Cùng với những cơ chế chính sách khuyến khích của tỉnh để xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế trang trại, huyện Quảng Xương đã xây dựng và thực hiện nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi, như: Hỗ trợ 200 triệu đồng cho xây dựng trang trại quy mô nhỏ, 400 triệu đồng cho trang trại quy mô vừa và 600 triệu đồng cho trang trại quy mô lớn, hỗ trợ 40% giá trị mua giống lợn ngoại... Ngoài ra, huyện Quảng Xương còn triển khai thực hiện đề án khuyến khích tích tụ, tập trung đất nông nghiệp để hợp tác sản xuất hàng hóa quy mô lớn giai đoạn 2018 - 2020, tầm nhìn đến năm 2025. Đến nay, toàn huyện có 102 trang trại quy mô lớn, trong đó có 58 trang trại được UBND huyện cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại. Các trang trại trên địa bàn huyện Quảng Xương chủ yếu là chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản. Diện tích trang trại bình quân 1,7 ha, bình quân thu nhập 200 triệu đồng/trang trại/năm. Thông qua những mô hình kinh tế trang trại, người dân có cơ hội tiếp cận, học hỏi những kinh nghiệm, kiến thức khoa học – kỹ thuật cách làm hay để ứng dụng và từng bước nhân ra diện rộng. Nhiều trang trại trên địa bàn đã đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi kết hợp với hầm, bể biogas, bảo đảm vệ sinh môi trường. Bên cạnh đó, các trang trại, gia trại còn góp phần giải quyết việc làm thường xuyên cho hàng trăm lao động với thu nhập bình quân 3,5-4,5 triệu đồng/người/tháng. Điển hình trong phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn là xã Quảng Phong có 10 trang trại chăn nuôi gia súc quy mô lớn thu nhập hơn 1 tỷ đồng/trang trại/năm; xã Quảng Hợp có 4 trang trại chăn nuôi gia súc quy mô lớn theo mô hình liên kết thu nhập hơn 1 tỷ đồng/trang trại/năm; xã Quảng Định có 3 trang trại chăn nuôi gia cầm và 1 trang trại nuôi trồng thủy sản, thu nhập 1 tỷ đồng/trang trại/năm...


Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Quảng Xương vẫn còn nhiều khó khăn như: Các trang trại trên địa bàn huyện chủ yếu sử dụng đất trồng lúa kém hiệu quả kinh tế chuyển mục đích sang phát triển trang trại nên hồ sơ chuyển đổi còn vướng mắc. Do tâm lý của các chủ trang trại sợ gặp nhiều khó khăn khi thuê đất với cấp huyện nên chỉ thuê đất thời hạn 5 năm với UBND các xã. Số trang trại được UBND huyện cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại còn ít, gây thiệt thòi trong việc thụ hưởng các cơ chế khuyến khích của Nhà nước đối với kinh tế trang trại. Tình trạng thiếu vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh của trang trại là khá phổ biến. Việc tiêu thụ sản phẩm phần lớn tự phát hoặc thông qua trung gian. Cơ sở hạ tầng (đường giao thông, hệ thống thủy lợi, cơ sở chế biến, điện nước) thiếu đồng bộ nên hiệu quả sản xuất, kinh doanh của trang trại và các ngành dịch vụ có liên quan chưa cao.

Để khắc phục những hạn chế trên, hiện huyện Quảng Xương đang tích cực huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở vùng chăn nuôi tập trung. Từng bước chuyển trang trại đang nằm trong khu dân cư đến vùng quy hoạch phát triển kinh tế trang trại. Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận nguồn vốn tín dụng, nhất là vốn tín dụng ưu đãi với thủ tục vay đơn giản, hợp lý, có sự ưu tiên và có thể tín chấp bằng công trình đầu tư trong trang trại. Nâng cao trình độ quản lý trang trại, quản lý sản xuất, kinh doanh và trình độ khoa học kỹ thuật cho các chủ trang trại. Khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Hướng dẫn cho chủ trang trại lựa chọn cơ cấu các loại cây, con phù hợp, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, giống mới... trong sản xuất cho từng loại hình trang trại.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/quang-xuong-phat-trien-hieu-qua-kinh-te-cao-voi-mo-hinh-trang-trai-T40d0v5425.htm

Biotech-VET- Phát triển hiệu quả kinh tế cao với mô hình trang trai tại Quảng Xương

Cùng với những cơ chế chính sách khuyến khích của tỉnh để xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế trang trại, huyện Quảng Xương đã xây dựng và thực hiện nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi, như: Hỗ trợ 200 triệu đồng cho xây dựng trang trại quy mô nhỏ, 400 triệu đồng cho trang trại quy mô vừa và 600 triệu đồng cho trang trại quy mô lớn, hỗ trợ 40% giá trị mua giống lợn ngoại... Ngoài ra, huyện Quảng Xương còn triển khai thực hiện đề án khuyến khích tích tụ, tập trung đất nông nghiệp để hợp tác sản xuất hàng hóa quy mô lớn giai đoạn 2018 - 2020, tầm nhìn đến năm 2025. Đến nay, toàn huyện có 102 trang trại quy mô lớn, trong đó có 58 trang trại được UBND huyện cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại. Các trang trại trên địa bàn huyện Quảng Xương chủ yếu là chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản. Diện tích trang trại bình quân 1,7 ha, bình quân thu nhập 200 triệu đồng/trang trại/năm. Thông qua những mô hình kinh tế trang trại, người dân có cơ hội tiếp cận, học hỏi những kinh nghiệm, kiến thức khoa học – kỹ thuật cách làm hay để ứng dụng và từng bước nhân ra diện rộng. Nhiều trang trại trên địa bàn đã đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi kết hợp với hầm, bể biogas, bảo đảm vệ sinh môi trường. Bên cạnh đó, các trang trại, gia trại còn góp phần giải quyết việc làm thường xuyên cho hàng trăm lao động với thu nhập bình quân 3,5-4,5 triệu đồng/người/tháng. Điển hình trong phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn là xã Quảng Phong có 10 trang trại chăn nuôi gia súc quy mô lớn thu nhập hơn 1 tỷ đồng/trang trại/năm; xã Quảng Hợp có 4 trang trại chăn nuôi gia súc quy mô lớn theo mô hình liên kết thu nhập hơn 1 tỷ đồng/trang trại/năm; xã Quảng Định có 3 trang trại chăn nuôi gia cầm và 1 trang trại nuôi trồng thủy sản, thu nhập 1 tỷ đồng/trang trại/năm...


Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Quảng Xương vẫn còn nhiều khó khăn như: Các trang trại trên địa bàn huyện chủ yếu sử dụng đất trồng lúa kém hiệu quả kinh tế chuyển mục đích sang phát triển trang trại nên hồ sơ chuyển đổi còn vướng mắc. Do tâm lý của các chủ trang trại sợ gặp nhiều khó khăn khi thuê đất với cấp huyện nên chỉ thuê đất thời hạn 5 năm với UBND các xã. Số trang trại được UBND huyện cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại còn ít, gây thiệt thòi trong việc thụ hưởng các cơ chế khuyến khích của Nhà nước đối với kinh tế trang trại. Tình trạng thiếu vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh của trang trại là khá phổ biến. Việc tiêu thụ sản phẩm phần lớn tự phát hoặc thông qua trung gian. Cơ sở hạ tầng (đường giao thông, hệ thống thủy lợi, cơ sở chế biến, điện nước) thiếu đồng bộ nên hiệu quả sản xuất, kinh doanh của trang trại và các ngành dịch vụ có liên quan chưa cao.

Để khắc phục những hạn chế trên, hiện huyện Quảng Xương đang tích cực huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở vùng chăn nuôi tập trung. Từng bước chuyển trang trại đang nằm trong khu dân cư đến vùng quy hoạch phát triển kinh tế trang trại. Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận nguồn vốn tín dụng, nhất là vốn tín dụng ưu đãi với thủ tục vay đơn giản, hợp lý, có sự ưu tiên và có thể tín chấp bằng công trình đầu tư trong trang trại. Nâng cao trình độ quản lý trang trại, quản lý sản xuất, kinh doanh và trình độ khoa học kỹ thuật cho các chủ trang trại. Khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Hướng dẫn cho chủ trang trại lựa chọn cơ cấu các loại cây, con phù hợp, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, giống mới... trong sản xuất cho từng loại hình trang trại.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/quang-xuong-phat-trien-hieu-qua-kinh-te-cao-voi-mo-hinh-trang-trai-T40d0v5425.htm
Đọc thêm
Theo đánh giá của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh, ngoài các tác nhân như: người chăn nuôi không thực hiện nghiêm túc các biện pháp về an toàn sinh học trong chăn nuôi, sử dụng nguồn thức ăn thừa, không kiểm soát khâu vận chuyển… thì việc sử dụng nguồn nước không đảm bảo an toàn là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến cho DTHCP lây lan nhanh.

Xã Tân Phú Trung, một trong trong những địa phương có tổng đàn heo lớn nhất huyện Châu Thành thì những đợt mưa bão kéo dài, DTHCP sẽ bùng phát dữ dội và tốc độ lây lan sẽ nhanh hơn vào những ngày nắng. Ông Võ Đình Trọng – Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Châu Thành cho biết: “Đặc điểm chăn nuôi heo ở địa phương chủ yếu là nhỏ lẻ, các chuồng heo của hộ dân thường tập trung và san sát nhau, vì vậy tốc độ lây lan dịch bệnh giữa các hộ chăn nuôi sẽ nhanh hơn tại các địa phương khác. Ngoài ra, việc sử dụng nguồn nước không đảm bảo, chưa qua xử lý sát trùng cũng là nguyên nhân khiến cho DTHCP bùng phát mạnh ở địa phương thời gian qua”.

Theo dự báo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y, trong thời gian tới, đặc biệt bước vào cao điểm của mùa mưa và nước lũ từ thượng nguồn bắt đầu đổ về, nguồn nước vẫn là yếu tố tác động hàng đầu đến đàn heo của tỉnh nhà. Ngoài ra, với tập quán chăn nuôi hiện nay của người dân, chuồng trại thiết kế không đảm bảo và người chăn nuôi không thực hiện tốt các yêu cầu về an toàn sinh học (sử dụng nguồn nước sông chưa qua xử lý để vệ sinh chuồng trại, không kiểm soát người và phương tiện ra vào trại, sử dụng thức ăn thừa…) thì tình hình dịch bệnh sẽ còn diễn biến phức tạp và kéo dài đến hết tháng 8/2019.


Ông Bạch Tuấn Kiệt – Trưởng phòng Kiểm soát dịch bệnh, Chi cục Chăn nuôi và Thú y cho biết: “Theo khảo sát của chúng tôi về diễn biến của DTHCP tại Đồng Tháp thì đối với một số trang trại lớn có sử dụng nguồn nước máy hoặc nguồn nước ngầm độc lập thì phần nhiều tới thời điểm này vẫn đảm bảo sức khỏe an toàn cho đàn heo. Riêng đối với các hộ chăn nuôi có thói quen xử dụng nước sông chưa qua xử lý để phục vụ ăn uống, tắm rửa, vệ sinh gia súc thì phần nhiều DTHCP rất dễ tấn công. Vì vậy, ngành thú y khuyến cáo người chăn nuôi chỉ nên sử dụng nước máy, nước sông đã qua xử lý thuốc sát trùng hoặc nước giếng… để tắm rửa gia súc và vệ sinh chuồng trại. Đồng thời, các chất thải sau khi vệ sinh chuồng trại cần xử lý và lưu trữ tại hầm biogas hoặc hầm trữ lắng, không xả thải trực tiếp ra môi trường bên ngoài. Người chăn nuôi cần lưu ý tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi, nên giữ ấm cho gia súc, nhất là những ngày mưa bão nhằm giúp vật nuôi không bị cảm lạnh, đủ sức đề kháng chống chịu với bệnh tật”.

Tính đến ngày 17/7/2019, toàn tỉnh đã có 3.531 hộ chăn nuôi ở 121 xã của 12/12 huyện, thị, thành có heo mắc bệnh, với số lượng: 63.069 con (chiếm khoảng 24% tổng đàn heo của tỉnh). Trong đó, heo mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 63.020 con, tổng khối lượng heo tiêu hủy hơn 4.442 tấn. Đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 4 xã, phường: Tân Hội Trung (huyện Cao Lãnh), phường 1 (TP.Sa Đéc), Hưng Thạnh (huyện Tháp Mười) và thị trấn Cái Tàu Hạ (Châu Thành) đã qua 30 ngày và 6 xã, phường, thị trấn khác đã hơn 21 ngày không phát sinh thêm ổ dịch mới. Các huyện, thị, thành đã chi hỗ trợ cho 452 hộ chăn nuôi bị thiệt hại, với tổng số tiền hỗ trợ hơn 21 tỷ đồng.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/dtlcp-kho-kiem-soat-do-tac-nhan-chinh-la-nguon-nuoc-T40d0v5426.htm

Biotech-VET- Nguồn nước là tác nhân chính khiến DTLCP khó kiểm soát

Theo đánh giá của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh, ngoài các tác nhân như: người chăn nuôi không thực hiện nghiêm túc các biện pháp về an toàn sinh học trong chăn nuôi, sử dụng nguồn thức ăn thừa, không kiểm soát khâu vận chuyển… thì việc sử dụng nguồn nước không đảm bảo an toàn là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến cho DTHCP lây lan nhanh.

Xã Tân Phú Trung, một trong trong những địa phương có tổng đàn heo lớn nhất huyện Châu Thành thì những đợt mưa bão kéo dài, DTHCP sẽ bùng phát dữ dội và tốc độ lây lan sẽ nhanh hơn vào những ngày nắng. Ông Võ Đình Trọng – Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Châu Thành cho biết: “Đặc điểm chăn nuôi heo ở địa phương chủ yếu là nhỏ lẻ, các chuồng heo của hộ dân thường tập trung và san sát nhau, vì vậy tốc độ lây lan dịch bệnh giữa các hộ chăn nuôi sẽ nhanh hơn tại các địa phương khác. Ngoài ra, việc sử dụng nguồn nước không đảm bảo, chưa qua xử lý sát trùng cũng là nguyên nhân khiến cho DTHCP bùng phát mạnh ở địa phương thời gian qua”.

Theo dự báo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y, trong thời gian tới, đặc biệt bước vào cao điểm của mùa mưa và nước lũ từ thượng nguồn bắt đầu đổ về, nguồn nước vẫn là yếu tố tác động hàng đầu đến đàn heo của tỉnh nhà. Ngoài ra, với tập quán chăn nuôi hiện nay của người dân, chuồng trại thiết kế không đảm bảo và người chăn nuôi không thực hiện tốt các yêu cầu về an toàn sinh học (sử dụng nguồn nước sông chưa qua xử lý để vệ sinh chuồng trại, không kiểm soát người và phương tiện ra vào trại, sử dụng thức ăn thừa…) thì tình hình dịch bệnh sẽ còn diễn biến phức tạp và kéo dài đến hết tháng 8/2019.


Ông Bạch Tuấn Kiệt – Trưởng phòng Kiểm soát dịch bệnh, Chi cục Chăn nuôi và Thú y cho biết: “Theo khảo sát của chúng tôi về diễn biến của DTHCP tại Đồng Tháp thì đối với một số trang trại lớn có sử dụng nguồn nước máy hoặc nguồn nước ngầm độc lập thì phần nhiều tới thời điểm này vẫn đảm bảo sức khỏe an toàn cho đàn heo. Riêng đối với các hộ chăn nuôi có thói quen xử dụng nước sông chưa qua xử lý để phục vụ ăn uống, tắm rửa, vệ sinh gia súc thì phần nhiều DTHCP rất dễ tấn công. Vì vậy, ngành thú y khuyến cáo người chăn nuôi chỉ nên sử dụng nước máy, nước sông đã qua xử lý thuốc sát trùng hoặc nước giếng… để tắm rửa gia súc và vệ sinh chuồng trại. Đồng thời, các chất thải sau khi vệ sinh chuồng trại cần xử lý và lưu trữ tại hầm biogas hoặc hầm trữ lắng, không xả thải trực tiếp ra môi trường bên ngoài. Người chăn nuôi cần lưu ý tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi, nên giữ ấm cho gia súc, nhất là những ngày mưa bão nhằm giúp vật nuôi không bị cảm lạnh, đủ sức đề kháng chống chịu với bệnh tật”.

Tính đến ngày 17/7/2019, toàn tỉnh đã có 3.531 hộ chăn nuôi ở 121 xã của 12/12 huyện, thị, thành có heo mắc bệnh, với số lượng: 63.069 con (chiếm khoảng 24% tổng đàn heo của tỉnh). Trong đó, heo mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 63.020 con, tổng khối lượng heo tiêu hủy hơn 4.442 tấn. Đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 4 xã, phường: Tân Hội Trung (huyện Cao Lãnh), phường 1 (TP.Sa Đéc), Hưng Thạnh (huyện Tháp Mười) và thị trấn Cái Tàu Hạ (Châu Thành) đã qua 30 ngày và 6 xã, phường, thị trấn khác đã hơn 21 ngày không phát sinh thêm ổ dịch mới. Các huyện, thị, thành đã chi hỗ trợ cho 452 hộ chăn nuôi bị thiệt hại, với tổng số tiền hỗ trợ hơn 21 tỷ đồng.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/dtlcp-kho-kiem-soat-do-tac-nhan-chinh-la-nguon-nuoc-T40d0v5426.htm
Đọc thêm
Lên xã Tóc Tiên hỏi ông Pha 80 tuổi nuôi cá nước ngọt, ai cũng biết. Ông nổi tiếng vì ở độ tuổi “thất thập cổ lai hy” mà vẫn đủ sức khỏe để quản lý 7 ao nuôi cá thịt với diện tích mặt nước trên 8 ha. Đúng hẹn, ông tiếp chúng tôi, trong khi các công nhân đang kéo cá tra và cá trê lai thương phẩm để bán cho thương lái. Ông Pha chia sẻ: Hàng năm, ông thả nuôi khoảng 430.000 con giống cá tra (loại 100 con/kg), 2.000 kg cá trê giống (loại 120-150 con/kg), một số đối tượng cá truyền thống (cá trắm, trôi, mè, chép, rô phi đơn tính) và một ít ba ba. Tính ra, một năm ông xuất bán ra thị trường khoảng 400 tấn cá thịt các loại, sau khi trừ chi phí thu lãi khoảng 1,5 tỷ đồng.


Ông Nguyễn Ngọc Pha 80 tuổi vẫn miệt mài bên ao cá

Trải qua hơn 20 năm nuôi cá, với biết bao thăng trầm mới có được cơ ngơi như ngày hôm nay. “Ở khu vực Tóc Tiên, nguồn nước để cung cấp cho các ao nuôi không được chủ động. Về mùa mưa, chủ yếu dựa vào nguồn nước từ sườn núi và mạch ngầm trong lòng đất. Vào mùa khô, các ao nuôi hầu như không có nước để thay. Có năm gặp những cơn mưa kéo dài, lượng nước từ sườn núi đổ về làm vỡ bờ ao, cá đi hết”, ông Pha nói.

Trước đây, toàn vùng này chỉ nuôi các đối tượng cá truyền thống, theo hình thức nuôi lồng ghép, sản lượng không cao, thị trường tiêu thụ rất khó, vì sản lượng ít nên thương lái thường hay ép giá. Trong những năm gần đây, nhờ tìm được nguồn thức ăn phụ phế phẩm sẵn có tại địa phương, kết hợp thêm nguồn mỳ tôm thải từ nhà máy, gia đình  ông Pha chuyển sang nuôi đơn hai đối tượng cá tra và cá trê lai. Với những ao có nguồn thức ăn phù du tốt thì kết hợp thả ghép khoảng 10% cá rô phi và các loài khác.

Dù đã 80 tuổi, nhưng ông Nguyễn Ngọc Pha vẫn miệt mài với nghề nuôi cá thương phẩm, không ngừng học hỏi kinh nghiệm của những người đồng nghiệp, cải tiến kỹ thuật, xây dựng quy trình nuôi cá thịt cho riêng mình. Nguồn lãi thu được, ông vẫn tiếp tục tái đầu tư cải tạo và nâng cấp ao nuôi, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho việc nuôi cá. Bên cạnh đó, hiện gia trại của ông còn giải quyết việc làm thường xuyên cho 8 lao động với mức lương 5 triệu đồng/người/tháng.

Với kinh nghiệm hơn 20 năm nuôi cá, ông Pha chia sẻ, cá giống được ông nhập từ các cơ sở sản xuất có uy tín; con giống đạt chất lượng, mật độ thả nuôi phù hợp. Thức ăn trong hai tháng đầu là cám công nghiệp. Từ tháng thứ ba trở đi, nguồn thức ăn chủ yếu là các phụ phế phẩm ở các lò mổ và mì tôm loại, kết hợp xay nhuyễn, nấu chín, rồi cho ăn theo khẩu phần (tính theo trọng lượng cá nuôi trong ao). Định kỳ sử dụng các loại chế phẩm sinh học xử lý nguồn nước ao nuôi và bùn đáy. Với phương pháp này, cá nuôi phát triển tốt, kích thước đồng đều, nguồn nước nuôi luôn ổn định.

Không chỉ làm giàu cho bản thân, ông Pha còn sẵn lòng chia sẻ kỹ thuật nuôi cho nhiều người trong và ngoài địa phương. Ông chính là người ông, người cha miệt mài sáng tạo trong lao động sản xuất, cũng là một tấm gương cho các thế hệ trẻ noi theo./.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/lao-nong-o-tuoi-that-thap-lai-hy-van-miet-mai-voi-nghe-nuoi-ca-thuong-pham-T20d0v5411.htm

Biotec-VET- Lão nông lớn tuổi vẫn miệt mài với nghề nuôi cá thương phẩm, thu lãi khoảng 1,5 tỷ đồng/năm

Lên xã Tóc Tiên hỏi ông Pha 80 tuổi nuôi cá nước ngọt, ai cũng biết. Ông nổi tiếng vì ở độ tuổi “thất thập cổ lai hy” mà vẫn đủ sức khỏe để quản lý 7 ao nuôi cá thịt với diện tích mặt nước trên 8 ha. Đúng hẹn, ông tiếp chúng tôi, trong khi các công nhân đang kéo cá tra và cá trê lai thương phẩm để bán cho thương lái. Ông Pha chia sẻ: Hàng năm, ông thả nuôi khoảng 430.000 con giống cá tra (loại 100 con/kg), 2.000 kg cá trê giống (loại 120-150 con/kg), một số đối tượng cá truyền thống (cá trắm, trôi, mè, chép, rô phi đơn tính) và một ít ba ba. Tính ra, một năm ông xuất bán ra thị trường khoảng 400 tấn cá thịt các loại, sau khi trừ chi phí thu lãi khoảng 1,5 tỷ đồng.


Ông Nguyễn Ngọc Pha 80 tuổi vẫn miệt mài bên ao cá

Trải qua hơn 20 năm nuôi cá, với biết bao thăng trầm mới có được cơ ngơi như ngày hôm nay. “Ở khu vực Tóc Tiên, nguồn nước để cung cấp cho các ao nuôi không được chủ động. Về mùa mưa, chủ yếu dựa vào nguồn nước từ sườn núi và mạch ngầm trong lòng đất. Vào mùa khô, các ao nuôi hầu như không có nước để thay. Có năm gặp những cơn mưa kéo dài, lượng nước từ sườn núi đổ về làm vỡ bờ ao, cá đi hết”, ông Pha nói.

Trước đây, toàn vùng này chỉ nuôi các đối tượng cá truyền thống, theo hình thức nuôi lồng ghép, sản lượng không cao, thị trường tiêu thụ rất khó, vì sản lượng ít nên thương lái thường hay ép giá. Trong những năm gần đây, nhờ tìm được nguồn thức ăn phụ phế phẩm sẵn có tại địa phương, kết hợp thêm nguồn mỳ tôm thải từ nhà máy, gia đình  ông Pha chuyển sang nuôi đơn hai đối tượng cá tra và cá trê lai. Với những ao có nguồn thức ăn phù du tốt thì kết hợp thả ghép khoảng 10% cá rô phi và các loài khác.

Dù đã 80 tuổi, nhưng ông Nguyễn Ngọc Pha vẫn miệt mài với nghề nuôi cá thương phẩm, không ngừng học hỏi kinh nghiệm của những người đồng nghiệp, cải tiến kỹ thuật, xây dựng quy trình nuôi cá thịt cho riêng mình. Nguồn lãi thu được, ông vẫn tiếp tục tái đầu tư cải tạo và nâng cấp ao nuôi, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho việc nuôi cá. Bên cạnh đó, hiện gia trại của ông còn giải quyết việc làm thường xuyên cho 8 lao động với mức lương 5 triệu đồng/người/tháng.

Với kinh nghiệm hơn 20 năm nuôi cá, ông Pha chia sẻ, cá giống được ông nhập từ các cơ sở sản xuất có uy tín; con giống đạt chất lượng, mật độ thả nuôi phù hợp. Thức ăn trong hai tháng đầu là cám công nghiệp. Từ tháng thứ ba trở đi, nguồn thức ăn chủ yếu là các phụ phế phẩm ở các lò mổ và mì tôm loại, kết hợp xay nhuyễn, nấu chín, rồi cho ăn theo khẩu phần (tính theo trọng lượng cá nuôi trong ao). Định kỳ sử dụng các loại chế phẩm sinh học xử lý nguồn nước ao nuôi và bùn đáy. Với phương pháp này, cá nuôi phát triển tốt, kích thước đồng đều, nguồn nước nuôi luôn ổn định.

Không chỉ làm giàu cho bản thân, ông Pha còn sẵn lòng chia sẻ kỹ thuật nuôi cho nhiều người trong và ngoài địa phương. Ông chính là người ông, người cha miệt mài sáng tạo trong lao động sản xuất, cũng là một tấm gương cho các thế hệ trẻ noi theo./.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/lao-nong-o-tuoi-that-thap-lai-hy-van-miet-mai-voi-nghe-nuoi-ca-thuong-pham-T20d0v5411.htm
Đọc thêm
1. Về xử lí lợn tại hộ chăn nuôi có lợn mắc bệnh ASF

a. Tiêu hủy lợn mắc bệnh, lợn chết, lợn có kết quả xét nghiệm dương tính với ASF

b. Đối với lợn khỏe mạnh tại ô chuồng, dãy chuồng chưa có lợn mắc bệnh, được lấy mẫu và có kết quả xét nghiệm âm tính với mầm bệnh ASF.

– Trường hợp có nhu cầu giết mổ lợn: Được giết mổ để tiêu thụ thuộc địa bàn cấp huyện.

– Trường hợp có nhu cầu nuôi: Được chuyển đến nơi khác thuộc phạm vi địa bàn cấp tỉnh với sự giám sát của thú y địa phương.

Một số biện pháp bổ sung phòng, chống bệnh Dịch tả lợn châu Phi (mới)

Với lợn khỏe mạnh tại ô chuồng, dãy chuồng chưa có lợn mắc bệnh, được lấy mẫu và có kết quả xét nghiệm âm tính với mầm bệnh ASF được giết mổ để tiêu thụ thuộc địa bàn cấp huyện


2. Về xử lí lợn tại trang trại chăn nuôi có lợn mắc ASF

a. Tiêu hủy lợn mắc bệnh, lợn chết, lợn có kết quả.

b.  Đối với lợn khỏe mạnh tại ô chuồng, dãy chuồng có lợn mắc bệnh, được lấy mẫu và có kết quả xét nghiệm âm tính với mầm bệnh ASF:

– Trường hợp có nhu cầu giết mổ lợn: Được giết mổ để tiêu thụ trên địa bàn cấp huyện.

– Trường hợp có nhu cầu để nuôi: Được vận chuyển đến nơi khác thuộc phạm vi địa bàn cấp huyện để nuôi với sự giám sát của thú y địa phương.

c. Đối với lợn khỏe mạnh tại ô chuồng, dãy chuồng chưa có lợn mắc bệnh, được lấy mẫu và có kết qủa xét nghiệm âm tính với ASF:

– Trường hợp có nhu cầu giết mổ lợn: Được giết mổ để tiêu thụ thuộc địa bàn cấp tỉnh.

– Trường hợp có nhu cầu để nuôi: Được vận chuyển đến nơi khác thuộc phạm vi địa bàn cấp tỉnh để nuôi với sự giám sát của thú y địa phương.

3. Đối với cơ sở giết mổ nhỏ lẻ trong vùng dịch

Cơ quan thú y không cần lấy mẫu sản phẩm để xét nghiệm mầm bệnh ASF.

4. Kiểm soát vận chuyển lợn ra ngoài, vào vùng dịch của trang trại chăn nuôi có điểm trung chuyển

Được vận chuyển lợn (để nuôi làm giống, nuôi thương phẩm, để giết mổ) có kết quả âm tính với mầm bệnh ASF từ trại chăn nuôi đến điểm trung chuyển. Thời gian lưu giữ lợn tại điểm trung chuyển nếu chưa vượt quá 12 (mười hai) giờ thì không phải lấy mẫu xét nghiệm lại khi vận chuyển. Nếu vượt qua 12 (mười hai) giờ thì phải lấy mẫu xét nghiệm theo quy định.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/bo-nnptnt-ban-hanh-cong-van-huong-dan-bo-sung-phong-chong-benh-dtlcp-T40d0v5423.htm

Biotech-VET- Bộ NN&PTNT ban hành công văn hướng dẫn bổ sung phòng, chống bệnh DTLCP

1. Về xử lí lợn tại hộ chăn nuôi có lợn mắc bệnh ASF

a. Tiêu hủy lợn mắc bệnh, lợn chết, lợn có kết quả xét nghiệm dương tính với ASF

b. Đối với lợn khỏe mạnh tại ô chuồng, dãy chuồng chưa có lợn mắc bệnh, được lấy mẫu và có kết quả xét nghiệm âm tính với mầm bệnh ASF.

– Trường hợp có nhu cầu giết mổ lợn: Được giết mổ để tiêu thụ thuộc địa bàn cấp huyện.

– Trường hợp có nhu cầu nuôi: Được chuyển đến nơi khác thuộc phạm vi địa bàn cấp tỉnh với sự giám sát của thú y địa phương.

Một số biện pháp bổ sung phòng, chống bệnh Dịch tả lợn châu Phi (mới)

Với lợn khỏe mạnh tại ô chuồng, dãy chuồng chưa có lợn mắc bệnh, được lấy mẫu và có kết quả xét nghiệm âm tính với mầm bệnh ASF được giết mổ để tiêu thụ thuộc địa bàn cấp huyện


2. Về xử lí lợn tại trang trại chăn nuôi có lợn mắc ASF

a. Tiêu hủy lợn mắc bệnh, lợn chết, lợn có kết quả.

b.  Đối với lợn khỏe mạnh tại ô chuồng, dãy chuồng có lợn mắc bệnh, được lấy mẫu và có kết quả xét nghiệm âm tính với mầm bệnh ASF:

– Trường hợp có nhu cầu giết mổ lợn: Được giết mổ để tiêu thụ trên địa bàn cấp huyện.

– Trường hợp có nhu cầu để nuôi: Được vận chuyển đến nơi khác thuộc phạm vi địa bàn cấp huyện để nuôi với sự giám sát của thú y địa phương.

c. Đối với lợn khỏe mạnh tại ô chuồng, dãy chuồng chưa có lợn mắc bệnh, được lấy mẫu và có kết qủa xét nghiệm âm tính với ASF:

– Trường hợp có nhu cầu giết mổ lợn: Được giết mổ để tiêu thụ thuộc địa bàn cấp tỉnh.

– Trường hợp có nhu cầu để nuôi: Được vận chuyển đến nơi khác thuộc phạm vi địa bàn cấp tỉnh để nuôi với sự giám sát của thú y địa phương.

3. Đối với cơ sở giết mổ nhỏ lẻ trong vùng dịch

Cơ quan thú y không cần lấy mẫu sản phẩm để xét nghiệm mầm bệnh ASF.

4. Kiểm soát vận chuyển lợn ra ngoài, vào vùng dịch của trang trại chăn nuôi có điểm trung chuyển

Được vận chuyển lợn (để nuôi làm giống, nuôi thương phẩm, để giết mổ) có kết quả âm tính với mầm bệnh ASF từ trại chăn nuôi đến điểm trung chuyển. Thời gian lưu giữ lợn tại điểm trung chuyển nếu chưa vượt quá 12 (mười hai) giờ thì không phải lấy mẫu xét nghiệm lại khi vận chuyển. Nếu vượt qua 12 (mười hai) giờ thì phải lấy mẫu xét nghiệm theo quy định.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/bo-nnptnt-ban-hanh-cong-van-huong-dan-bo-sung-phong-chong-benh-dtlcp-T40d0v5423.htm
Đọc thêm
Vệ sinh sát trùng bên trong chuồng trại

- Tiến hành quét dọn, thu gom toàn bộ rác, chất thải chăn nuôi, phân, chất độn chuồng và tiêu hủy bằng cách đốt cháy hoàn toàn.

- Tất cả thức ăn, thực phẩm và sản phẩm động vật ở trong trại xảy ra dịch bệnh cũng phải được tiêu hủy bằng cách đốt.

- Tiến hành vệ sinh cơ học toàn bộ chuồng nuôi và khuôn viên trại. Phun sát trùng định kỳ 1 lần/ngày toàn bộ chuồng nuôi, khuôn viên trại, khu vực nhà ở cho công nhân,… bằng thuốc sát trùng trong 1 tuần đầu tiên, 3 lần/tuần trong 2-3 tuần tiếp theo.

- Rải vôi bột hoặc phun dung dịch vôi 1% lên toàn bộ bề mặt chuồng trại như nền chuồng, lối đi, hành lang, cổng trại, đường vào trại,… đảm bảo bề mặt phải được phủ trắng vôi.

- Tiến hành vệ sinh, khử trùng bằng cách sử dụng xút với tỷ lệ 1:50. Tưới 1 lít dung dịch xút cho 1,5m2  diện tích bề mặt chuồng nuôi, đợi trong thời gian 60 phút để cho phân và bụi bẩn bong tróc ra. Sau đó, rửa sạch lại bằng nước với vòi phun áp lực cao và chờ cho chuồng khô. Lặp lại bước này ít nhất 2 lần.


Hình 1: Phun thuốc sát trùng xung quanh chuồng trại

- Đối với khu vực bên trong chuồng nuôi, tiến hành phun thuốc sát trùng phun lần lượt từ cuối chuồng đến đầu chuồng, bạt trần, hai bên bạt hông và phun lên nền chuồng, 1 lít dung dịch sát trùng phun cho 4m2.

- Thực hiện quét nền chuồng với tỷ lệ 1:30 và quét tường xung quanh chuồng trại, lối đi với tỷ lệ 1:20.


Hình 2: Phun dung dịch vòi 1% trước cổng trại

Vệ sinh sát trùng dụng cụ chăn nuôi, đồng phục,…
  • Tất cả các dụng cụ chăn nuôi phải được vệ sinh sát trùng kỹ để hạn chế tối đa dịch bệnh tái bùng phát cho lứa sau.
  • Đối với dụng cụ chăn nuôi, quần áo bảo hộ sử dụng một lần nên tiêu hủy bằng cách đốt.
  • Đối với một số dụng cụ chăn nuôi như ủng, lồng úm, cào sủi phân, máng ăn, máng uống, máng phụ,… phải ngâm trong dung dịch xút 1% ít nhất 12 giờ, sau đó cọ rửa lại bằng nước sạch và phun thuốc sát trùng. Lặp lại ít nhất 2 lần.



Hình 3: Rải vôi lối đi khu vực bên trong và bên ngoài trại


  • Các dụng cụ bằng gỗ trong trại, thanh chắn bằng gỗ, giàn mát,… phải được tiêu hủy bằng cách đốt
  • Đối với hệ thống núm uống và ống dẫn nước:

–  Tháo dỡ toàn bộ hệ thống núm uống và ống dẫn nước, ngâm trong dung dịch xút 1% ít nhất 12 giờ.

– Sau đó, làm sạch ống dẫn nước bằng cách xả hết nước trong đường ống nước uống, pha thuốc sát trùng để ngâm đường ống ít nhất 24 giờ, sau đó xả rửa lại bằng nước sạch.

Đối với quần áo: Cần tiến hành ngâm trong dung dịch thuốc sát trùng, ngâm ít nhất 12 giờ. Sau đó giặt lại bằng xà phòng và xả lại bằng nước sạch.
Đối với các thiết bị như máy móc, nhà chứa thức ăn chăn nuôi, nhà để thuốc, nhà ở của công nhân,… phải được tiến hành vệ sinh, tiêu độc khử trùng.


Hình 4: Thu gom phân và đệm lót sinh học

Vệ sinh sát trùng phương tiện vận chuyển

– Toàn bộ vật dụng trong thùng xe và buồng lái phải tiêu hủy bằng cách đốt hoặc phải được vệ sinh, tiêu độc sát trùng.

– Tiến hành vệ sinh tất cả bề mặt của xe như thùng xe, bánh xe, gầm xe, hai bên hông xe,… bằng xà phòng.

– Sau đó, sử dụng vòi phun có áp lực cao phun sạch các bề mặt và chờ khô. Thực hiện quy trình lặp lại ít nhất 2 lần.

– Sau khi phương tiện đã được vệ sinh sạch sẽ và để khô, sử dụng thuốc sát trùng phun ướt toàn bộ bề mặt phương tiện.

– Để phương tiện nghỉ ít nhất 30 phút, sau đó sử dụng dung dịch vôi 1% phun lên toàn bộ bề mặt xe.

  • Vệ sinh sát trùng xung quanh trại
  • Toàn bộ cây, cỏ trong trại và khu vực xung quanh trại phải được chặt bỏ và đốt cháy hoàn toàn.
  • Tiến hành rải vôi bột hoặc sử dụng dung dịch vôi 1% phun toàn bộ khu vực xung quanh chuồng nuôi và bên ngoài trại.
  • Đối với ao hồ, cống rãnh:

– Cần tiến hành nạo vét, khơi thông cống rãnh. Sử dụng vôi bột rải lên toàn bộ bề mặt cống rãnh.

– Nước trong ao hồ phải được xử lý bằng vôi với liều 1%. Tuy nhiên, để đảm bảo được hiệu quả người chăn nuôi cần phải xác định thể tích nước trong hồ để tính toán đúng liều lượng cần sử dụng.

Đối với hệ thống biogas cần thường xuyên theo dõi hoạt động và nhiệt độ của hầm biogas đảm bảo luôn hoạt động tốt với nhiệt độ bên trong hầm biogas ở giai đoạn sinh khí methane là 55ºC. Do đó, ở nhiệt độ này có thể tiêu diệt được nhiều mầm bệnh có trong phân đặc biệt virus Dịch tả heo châu Phi (ASFV) có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 50ºC trong vòng 3 giờ.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/mot-so-luu-y-khi-xu-ly-chuong-trai-sau-dich-tlcp-T34d0v5440.htm

Biotech-VET- Một sôa lưu ý khi xử lý chuồng trại sau dịch TLCP

Vệ sinh sát trùng bên trong chuồng trại

- Tiến hành quét dọn, thu gom toàn bộ rác, chất thải chăn nuôi, phân, chất độn chuồng và tiêu hủy bằng cách đốt cháy hoàn toàn.

- Tất cả thức ăn, thực phẩm và sản phẩm động vật ở trong trại xảy ra dịch bệnh cũng phải được tiêu hủy bằng cách đốt.

- Tiến hành vệ sinh cơ học toàn bộ chuồng nuôi và khuôn viên trại. Phun sát trùng định kỳ 1 lần/ngày toàn bộ chuồng nuôi, khuôn viên trại, khu vực nhà ở cho công nhân,… bằng thuốc sát trùng trong 1 tuần đầu tiên, 3 lần/tuần trong 2-3 tuần tiếp theo.

- Rải vôi bột hoặc phun dung dịch vôi 1% lên toàn bộ bề mặt chuồng trại như nền chuồng, lối đi, hành lang, cổng trại, đường vào trại,… đảm bảo bề mặt phải được phủ trắng vôi.

- Tiến hành vệ sinh, khử trùng bằng cách sử dụng xút với tỷ lệ 1:50. Tưới 1 lít dung dịch xút cho 1,5m2  diện tích bề mặt chuồng nuôi, đợi trong thời gian 60 phút để cho phân và bụi bẩn bong tróc ra. Sau đó, rửa sạch lại bằng nước với vòi phun áp lực cao và chờ cho chuồng khô. Lặp lại bước này ít nhất 2 lần.


Hình 1: Phun thuốc sát trùng xung quanh chuồng trại

- Đối với khu vực bên trong chuồng nuôi, tiến hành phun thuốc sát trùng phun lần lượt từ cuối chuồng đến đầu chuồng, bạt trần, hai bên bạt hông và phun lên nền chuồng, 1 lít dung dịch sát trùng phun cho 4m2.

- Thực hiện quét nền chuồng với tỷ lệ 1:30 và quét tường xung quanh chuồng trại, lối đi với tỷ lệ 1:20.


Hình 2: Phun dung dịch vòi 1% trước cổng trại

Vệ sinh sát trùng dụng cụ chăn nuôi, đồng phục,…
  • Tất cả các dụng cụ chăn nuôi phải được vệ sinh sát trùng kỹ để hạn chế tối đa dịch bệnh tái bùng phát cho lứa sau.
  • Đối với dụng cụ chăn nuôi, quần áo bảo hộ sử dụng một lần nên tiêu hủy bằng cách đốt.
  • Đối với một số dụng cụ chăn nuôi như ủng, lồng úm, cào sủi phân, máng ăn, máng uống, máng phụ,… phải ngâm trong dung dịch xút 1% ít nhất 12 giờ, sau đó cọ rửa lại bằng nước sạch và phun thuốc sát trùng. Lặp lại ít nhất 2 lần.



Hình 3: Rải vôi lối đi khu vực bên trong và bên ngoài trại


  • Các dụng cụ bằng gỗ trong trại, thanh chắn bằng gỗ, giàn mát,… phải được tiêu hủy bằng cách đốt
  • Đối với hệ thống núm uống và ống dẫn nước:

–  Tháo dỡ toàn bộ hệ thống núm uống và ống dẫn nước, ngâm trong dung dịch xút 1% ít nhất 12 giờ.

– Sau đó, làm sạch ống dẫn nước bằng cách xả hết nước trong đường ống nước uống, pha thuốc sát trùng để ngâm đường ống ít nhất 24 giờ, sau đó xả rửa lại bằng nước sạch.

Đối với quần áo: Cần tiến hành ngâm trong dung dịch thuốc sát trùng, ngâm ít nhất 12 giờ. Sau đó giặt lại bằng xà phòng và xả lại bằng nước sạch.
Đối với các thiết bị như máy móc, nhà chứa thức ăn chăn nuôi, nhà để thuốc, nhà ở của công nhân,… phải được tiến hành vệ sinh, tiêu độc khử trùng.


Hình 4: Thu gom phân và đệm lót sinh học

Vệ sinh sát trùng phương tiện vận chuyển

– Toàn bộ vật dụng trong thùng xe và buồng lái phải tiêu hủy bằng cách đốt hoặc phải được vệ sinh, tiêu độc sát trùng.

– Tiến hành vệ sinh tất cả bề mặt của xe như thùng xe, bánh xe, gầm xe, hai bên hông xe,… bằng xà phòng.

– Sau đó, sử dụng vòi phun có áp lực cao phun sạch các bề mặt và chờ khô. Thực hiện quy trình lặp lại ít nhất 2 lần.

– Sau khi phương tiện đã được vệ sinh sạch sẽ và để khô, sử dụng thuốc sát trùng phun ướt toàn bộ bề mặt phương tiện.

– Để phương tiện nghỉ ít nhất 30 phút, sau đó sử dụng dung dịch vôi 1% phun lên toàn bộ bề mặt xe.

  • Vệ sinh sát trùng xung quanh trại
  • Toàn bộ cây, cỏ trong trại và khu vực xung quanh trại phải được chặt bỏ và đốt cháy hoàn toàn.
  • Tiến hành rải vôi bột hoặc sử dụng dung dịch vôi 1% phun toàn bộ khu vực xung quanh chuồng nuôi và bên ngoài trại.
  • Đối với ao hồ, cống rãnh:

– Cần tiến hành nạo vét, khơi thông cống rãnh. Sử dụng vôi bột rải lên toàn bộ bề mặt cống rãnh.

– Nước trong ao hồ phải được xử lý bằng vôi với liều 1%. Tuy nhiên, để đảm bảo được hiệu quả người chăn nuôi cần phải xác định thể tích nước trong hồ để tính toán đúng liều lượng cần sử dụng.

Đối với hệ thống biogas cần thường xuyên theo dõi hoạt động và nhiệt độ của hầm biogas đảm bảo luôn hoạt động tốt với nhiệt độ bên trong hầm biogas ở giai đoạn sinh khí methane là 55ºC. Do đó, ở nhiệt độ này có thể tiêu diệt được nhiều mầm bệnh có trong phân đặc biệt virus Dịch tả heo châu Phi (ASFV) có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 50ºC trong vòng 3 giờ.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/mot-so-luu-y-khi-xu-ly-chuong-trai-sau-dich-tlcp-T34d0v5440.htm
Đọc thêm
Theo số liệu của Chi cục Chăn nuôi và Thú y, trong 20 ngày đầu tháng 7, trên địa bàn Nghệ An, dịch tả lợn châu Phi xảy ra 10 ổ dịch mới và thêm 418 điểm dịch tại các huyện: Quế Phong, Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu...


Lập chốt kiểm soát dịch tả lợn châu Phi tại các địa phương có dịch

Tổng số lợn bị tiêu hủy trong 20 ngày qua là 1.900 con, tổng trọng lượng 100 tấn.

Có 6 huyện đã ra quyết định công bố hết dịch: Thanh Chương, Anh Sơn, Nam Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu và Tân Kỳ. Hiện có 3 huyện chưa có dịch: Nghĩa Đàn, TX Thái Hòa và Cửa Lò.

Theo nhận định của Chi cục Chăn nuôi và Thú y, hiện nay dịch tả lợn châu Phi đang diễn biến phức tạp tại một số xã thuộc huyện Yên Thành, Quỳnh Lưu. Vì vậy, các địa phương đã công bố hết dịch, không được chủ quan, phải thường xuyên theo dõi diễn biến dịch bệnh trên đàn lợn để kịp thời xử lý, bởi dịch có nguy cơ tái phát cao.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/nghe-an-6-huyen-cong-bo-het-dich-tlcp-T40d0v5421.htm

Biotech-VET- 6 huyện tại Nghệ An công bố hết dịch TLCP

Theo số liệu của Chi cục Chăn nuôi và Thú y, trong 20 ngày đầu tháng 7, trên địa bàn Nghệ An, dịch tả lợn châu Phi xảy ra 10 ổ dịch mới và thêm 418 điểm dịch tại các huyện: Quế Phong, Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu...


Lập chốt kiểm soát dịch tả lợn châu Phi tại các địa phương có dịch

Tổng số lợn bị tiêu hủy trong 20 ngày qua là 1.900 con, tổng trọng lượng 100 tấn.

Có 6 huyện đã ra quyết định công bố hết dịch: Thanh Chương, Anh Sơn, Nam Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu và Tân Kỳ. Hiện có 3 huyện chưa có dịch: Nghĩa Đàn, TX Thái Hòa và Cửa Lò.

Theo nhận định của Chi cục Chăn nuôi và Thú y, hiện nay dịch tả lợn châu Phi đang diễn biến phức tạp tại một số xã thuộc huyện Yên Thành, Quỳnh Lưu. Vì vậy, các địa phương đã công bố hết dịch, không được chủ quan, phải thường xuyên theo dõi diễn biến dịch bệnh trên đàn lợn để kịp thời xử lý, bởi dịch có nguy cơ tái phát cao.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/nghe-an-6-huyen-cong-bo-het-dich-tlcp-T40d0v5421.htm
Đọc thêm
Khác với các hộ chăn nuôi lân cận lựa chọn nuôi gà Đông Tảo thì gia đình ông Bốn lại nuôi một giống gà hoàn toàn khác biệt.Gà lai 3 máu hướng thịt là giống gà có khả năng tăng trọng nhanh, thời gian quay vòng vốn đầu tư ngắn, sau nuôi 4 tháng trọng lượng trung bình đã đạt 2,7 - 2,8kg/con và cho phép xuất bán. Nếu tuân thủ nghiêm ngặt quy trình chăn nuôi gia cầm VietGAHP, thì lợi nhuận nuôi gà 3 máu hướng thịt có thể đạt cao hơn nhiều so với các giống gà khác.

Bằng chứng rõ nét là, từ 6 năm nay gia đình ông Bốn thường xuyên nuôi gà lai 3 máu hướng thịt, mỗi năm nuôi 2 lứa, mỗi lứa 2.000 con, trừ chi phí đầu tư và hao hụt con giống, vẫn còn dư ra được 20 triệu đồng/tháng.

Để luôn duy trì được nguồn lợi nhuận cao nói trên, gia đình ông Bốn đã xây dựng 2 chuồng nuôi gà cố định, mỗi chuồng rộng 100m2, có tường bao xây lửng cao 0,5m, mái lợp tấm Proximang, nền chuồng đổ bê tông cứng, rải đệm lót sinh học để xử lý phân và mùi hôi trong trại.

Chọn mua con giống khoẻ, an toàn dịch bệnh. Thức ăn cho gà ở giai đoạn 45 - 48 ngày tuổi, chủ yếu dùng cám công nghiệp mảnh, sau đó chuyển sang cho ăn cám ngô, bã rượu và cám công nghiệp đậm đặc, theo tỷ lệ (khối lượng) 10% cám đậm đặc + 45% cám ngô + 45% bã rượu hoặc bã bia (dừng cho ăn cám công nghiệp trước xuất bán 7 - 10 ngày).

Trước mỗi trại nuôi gà còn có sân xi măng láng cứng, thuận tiện cho gà chơi và tẩy rửa vệ sinh hàng ngày. Trong quá trình chăn nuôi ông Bốn luôn tuân thủ nguyên tắc “vào - ra đồng loạt”. Xuất bán hết lứa gà trước, mới nhập nuôi lứa gà sau.


Chuồng nuôi rải đệm lót sinh học

Tăng cường quạt thông gió, và mở hết cỡ các cửa có trong trại gà, để hạ nhiệt độ trại nuôi vào các tháng mùa hè, vì lớp đệm lót sinh học nền chuồng luôn có quá trình sinh nhiệt. Lùa gà vào chuồng ngay khi có gió mùa, mưa rét.

Sau xuất bán hết gà tiến hành vệ sinh tiêu độc chuồng trại, trong đó thu gom triệt để các loại lông gà đem tiêu huỷ, sau để trống trại 3 - 4 tuần mới nuôi tái đàn trở lại.

Theo ông Bốn, để có thể bảo toàn được đàn gà, gia đình ông luôn coi trọng công tác phòng ngừa dịch bệnh sớm, tiêm vacxin phòng bệnh đúng quy định. Không cho gà ăn thức ăn bị ẩm mốc. Sân chơi, máng uống phải dọn rửa 2 - 3 lần/ngày. Cách ly kịp thời các con có dấu hiệu bị bệnh, đồng thời cho cả đàn uống thuốc phòng dịch ngay.

Nhờ áp dụng các biện pháp chăn nuôi gà an toàn sinh học nói trên, trại gà của gia đình khá gần khu nhà ở, nhưng tuyệt đối không có mùi hôi thối gây khó chịu ảnh hưởng đến sinh hoạt. Mặt khác, do sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi, mỗi năm gia đình ông Bốn còn thu thêm được ngót 10 triệu đồng, bán phân gà cho nhà nông các tỉnh miền núi phía Bắc trồng cây ăn quả.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/thoat-ngheo-thanh-cong-nho-nuoi-giong-ga-lai-3-mau-dac-biet-theo-tieu-chuan-vietgap-T20d0v5406.htm

Biotech-VET- Thoát nghèo thành công nhờ nuôi giống gà lai 3 máu đặc biệt theo tiêu chuẩn Vietgap

Khác với các hộ chăn nuôi lân cận lựa chọn nuôi gà Đông Tảo thì gia đình ông Bốn lại nuôi một giống gà hoàn toàn khác biệt.Gà lai 3 máu hướng thịt là giống gà có khả năng tăng trọng nhanh, thời gian quay vòng vốn đầu tư ngắn, sau nuôi 4 tháng trọng lượng trung bình đã đạt 2,7 - 2,8kg/con và cho phép xuất bán. Nếu tuân thủ nghiêm ngặt quy trình chăn nuôi gia cầm VietGAHP, thì lợi nhuận nuôi gà 3 máu hướng thịt có thể đạt cao hơn nhiều so với các giống gà khác.

Bằng chứng rõ nét là, từ 6 năm nay gia đình ông Bốn thường xuyên nuôi gà lai 3 máu hướng thịt, mỗi năm nuôi 2 lứa, mỗi lứa 2.000 con, trừ chi phí đầu tư và hao hụt con giống, vẫn còn dư ra được 20 triệu đồng/tháng.

Để luôn duy trì được nguồn lợi nhuận cao nói trên, gia đình ông Bốn đã xây dựng 2 chuồng nuôi gà cố định, mỗi chuồng rộng 100m2, có tường bao xây lửng cao 0,5m, mái lợp tấm Proximang, nền chuồng đổ bê tông cứng, rải đệm lót sinh học để xử lý phân và mùi hôi trong trại.

Chọn mua con giống khoẻ, an toàn dịch bệnh. Thức ăn cho gà ở giai đoạn 45 - 48 ngày tuổi, chủ yếu dùng cám công nghiệp mảnh, sau đó chuyển sang cho ăn cám ngô, bã rượu và cám công nghiệp đậm đặc, theo tỷ lệ (khối lượng) 10% cám đậm đặc + 45% cám ngô + 45% bã rượu hoặc bã bia (dừng cho ăn cám công nghiệp trước xuất bán 7 - 10 ngày).

Trước mỗi trại nuôi gà còn có sân xi măng láng cứng, thuận tiện cho gà chơi và tẩy rửa vệ sinh hàng ngày. Trong quá trình chăn nuôi ông Bốn luôn tuân thủ nguyên tắc “vào - ra đồng loạt”. Xuất bán hết lứa gà trước, mới nhập nuôi lứa gà sau.


Chuồng nuôi rải đệm lót sinh học

Tăng cường quạt thông gió, và mở hết cỡ các cửa có trong trại gà, để hạ nhiệt độ trại nuôi vào các tháng mùa hè, vì lớp đệm lót sinh học nền chuồng luôn có quá trình sinh nhiệt. Lùa gà vào chuồng ngay khi có gió mùa, mưa rét.

Sau xuất bán hết gà tiến hành vệ sinh tiêu độc chuồng trại, trong đó thu gom triệt để các loại lông gà đem tiêu huỷ, sau để trống trại 3 - 4 tuần mới nuôi tái đàn trở lại.

Theo ông Bốn, để có thể bảo toàn được đàn gà, gia đình ông luôn coi trọng công tác phòng ngừa dịch bệnh sớm, tiêm vacxin phòng bệnh đúng quy định. Không cho gà ăn thức ăn bị ẩm mốc. Sân chơi, máng uống phải dọn rửa 2 - 3 lần/ngày. Cách ly kịp thời các con có dấu hiệu bị bệnh, đồng thời cho cả đàn uống thuốc phòng dịch ngay.

Nhờ áp dụng các biện pháp chăn nuôi gà an toàn sinh học nói trên, trại gà của gia đình khá gần khu nhà ở, nhưng tuyệt đối không có mùi hôi thối gây khó chịu ảnh hưởng đến sinh hoạt. Mặt khác, do sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi, mỗi năm gia đình ông Bốn còn thu thêm được ngót 10 triệu đồng, bán phân gà cho nhà nông các tỉnh miền núi phía Bắc trồng cây ăn quả.

Nguồn: http://nhathuocthuy.vn/thoat-ngheo-thanh-cong-nho-nuoi-giong-ga-lai-3-mau-dac-biet-theo-tieu-chuan-vietgap-T20d0v5406.htm
Đọc thêm