đã được thực hiện, trong đó các nhà khoa học đã thực hiện một loạt các va chạm có kiểm soát với mức độ khác nhau lên cơ thể gà vừa được gây chết. Thí nghiệm khảo sát xương lưỡi hái đã thực sự phản ánh được các trường hợp và mức độ gãy xương quan sát thấy ở các trang trại. Thử nghiệm cũng đã phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa độ tuổi của gà, mức độ va chạm và khả năng gãy xương.
Tiến sĩ Toscano nói: “Điều này phù hợp với những gì chúng tôi dự đoán”. Nhưng ở tuần thứ 40, mức độ này đã giảm xuống và sau đó dường như có khuynh hướng giảm xuống thấp hơn, giống với những gì đang diễn ra trong các trang trại; điều này có xu hướng loại trừ bất kỳ hành vi thích ứng nào của gà mái.
Khả năng khác là do sự thay đổi trong cấu trúc tổng thể của xương lưỡi hái của gà ở giai đoạn này. ”Mặc dù nó khá nhẹ, bạn sẽ thấy có sự gia tăng dần độ cứng chắc của xương lưỡi hái, điều này trái ngược với những gì bạn thấy ở các xương dài.”
Cũng có thể sự trưởng thành của các liên kết chéo trong xương theo độ tuổi, làm cho xương lưỡi hái rắn chắc hơn.
“Vì vậy, tôi nghĩ loãng xương chắc chắn góp phần vào tần suất tổn thương, nhưng vì chưa có lời giải thích đầy đủ cụ thể, và tôi cho rằng nó có vai trò chủ đạo trong trường hợp này cho đến giai đoạn 40 tuần tuổi.”
3 lĩnh vực can thiệp
Chúng ta có thể can thiệp để giảm tổn thương xương lưỡi hái ở 3 mặt: dinh dưỡng, di truyền giống và quản lý chuồng nuôi. Về mặt dinh dưỡng, khó có thể làm tăng thêm khả năng hấp thu canxi của gà mái.
“Có thể cho rằng chúng ta đã đạt đến giới hạn về khả năng này.”
Một biện pháp khả thi là bổ sung axit béo omega 3 vào khẩu phần dinh dưỡng, những axit béo này có tác động quan trọng đối với sinh lý xương.
Các nghiên cứu thực hiện tại Bristol cho thấy chúng đã có tác động “thật sự mạnh mẽ”. Ông cung cấp thêm thông tin về một thử nghiệm sử dụng khẩu phần có bổ sung omega-3 chuỗi ngắn giúp làm giảm tỷ lệ nứt gãy xương lưỡi hái từ 60% xuống còn 20%.
“Đây là một số liệu đáng kinh ngạc, và khi chúng tôi trao đổi với người trong ngành, họ đã không tin được khả năng đó.”
Trong dinh dưỡng của người, axit N-3 chuỗi dài được cho là lý tưởng, nhưng trong một khẩu phần thức ăn thử nghiệm với 60% loại axit này, kết quả thu được thật đáng thất vọng, với tỷ lệ nứt gãy xương cao hơn nhiều hơn so với khẩu phần đối chứng. Sản lượng và chất lượng trứng cũng tệ hơn.
“Có thể kết quả thử nghiệm ở gà với axit chuỗi dài hơi áp đảo, nhưng với nhóm được bổ sung omega-3 chuỗi ngắn đã cho kết quả rất tốt, tỷ lệ nứt gãy xương giảm đến 40%. Kết quả này hứa hẹn rất nhiều tiềm năng cho tương lai.”
Trong nghiên cứu về mặt di truyền, 5 giống gà di truyền khác nhau từ Hendrix đã được lựa chọn, tất cả đều được nuôi dưỡng trong cùng điều kiện. Các thử nghiệm kiểm tra va chạm đã được tiến hành vào lúc 27 tuần tuổi. Có một giống di truyền có tỷ lệ gà không bị nứt gãy xương là 84%, trong khi đó, ở một giống gà khác tỷ lệ này chỉ dừng lại ở con số 5%.
“Vì một vài lý do nào đó, một dòng di truyền kháng tốt với tình trạng nứt gãy xương, nhưng những khác biệt này không thể hiện tính thương mại. Kết quả này cho thấy có sự ảnh hưởng của tiềm năng di truyền, nhưng bị áp đảo bởi những tác động môi trường lên các trang trại. Di truyền học không phải là viên đạn bạc quy định những việc sẽ xảy ra, và tồn tại những giới hạn mà chúng ta có thể can thiệp được.”
Mối nguy hiểm từ trong chuồng nuôi
Lĩnh vực tiếp cận thứ ba, thiết kế chuồng nuôi là việc làm cần thiết để hạn chế những hành vi và hoạt động nguy hiểm của gà, và giảm thiểu các yếu tố gây va chạm. Một thử nghiệm cho thấy tỷ lệ nứt, gãy xương gia tăng cùng với cấu trúc phức tạp của chuồng nuôi. Một phát hiện khác chứng minh việc thiết kế đường dốc từ các tầng ở phía trên hạn chế được những kích hoạt động và hành vi nguy hiểm ở gà, và giảm số lượng vết nứt gãy xương. Người ta sử dụng các máy gia tốc kế để đo giá trị năng lượng từ các chuyển động chính của gà trong chuồng nuôi. Những gà trong khu vực từ nền chuồng đến tầng kế tiếp có giá trị năng lượng ghi nhận thấp, trong khi những gà nhảy từ các tầng trên xuống thường gặp tai nạn có giá trị

DTK Biotech-Vet - Tìm hiểu về trường hợp tổn thương xương lưỡi hái ở gà đẻ

Những yêu cầu hiện đại đối với gà đẻ đã tạo ra một “lý do hoàn hảo” dẫn đến những nguyên nhân gây tổn thương cho xương lưỡi hái; tiến sĩ Mike Toscano – một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu đã cảnh báo về vấn đề này. “Ngày nay, chúng ta có thể thấy gà có biểu hiện xương yếu và dễ gãy ngày một tăng, nhưng chúng lại sống trong môi trường chuồng nuôi khá phức tạp và nguy hiểm”, ý kiến của tiến sĩ Mike Toscano từ trường đại học Bern, Thụy Sĩ.
Trong cuộc họp mùa xuân mới đây của WPSA tại Chester, tiến sĩ Toscano cho biết: “Giai đoạn sản xuất trứng cao độ sẽ làm thay đổi cấu trúc tổng thể của xương, trong khi cuộc cách mạng nuôi thả trong chuồng thay thế cho kiểu lồng nuôi truyền thống đã tạo ra những thách thức buộc gà phải thích nghi trong chính môi trường sống của chúng. Vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay có liên quan đến sức khỏe của xương chính là tình trạng nứt, gãy xương lưỡi hái. Đến cuối giai đoạn sản xuất trứng, có đến hơn 50% gà trong hệ thống có biểu hiện tổn thương xương lưỡi hái ở mức độ nhất định. Đây thật sự là một vấn đề nghiêm trọng”.
Tìm hiểu về trường hợp tổn thương xương lưỡi hái ở gà đẻ
Tình trạng nứt, gãy xương được ghi nhận ở tất cả các hệ thống chuồng nuôi và trên cả mọi giống di truyền, và dữ liệu tương tự cũng đã được ghi nhận từ Anh, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sĩ và Canada.
Nhu cầu can xi
Nhu cầu canxi trong vỏ trứng là một yếu tố quan trọng. “Với 40% lượng canxi trong vỏ trứng được huy động từ xương xuyên suốt giai đoạn sản xuất trứng kéo dài, các bạn sẽ thấy tình trạng xương bị mất khoáng chất và gà có khuynh hướng bị gãy xương. Kết quả gãy xương được cho là phát sinh từ sự va chạm nội lực bên trong cấu trúc ống xương, mặc dù hệ thống những vết nứt không giống cơ chế va chạm cơ học.”
Những vấn đề về xương khác bao gồm tình trạng xương lưỡi hái bị cong vẹo xuất hiện khi gà bay lên xuống, bị chấn thương khi vận chuyển gà hậu bị và gà già.
Có ý kiến cho rằng nhu cầu canxi cần cho sản xuất trứng ngày nay và khi gà bước vào giai đoạn sản xuất cao độ là nguyên nhân gây nứt, gãy xương lưỡi hái, nhưng những bằng chứng gần đây cho thấy nguyên nhân cuối cùng phức tạp hơn. Mặc dù sản lượng trứng sản xuất vẫn còn tương đối cao, và có thể kéo dài vượt quá 55 tuần tuổi, tỷ lệ xuất hiện nứt gãy xương mới giảm dần và thậm chí giảm khi gà dưới 45 tuần tuổi. Nguồn gốc của sự tổn thương hiện đang là một “câu hỏi lớn”, điều mà ông vẫn chưa thể đưa ra câu trả lời ngay lúc này. “Như vậy, trong khi chúng ta đã nhận thức được vấn đề tồn tại nhưng nguyên nhân gốc rễ vẫn chưa được tìm ra, và làm thế nào để giải quyết tận gốc những vấn đề liên quan đến sức khỏe của xương?”
“Mặc dù chúng tôi tin rằng gà bị ngã và va chạm là nguyên nhân chính, ngay cả ở những nơi mà chúng tôi nghĩ rằng ít có khả năng xảy các va chạm cơ học như trong chuồng lồng kín thì tỷ lệ gà bị tổn thương ghi nhận được vẫn ở tỷ lệ khoảng 38%. Dường như gà có thể gặp vấn đề gì đó khiến chúng trở nên sợ hãi, hoảng loạn và chạy va vào vật gì đó.”
Ông cũng nghĩ rằng có thể có những nguyên nhân khác, ví dụ khi gà vỗ cánh có thể gây ra các vết nứt gãy.
Các vết nứt gãy giảm dần ở giai đoạn 40 tuần tuổi
Có một khía cạnh không giải thích được ở đây là tỷ lệ nứt, gãy xương giảm dần sau giai đoạn 45 – 50 tuần tuổi.
“Có lẽ chúng ta dự đoán rằng, tỷ lệ gãy xương sẽ tăng dần theo thời gian. Gà mái vẫn còn sản xuất nhiều trứng ở giai đoạn 45 – 50 tuần tuổi, nhưng thực tế thì tỷ lệ nứt gãy xương không còn tăng nữa. Người ta cho rằng sự thay đổi hành vi và tập tính sống của gà có thể giải thích cho hiện tượng này; khi được 40 tuần tuổi, gà đã tự tìm ra cách để di chuyển xung quanh hệ thống chuồng nuôi. Gà có thể đã thích nghi với điều kiện ít nguy hiểm, hoặc đơn giản là khi càng lớn thì gà càng có xu hướng giảm hoạt động.”
Để phân tích riêng lẻ những tác động hành vi lên đặc tính của xương, một loạt những bài kiểm tra va chạm đã được thực hiện, trong đó các nhà khoa học đã thực hiện một loạt các va chạm có kiểm soát với mức độ khác nhau lên cơ thể gà vừa được gây chết. Thí nghiệm khảo sát xương lưỡi hái đã thực sự phản ánh được các trường hợp và mức độ gãy xương quan sát thấy ở các trang trại. Thử nghiệm cũng đã phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa độ tuổi của gà, mức độ va chạm và khả năng gãy xương.
Tiến sĩ Toscano nói: “Điều này phù hợp với những gì chúng tôi dự đoán”. Nhưng ở tuần thứ 40, mức độ này đã giảm xuống và sau đó dường như có khuynh hướng giảm xuống thấp hơn, giống với những gì đang diễn ra trong các trang trại; điều này có xu hướng loại trừ bất kỳ hành vi thích ứng nào của gà mái.
Khả năng khác là do sự thay đổi trong cấu trúc tổng thể của xương lưỡi hái của gà ở giai đoạn này. ”Mặc dù nó khá nhẹ, bạn sẽ thấy có sự gia tăng dần độ cứng chắc của xương lưỡi hái, điều này trái ngược với những gì bạn thấy ở các xương dài.”
Cũng có thể sự trưởng thành của các liên kết chéo trong xương theo độ tuổi, làm cho xương lưỡi hái rắn chắc hơn.
“Vì vậy, tôi nghĩ loãng xương chắc chắn góp phần vào tần suất tổn thương, nhưng vì chưa có lời giải thích đầy đủ cụ thể, và tôi cho rằng nó có vai trò chủ đạo trong trường hợp này cho đến giai đoạn 40 tuần tuổi.”
3 lĩnh vực can thiệp
Chúng ta có thể can thiệp để giảm tổn thương xương lưỡi hái ở 3 mặt: dinh dưỡng, di truyền giống và quản lý chuồng nuôi. Về mặt dinh dưỡng, khó có thể làm tăng thêm khả năng hấp thu canxi của gà mái.
“Có thể cho rằng chúng ta đã đạt đến giới hạn về khả năng này.”
Một biện pháp khả thi là bổ sung axit béo omega 3 vào khẩu phần dinh dưỡng, những axit béo này có tác động quan trọng đối với sinh lý xương.
Các nghiên cứu thực hiện tại Bristol cho thấy chúng đã có tác động “thật sự mạnh mẽ”. Ông cung cấp thêm thông tin về một thử nghiệm sử dụng khẩu phần có bổ sung omega-3 chuỗi ngắn giúp làm giảm tỷ lệ nứt gãy xương lưỡi hái từ 60% xuống còn 20%.
“Đây là một số liệu đáng kinh ngạc, và khi chúng tôi trao đổi với người trong ngành, họ đã không tin được khả năng đó.”
Trong dinh dưỡng của người, axit N-3 chuỗi dài được cho là lý tưởng, nhưng trong một khẩu phần thức ăn thử nghiệm với 60% loại axit này, kết quả thu được thật đáng thất vọng, với tỷ lệ nứt gãy xương cao hơn nhiều hơn so với khẩu phần đối chứng. Sản lượng và chất lượng trứng cũng tệ hơn.
“Có thể kết quả thử nghiệm ở gà với axit chuỗi dài hơi áp đảo, nhưng với nhóm được bổ sung omega-3 chuỗi ngắn đã cho kết quả rất tốt, tỷ lệ nứt gãy xương giảm đến 40%. Kết quả này hứa hẹn rất nhiều tiềm năng cho tương lai.”
Trong nghiên cứu về mặt di truyền, 5 giống gà di truyền khác nhau từ Hendrix đã được lựa chọn, tất cả đều được nuôi dưỡng trong cùng điều kiện. Các thử nghiệm kiểm tra va chạm đã được tiến hành vào lúc 27 tuần tuổi. Có một giống di truyền có tỷ lệ gà không bị nứt gãy xương là 84%, trong khi đó, ở một giống gà khác tỷ lệ này chỉ dừng lại ở con số 5%.
“Vì một vài lý do nào đó, một dòng di truyền kháng tốt với tình trạng nứt gãy xương, nhưng những khác biệt này không thể hiện tính thương mại. Kết quả này cho thấy có sự ảnh hưởng của tiềm năng di truyền, nhưng bị áp đảo bởi những tác động môi trường lên các trang trại. Di truyền học không phải là viên đạn bạc quy định những việc sẽ xảy ra, và tồn tại những giới hạn mà chúng ta có thể can thiệp được.”
Mối nguy hiểm từ trong chuồng nuôi
Lĩnh vực tiếp cận thứ ba, thiết kế chuồng nuôi là việc làm cần thiết để hạn chế những hành vi và hoạt động nguy hiểm của gà, và giảm thiểu các yếu tố gây va chạm. Một thử nghiệm cho thấy tỷ lệ nứt, gãy xương gia tăng cùng với cấu trúc phức tạp của chuồng nuôi. Một phát hiện khác chứng minh việc thiết kế đường dốc từ các tầng ở phía trên hạn chế được những kích hoạt động và hành vi nguy hiểm ở gà, và giảm số lượng vết nứt gãy xương. Người ta sử dụng các máy gia tốc kế để đo giá trị năng lượng từ các chuyển động chính của gà trong chuồng nuôi. Những gà trong khu vực từ nền chuồng đến tầng kế tiếp có giá trị năng lượng ghi nhận thấp, trong khi những gà nhảy từ các tầng trên xuống thường gặp tai nạn có giá trị
Đọc thêm
Muốn có con heo giống tốt mà nuôi, ta phải cố công chọn dòng chọn giống của mình. Con heo dù rặc dòng, tốt tướng nhưng cha mẹ nó, ông bà nó có những hết hư tật xấu như kén ăn, sinh sản kém thì giá trị của nó cũng không đáng chọn nuôi.
1. Làm sao đoán biết tình trạng sức khỏe của con heo giống đó ra sao để mua nuôi ?
Heo giống mạnh hay heo bệnh thường có biểu hiện lộ ra bên ngoài cho ta biết được khá đầy đủ về sức khỏe của nó:
2. Chọn heo để giống nên dựa vào những tiêu chuẩn nào ?
Phân biệt heo bệnh
Nên dựa vào những tiêu chuẩn sau đây để chọn nuôi heo đúng giống mà mình yêu thích:
* Chọn giống: Heo giống có nhiều loại, muốn nuôi giống nào thì chọn đúng giống đó về nuôi. Mỗi giống heo đều có vóc dáng riêng biệt, sắc lông và đặt trưng riêng … không thể nhầm lẫn với giống heo khác được. Chẳng hạn như Yorkshire large white có da màu lông trắng, vóc dáng cao to, đòn dài, tai đứng, mõm cong sẽ khác xa với vóc dáng của heo Landrace cũng da lông màu trắng, nhưng thân mỏng, cổ dài, vai hẹp, tai cụp xuống che cả mắt… Quan sát heo mẹ rồi nhìn lại heo con xem gì khác biệt đáng nghi ngờ không… Mọi việc nên tin vào mắt mình, chớ vội tin vào lời nói đưa đẩy của người bán…
* Chọn dòng: Nên tìm hiểu kỹ lý lịch của heo mẹ (tốt nhất là cả heo cha) xem nết ăn nết ở có tốt không, có nuôi heo con giỏi không… Và lứa con này là lứa con thứ mấy của nó. Vì rằng chọn heo con làm giống từ heo mẹ quá tơ (đẻ lứa đầu) hoặc heo mẹ quá già (đẻ được chín mười lứa) không tốt nên chọn heo con từ lúa thứ ba, thứ tư làm giống mới tốt vì ở vào giai đoạn này heo mẹ rất sung sức, mọi cơ quan, bộ phận trong cơ thể nó đã phát triển toàn diện.
* Chọn vóc dáng: Nên chọn những con heo có vóc dáng cao to – heo đầu đàn – hợp với những nét đặc trưng của dòng giống nó. Nếu là heo đẻ nái, ngoài việc chọn các bộ phận bên ngoài ra cần phải xem kỹ bộ vú và bộ phận sinh dục. Cách chọn heo đực cũng vậy.
* Chọn tính nết: Nên chọn những con heo có tính hiền, không hung dữ với đồng loại. Nết ăn phải tốt: ăn không vung vãi, không sục mõm vào máng mò mẫm tìm thức ăn ngon ăn trước …Những heo kén ăn này dù giống tốt đâu cũng không nên chọn nuôi làm giống.
3. Chọn heo nái làm giống cần hội tụ những điểm gì ?
Ngoài việc chọn đúng dòng giống, tính nết và những đặc tính di truyền tốt từ heo cha heo mẹ ra, con cái con chọn làm giống phải hội tụ những đặc điểm sau đây: Đòn dài, lưng thẳng, ngực nở, hông rộng, bốn chân khỏe, cứng cáp, có 12 vú đóng đều đặn, không vú lép, bộ phận sinh dục nở nang, không dị tật…

DTK Biotech-Vet - Chọn heo để giống nên dựa vào những tiêu chuẩn nào?

Muốn có con heo giống tốt mà nuôi, ta phải cố công chọn dòng chọn giống của mình. Con heo dù rặc dòng, tốt tướng nhưng cha mẹ nó, ông bà nó có những hết hư tật xấu như kén ăn, sinh sản kém thì giá trị của nó cũng không đáng chọn nuôi.
1. Làm sao đoán biết tình trạng sức khỏe của con heo giống đó ra sao để mua nuôi ?
Heo giống mạnh hay heo bệnh thường có biểu hiện lộ ra bên ngoài cho ta biết được khá đầy đủ về sức khỏe của nó:
2. Chọn heo để giống nên dựa vào những tiêu chuẩn nào ?
Phân biệt heo bệnh
Nên dựa vào những tiêu chuẩn sau đây để chọn nuôi heo đúng giống mà mình yêu thích:
* Chọn giống: Heo giống có nhiều loại, muốn nuôi giống nào thì chọn đúng giống đó về nuôi. Mỗi giống heo đều có vóc dáng riêng biệt, sắc lông và đặt trưng riêng … không thể nhầm lẫn với giống heo khác được. Chẳng hạn như Yorkshire large white có da màu lông trắng, vóc dáng cao to, đòn dài, tai đứng, mõm cong sẽ khác xa với vóc dáng của heo Landrace cũng da lông màu trắng, nhưng thân mỏng, cổ dài, vai hẹp, tai cụp xuống che cả mắt… Quan sát heo mẹ rồi nhìn lại heo con xem gì khác biệt đáng nghi ngờ không… Mọi việc nên tin vào mắt mình, chớ vội tin vào lời nói đưa đẩy của người bán…
* Chọn dòng: Nên tìm hiểu kỹ lý lịch của heo mẹ (tốt nhất là cả heo cha) xem nết ăn nết ở có tốt không, có nuôi heo con giỏi không… Và lứa con này là lứa con thứ mấy của nó. Vì rằng chọn heo con làm giống từ heo mẹ quá tơ (đẻ lứa đầu) hoặc heo mẹ quá già (đẻ được chín mười lứa) không tốt nên chọn heo con từ lúa thứ ba, thứ tư làm giống mới tốt vì ở vào giai đoạn này heo mẹ rất sung sức, mọi cơ quan, bộ phận trong cơ thể nó đã phát triển toàn diện.
* Chọn vóc dáng: Nên chọn những con heo có vóc dáng cao to – heo đầu đàn – hợp với những nét đặc trưng của dòng giống nó. Nếu là heo đẻ nái, ngoài việc chọn các bộ phận bên ngoài ra cần phải xem kỹ bộ vú và bộ phận sinh dục. Cách chọn heo đực cũng vậy.
* Chọn tính nết: Nên chọn những con heo có tính hiền, không hung dữ với đồng loại. Nết ăn phải tốt: ăn không vung vãi, không sục mõm vào máng mò mẫm tìm thức ăn ngon ăn trước …Những heo kén ăn này dù giống tốt đâu cũng không nên chọn nuôi làm giống.
3. Chọn heo nái làm giống cần hội tụ những điểm gì ?
Ngoài việc chọn đúng dòng giống, tính nết và những đặc tính di truyền tốt từ heo cha heo mẹ ra, con cái con chọn làm giống phải hội tụ những đặc điểm sau đây: Đòn dài, lưng thẳng, ngực nở, hông rộng, bốn chân khỏe, cứng cáp, có 12 vú đóng đều đặn, không vú lép, bộ phận sinh dục nở nang, không dị tật…
Đọc thêm
Thời tiết khí hậu biến đổi trong vài năm qua đã làm cho nhiều tỉnh, thành ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bị xâm nhập mặn, ảnh hưởng rất lớn đến việc chăn nuôi thủy cầm. Hiện một giống thủy cầm mới là vịt biển có nhiều khả năng trở thành vật nuôi chủ lực, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân vùng ĐBSCL, nhằm đối phó với thích ứng biến đổi khí hậu.
Mô hình nuôi vịt biển phù hợp với tình trạng biến đổi khí hậu tại ĐBSCL
Chất lượng thịt lẫn trứng đều tốt
Tại hội nghị “Phát triển giống vịt biển phục vụ chăn nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu tại Nam bộ”, các chuyên gia cho biết vịt biển rất dễ nuôi ở tất cả môi trường (nước ngọt, nước lợ, nước mặn) và chất lượng thịt, trứng tương đương với vịt nước ngọt hiện nay.
Theo Tổng cục Thống kê, tổng đàn vịt cả nước có khoảng 72 triệu con, trong đó vùng ĐBSCL là 26 triệu con (chiếm 37%), giảm 1,2% so với năm 2012. Tỉnh Trà Vinh giảm mạnh nhất, từ 2,4 triệu con nay chỉ còn 1,4 triệu con, do xâm nhập mặn. Theo Viện Chăn nuôi, tình trạng xâm nhập mặn tiếp tục diễn biến phức tạp nên trong tương lai đàn vịt sẽ tiếp tục giảm, không còn trở thành vật nuôi chủ lực của ĐBSCL. Vùng ĐBSCL có 8/13 tỉnh nằm ven biển đang nhiễm mặn và điều kiện này rất phù hợp nuôi vịt biển. Viện Chăn nuôi đã nghiên cứu đưa giống vịt biển nuôi tại vùng bị nhiễm mặn trong vòng 3 năm và kết quả đã thành công, đặc biệt là vịt biển có thể nuôi nhốt, chăn thả ở điều kiện nước lợ, nước mặn và thích hợp tỉnh ven biển, vùng biển đảo. Chất lượng thịt vịt biển tương đương với vịt siêu nạc, chất lượng trứng tương đương với vịt thả đồng.
Ông Dương Xuân Tuyển, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm VIGOVA thuộc Viện Chăn nuôi, đơn vị đang nghiên cứu giống vịt biển, đánh giá vịt biển có sức sống khỏe, dễ nuôi. Trung tâm cũng đã chuyển giao mô hình nuôi vịt biển cho 12 tỉnh vùng ĐBSCL thí điểm nuôi thử. Kết quả cho thương phẩm tương đối tốt. Vịt biển nuôi 9 tuần nặng 2,8kg, nuôi trong 70 ngày có thể xuất chuồng bán thịt, một năm đẻ khoảng 240 quả trứng/con. Tuy nhiên, do giống vịt biển vẫn còn mới nên cần phải tiếp tục nghiên cứu để đưa ra quy trình thích hợp; chọn lọc, nhân giống cho ra vịt biển thuần chuẩn, để trở thành vật nuôi thủy cầm chủ lực cho vùng biển, vùng xâm nhập mặn.
Trung tâm Khuyến nông tỉnh Long An đã thí điểm nuôi vịt biển được 2 năm. Theo đánh giá của nông dân, vịt biển thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi tự nhiên. Bên cạnh đó, vịt biển có tỷ lệ sống cao, rất ít bệnh tật và có thể tận dụng được thức ăn địa phương nhằm giảm chi phí, tăng hiệu quả. Tương tự, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Sóc Trăng nhận định, nhờ nuôi nước mặn, nước lợ mà vịt biển có khả năng diệt khuẩn cao, giảm nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm.
Theo Sở NN-PTNT tỉnh Hậu Giang, chăn nuôi vịt đứng thứ 4 của ngành nông nghiệp với 2,5 triệu con. Năm 2016, khoảng 50% diện tích toàn tỉnh bị xâm nhập mặn, khiến ngành chăn nuôi vịt thiệt hại rất lớn. Tỉnh đã thí điểm nuôi vịt biển ở các xã bị nhiễm mặn và mang lại hiệu quả cao. Nếu có giống vịt biển có thể nuôi được tại vùng bị nhiễm phèn, sẽ rất tốt. Nông dân Mai Văn Dương (tỉnh Trà Vinh) đang nuôi thử nghiệm 800 con vịt biển, cho biết chất lượng thịt và trứng rất tốt nhưng vấn đề đầu ra gặp khó khăn, do người tiêu dùng chưa biết chất lượng vịt biển như thế nào.
Chật vật tìm đầu ra
Nhiều trung tâm khuyến nông các tỉnh nhận định, thị trường tiêu thụ đầu ra vịt biển vẫn còn khó khăn, không ổn định, làm ảnh hưởng đến tâm lý người nuôi. Tuy chất lượng thịt thơm ngon hơn vịt siêu thịt, trứng có lòng đỏ chất lượng cao nhưng vẫn khó bán trên thị trường, bởi người tiêu dùng vẫn chưa biết đến. Cần phải tuyên truyền rộng rãi về chất lượng thịt và trứng vịt biển để không ảnh hưởng đến tâm lý người nuôi và thu hút người tiêu dùng; đặc biệt cần có quy hoạch vùng để tránh nuôi ồ ạt. Còn theo các chuyên gia, vịt biển nuôi tốt nhưng độ mặn của nước uống cần phải phù hợp với độ tuổi để cho năng suất tốt nhất.
Ông Nguyễn Văn Trọng, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ NN-PTNT, cho biết vịt biển không chỉ mới triển khai nuôi ở ĐBSCL, mà cục đã nuôi thí điểm ở vùng hải đảo, ven biển cách đây vài năm. Để vịt biển đạt năng suất cao, Cục Chăn nuôi đã hỗ trợ về kỹ thuật, giống, thức ăn và quy trình chăn nuôi cho nông dân. Nhưng, khi thành công về giống vịt thì lại gặp vướng mắc khác. Đó là hiện nay con giống không đủ và sản phẩm chưa được người tiêu dùng đánh giá cao. Đối với các tỉnh có tình trạng xâm nhập mặn, cần phải chủ động con giống và quy hoạch chăn nuôi mỗi địa phương cho phù hợp, tránh tình trạng “quá tải” như con heo hiện nay. Quan trọng cần phải có chuỗi liên kết giá trị ngành hàng theo mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã.
Còn theo bà Hà Thúy Hạnh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, cách đây 4 năm, trung tâm đã thử nghiệm mô hình nuôi vịt biển ở các xã ven biển tỉnh Quảng Ninh, đã cho kết quả tốt. Vịt biển có thể nuôi được ở các dạng môi trường khác nhau. Chất lượng được đánh giá rất cao, cụ thể trứng vịt biển ở miền Bắc giá cao hơn so với vịt thường và rất nhiều người tìm mua nhưng không đủ nguồn cung. Vịt biển có tiềm năng rất lớn đối với ĐBSCL. Tuy nhiên, để có chất lượng vịt biển cao, cần phải quan tâm đến phương thức chăn nuôi, bởi mỗi địa phương có độ mặn, nguồn thức ăn tại chỗ khác nhau. Từng tỉnh cần chú trọng nghiên cứu cụ thể cho từng vùng để có môi trường phù hợp, như nuôi ven biển, vùng nước lợ, nuôi nhốt, chạy đồng… nhằm giảm thiểu thiệt hại cho nông dân.

DTK Biotech-Vet - Nuôi vịt biển

Thời tiết khí hậu biến đổi trong vài năm qua đã làm cho nhiều tỉnh, thành ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bị xâm nhập mặn, ảnh hưởng rất lớn đến việc chăn nuôi thủy cầm. Hiện một giống thủy cầm mới là vịt biển có nhiều khả năng trở thành vật nuôi chủ lực, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân vùng ĐBSCL, nhằm đối phó với thích ứng biến đổi khí hậu.
Mô hình nuôi vịt biển phù hợp với tình trạng biến đổi khí hậu tại ĐBSCL
Chất lượng thịt lẫn trứng đều tốt
Tại hội nghị “Phát triển giống vịt biển phục vụ chăn nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu tại Nam bộ”, các chuyên gia cho biết vịt biển rất dễ nuôi ở tất cả môi trường (nước ngọt, nước lợ, nước mặn) và chất lượng thịt, trứng tương đương với vịt nước ngọt hiện nay.
Theo Tổng cục Thống kê, tổng đàn vịt cả nước có khoảng 72 triệu con, trong đó vùng ĐBSCL là 26 triệu con (chiếm 37%), giảm 1,2% so với năm 2012. Tỉnh Trà Vinh giảm mạnh nhất, từ 2,4 triệu con nay chỉ còn 1,4 triệu con, do xâm nhập mặn. Theo Viện Chăn nuôi, tình trạng xâm nhập mặn tiếp tục diễn biến phức tạp nên trong tương lai đàn vịt sẽ tiếp tục giảm, không còn trở thành vật nuôi chủ lực của ĐBSCL. Vùng ĐBSCL có 8/13 tỉnh nằm ven biển đang nhiễm mặn và điều kiện này rất phù hợp nuôi vịt biển. Viện Chăn nuôi đã nghiên cứu đưa giống vịt biển nuôi tại vùng bị nhiễm mặn trong vòng 3 năm và kết quả đã thành công, đặc biệt là vịt biển có thể nuôi nhốt, chăn thả ở điều kiện nước lợ, nước mặn và thích hợp tỉnh ven biển, vùng biển đảo. Chất lượng thịt vịt biển tương đương với vịt siêu nạc, chất lượng trứng tương đương với vịt thả đồng.
Ông Dương Xuân Tuyển, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm VIGOVA thuộc Viện Chăn nuôi, đơn vị đang nghiên cứu giống vịt biển, đánh giá vịt biển có sức sống khỏe, dễ nuôi. Trung tâm cũng đã chuyển giao mô hình nuôi vịt biển cho 12 tỉnh vùng ĐBSCL thí điểm nuôi thử. Kết quả cho thương phẩm tương đối tốt. Vịt biển nuôi 9 tuần nặng 2,8kg, nuôi trong 70 ngày có thể xuất chuồng bán thịt, một năm đẻ khoảng 240 quả trứng/con. Tuy nhiên, do giống vịt biển vẫn còn mới nên cần phải tiếp tục nghiên cứu để đưa ra quy trình thích hợp; chọn lọc, nhân giống cho ra vịt biển thuần chuẩn, để trở thành vật nuôi thủy cầm chủ lực cho vùng biển, vùng xâm nhập mặn.
Trung tâm Khuyến nông tỉnh Long An đã thí điểm nuôi vịt biển được 2 năm. Theo đánh giá của nông dân, vịt biển thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi tự nhiên. Bên cạnh đó, vịt biển có tỷ lệ sống cao, rất ít bệnh tật và có thể tận dụng được thức ăn địa phương nhằm giảm chi phí, tăng hiệu quả. Tương tự, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Sóc Trăng nhận định, nhờ nuôi nước mặn, nước lợ mà vịt biển có khả năng diệt khuẩn cao, giảm nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm.
Theo Sở NN-PTNT tỉnh Hậu Giang, chăn nuôi vịt đứng thứ 4 của ngành nông nghiệp với 2,5 triệu con. Năm 2016, khoảng 50% diện tích toàn tỉnh bị xâm nhập mặn, khiến ngành chăn nuôi vịt thiệt hại rất lớn. Tỉnh đã thí điểm nuôi vịt biển ở các xã bị nhiễm mặn và mang lại hiệu quả cao. Nếu có giống vịt biển có thể nuôi được tại vùng bị nhiễm phèn, sẽ rất tốt. Nông dân Mai Văn Dương (tỉnh Trà Vinh) đang nuôi thử nghiệm 800 con vịt biển, cho biết chất lượng thịt và trứng rất tốt nhưng vấn đề đầu ra gặp khó khăn, do người tiêu dùng chưa biết chất lượng vịt biển như thế nào.
Chật vật tìm đầu ra
Nhiều trung tâm khuyến nông các tỉnh nhận định, thị trường tiêu thụ đầu ra vịt biển vẫn còn khó khăn, không ổn định, làm ảnh hưởng đến tâm lý người nuôi. Tuy chất lượng thịt thơm ngon hơn vịt siêu thịt, trứng có lòng đỏ chất lượng cao nhưng vẫn khó bán trên thị trường, bởi người tiêu dùng vẫn chưa biết đến. Cần phải tuyên truyền rộng rãi về chất lượng thịt và trứng vịt biển để không ảnh hưởng đến tâm lý người nuôi và thu hút người tiêu dùng; đặc biệt cần có quy hoạch vùng để tránh nuôi ồ ạt. Còn theo các chuyên gia, vịt biển nuôi tốt nhưng độ mặn của nước uống cần phải phù hợp với độ tuổi để cho năng suất tốt nhất.
Ông Nguyễn Văn Trọng, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ NN-PTNT, cho biết vịt biển không chỉ mới triển khai nuôi ở ĐBSCL, mà cục đã nuôi thí điểm ở vùng hải đảo, ven biển cách đây vài năm. Để vịt biển đạt năng suất cao, Cục Chăn nuôi đã hỗ trợ về kỹ thuật, giống, thức ăn và quy trình chăn nuôi cho nông dân. Nhưng, khi thành công về giống vịt thì lại gặp vướng mắc khác. Đó là hiện nay con giống không đủ và sản phẩm chưa được người tiêu dùng đánh giá cao. Đối với các tỉnh có tình trạng xâm nhập mặn, cần phải chủ động con giống và quy hoạch chăn nuôi mỗi địa phương cho phù hợp, tránh tình trạng “quá tải” như con heo hiện nay. Quan trọng cần phải có chuỗi liên kết giá trị ngành hàng theo mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã.
Còn theo bà Hà Thúy Hạnh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, cách đây 4 năm, trung tâm đã thử nghiệm mô hình nuôi vịt biển ở các xã ven biển tỉnh Quảng Ninh, đã cho kết quả tốt. Vịt biển có thể nuôi được ở các dạng môi trường khác nhau. Chất lượng được đánh giá rất cao, cụ thể trứng vịt biển ở miền Bắc giá cao hơn so với vịt thường và rất nhiều người tìm mua nhưng không đủ nguồn cung. Vịt biển có tiềm năng rất lớn đối với ĐBSCL. Tuy nhiên, để có chất lượng vịt biển cao, cần phải quan tâm đến phương thức chăn nuôi, bởi mỗi địa phương có độ mặn, nguồn thức ăn tại chỗ khác nhau. Từng tỉnh cần chú trọng nghiên cứu cụ thể cho từng vùng để có môi trường phù hợp, như nuôi ven biển, vùng nước lợ, nuôi nhốt, chạy đồng… nhằm giảm thiểu thiệt hại cho nông dân.
Đọc thêm