Để kiểm tra chất lượng thức ăn cho heo ta sử dụng các phương pháp: cảm quan, hóa học hoặc thí nghiệm trên chính vật nuôi của cơ sở nuôi heo.
Động vật hữu cơ tiếp nhận nhu cầu dinh dưỡng từ thức ăn hữu cơ và thức ăn có chất lượng tốt.
Heo con phải được nuôi với một chế độ thức ăn cân đối đáp ứng tất cả các loại dinh dưỡng mà nó cần, tất cả các động vật nhai lại phải được ăn thức ăn thô hàng ngày.Thức ăn phải được làm từ các vật liệu 100% hữu cơ.
Trường hợp thức ăn hữu cơ không có đủ cả về khối lượng cũng như chất lượng thì tỉ lệ lượng thức ăn thông thường được phép sử dụng (kể cả cho động vật đang trong quá trình chuyển đổi) là 10% cho động vật nhai lại (trâu bò) và 15% cho động vật không nhai lại căn cứ theo lượng chất khô tiêu thụ hàng năm.
Trên 50% thức ăn phải do trang trại tự sản xuất hoặc hợp tác sản xuất với các trang trại hữu cơ khác. Có thể cho động vật ăn vitamin, các nguyên tố vi lượng và thức ăn bổ sung có nguồn gốc tự nhiên chiếm tối đa là 5% trong tổng lượng thức ăn.
Tuy nhiên, người vận hành phải chứng minh được nguồn gốc của các nguồn thức ăn bổ sung này. Ở những nơi có cách sử dụng nguồn đất đai bền vững hơn so với sử dụng đất để làm bãi chăn thả thì có thể cho động vật ăn cỏ tươi được mang từ nơi khác tới.
Không được làm tổn hại tới ích của động vật. Động vật phải được phép di chuyển đi lại thường xuyên.
1. Theo tiêu chuẩn PGS những chất sau bị cấm sử dụng làm thức ăn:
  • Những phụ phẩm có nguồn gốc từ động vật (ví dụ như chất thải từ lò mổ)
  • Tất cả các loại phân kể cả phân chim và phân chuồng;
  • Thức ăn chiết xuất từ dung môi (như hexane) hoặc chất xúc tác hóa học khác;
  • Axit amin tổng hợp hoặc axit amin phân lập;
  • Ure, và các loại hợp chất đạm tổng hợp khác;
  • Các chất kích thích hoặc hoạt chất tăng trưởng tổng hợp;
  • Các chất tổng hợp kích thích ăn uống
  • Các chất bảo quản trừ khi sử dụng hỗ trợ chế biến;
  • Các chất tạo màu nhân tạo.
2. Chỉ được sử dụng các chất bảo quản thức ăn sau đây:
  • Vi khuẩn, nấm và enzymes (kể cả EM);
  • Phụ phẩm của ngành công nghiệp thực phẩm (như mật mía); Các chế phẩm có nguồn gốc thực vật.
Kiểm tra thức ăn nuôi heo
- Để kiểm tra chất lượng thức ăn cho heo ta sử dụng các phương pháp sau đây:
a. Phương pháp cảm quan
Là phương pháp dựa vào sự cảm nhận của các giác quan và kinh nghiệm của kỹ thuật viên để đánh giá chất lượng thức ăn :
– Phương pháp quan sát : dùng thị giác (mắt nhìn) để đánh giá màu sắc, kích thước, độ mịn của hạt, độ lẫn tạp của thức ăn, mối, nấm mốc…
– Phương pháp kiểm tra mùi: ta lấy khoảng 20 – 50g thức ăn cho vào giấy (hoặc đĩa) sạch sau đó đưa lên mũi ngửi:
+ Nếu thức ăn thơm đặc trưng cho nguyên liệu là chất lượng tốt
+ Nếu không ngửi thấy mùi đặc trưng là thức ăn đã bị mất mùi chất lượng kém
+ Nếu thức ăn có mùi hôi, thối là thức ăn đã hỏng đã phân giải phải hủy bỏ
– Phương pháp kiểm tra vị: đưa vài gram thức ăn lên miệng dùng lưỡi để kiểm tra vị. Qua nhận cảm của các gai vị giác ở lưỡi sẽ cho chúng ta biết chất lượng thức ăn: mặn, chua, đắng cay.
– Phương pháp kiểm tra bằng cảm giác: Dùng cảm giác của bàn tay để đưa vào bao cám để kiểm tra qua nhận biết của cảm giác ta đánh giá được nhiệt độ, độ ẩm, độ vón cục… của thức ăn
b. Phương pháp hóa học
Phương pháp này sử dụng các thiết bị khoa hoc kỹ thuật để kiểm tra đánh giá chất lượng thức ăn chính xác khoa hoc. Các phương pháp đáng giá chất lượng thức ăn thường áp dụng hiện nay như sau:
– Kiểm tra xác định độ ẩm: đưa thức ăn cần kiểm tra vào hộp chức năng của máy đặt chế độ kiểm tra và cắm điện cho máy hoạt động sau vài phút đồng hồ hiển thị kết quả độ ẩm thức ăn (độ chính xác tới phần nghìn)
– Máy phân tích đạm, đường … phân tích thành phần các chất dinh dưỡng có trong thức ăn cần kiểm tra.
– Kiểm tra độ chua, tạp chất, chất độc, vi khuẩn, nấm… tồn dư trong thức ăn
c. Phương pháp thí nghiệm trên vật nuôi
Đây là phương pháp được bà con nông dân áp dụng trong chăn nuôi trang trại nông hộ ở các địa phương từ trước đến nay. Phương pháp này như sau: Dùng thức ăn kiểm tra đánh giá chất lượng cho vật nuôi ăn trong một thời gian nhất định (1 tuần, 2 tuần hoặc 3, 4 tuần) đồng thời cho nhóm vật nuôi khác (cùng lứa tuổi, cùng điều kiên chăn nuôi) ăn thức ăn mà ta đã khẳng định chất lượng sau đó kiểm tra tốc độ tăng trưởng, sức khỏe của cả 2 nhóm vật nuôi sau 3 – 4 lần kiểm tra ta có sự khác biệt và từ đó đưa ra kết luận đánh giá.
VD: Dùng thức ăn mà ta tự phối trộn cho 5 heo con ở giai đoạn từ 10 – 15kg ăn đồng thời cho 5 con khác sau 5 ngày ta cân để kiểm tra mức độ tăng trọng. Qua kết quả ta có thể kết luận và điều chỉnh khẩu phần ta phối trộn cho phù hợp.
Đối với phương pháp này cho kết quả chính xác nhất bởi vì: trong phương pháp này bao hàm cả phương pháp kiểm tra bằng cảm quan trước khi sử dụng thức ăn để kiểm tra. Mặt khác kết quả từ vật nuôi đưa ra là khách quan, chính xác, khoa học nhất.

DTK Biotech-Vet - Kiểm tra chất lượng thức ăn của heo con

Để kiểm tra chất lượng thức ăn cho heo ta sử dụng các phương pháp: cảm quan, hóa học hoặc thí nghiệm trên chính vật nuôi của cơ sở nuôi heo.
Động vật hữu cơ tiếp nhận nhu cầu dinh dưỡng từ thức ăn hữu cơ và thức ăn có chất lượng tốt.
Heo con phải được nuôi với một chế độ thức ăn cân đối đáp ứng tất cả các loại dinh dưỡng mà nó cần, tất cả các động vật nhai lại phải được ăn thức ăn thô hàng ngày.Thức ăn phải được làm từ các vật liệu 100% hữu cơ.
Trường hợp thức ăn hữu cơ không có đủ cả về khối lượng cũng như chất lượng thì tỉ lệ lượng thức ăn thông thường được phép sử dụng (kể cả cho động vật đang trong quá trình chuyển đổi) là 10% cho động vật nhai lại (trâu bò) và 15% cho động vật không nhai lại căn cứ theo lượng chất khô tiêu thụ hàng năm.
Trên 50% thức ăn phải do trang trại tự sản xuất hoặc hợp tác sản xuất với các trang trại hữu cơ khác. Có thể cho động vật ăn vitamin, các nguyên tố vi lượng và thức ăn bổ sung có nguồn gốc tự nhiên chiếm tối đa là 5% trong tổng lượng thức ăn.
Tuy nhiên, người vận hành phải chứng minh được nguồn gốc của các nguồn thức ăn bổ sung này. Ở những nơi có cách sử dụng nguồn đất đai bền vững hơn so với sử dụng đất để làm bãi chăn thả thì có thể cho động vật ăn cỏ tươi được mang từ nơi khác tới.
Không được làm tổn hại tới ích của động vật. Động vật phải được phép di chuyển đi lại thường xuyên.
1. Theo tiêu chuẩn PGS những chất sau bị cấm sử dụng làm thức ăn:
  • Những phụ phẩm có nguồn gốc từ động vật (ví dụ như chất thải từ lò mổ)
  • Tất cả các loại phân kể cả phân chim và phân chuồng;
  • Thức ăn chiết xuất từ dung môi (như hexane) hoặc chất xúc tác hóa học khác;
  • Axit amin tổng hợp hoặc axit amin phân lập;
  • Ure, và các loại hợp chất đạm tổng hợp khác;
  • Các chất kích thích hoặc hoạt chất tăng trưởng tổng hợp;
  • Các chất tổng hợp kích thích ăn uống
  • Các chất bảo quản trừ khi sử dụng hỗ trợ chế biến;
  • Các chất tạo màu nhân tạo.
2. Chỉ được sử dụng các chất bảo quản thức ăn sau đây:
  • Vi khuẩn, nấm và enzymes (kể cả EM);
  • Phụ phẩm của ngành công nghiệp thực phẩm (như mật mía); Các chế phẩm có nguồn gốc thực vật.
Kiểm tra thức ăn nuôi heo
- Để kiểm tra chất lượng thức ăn cho heo ta sử dụng các phương pháp sau đây:
a. Phương pháp cảm quan
Là phương pháp dựa vào sự cảm nhận của các giác quan và kinh nghiệm của kỹ thuật viên để đánh giá chất lượng thức ăn :
– Phương pháp quan sát : dùng thị giác (mắt nhìn) để đánh giá màu sắc, kích thước, độ mịn của hạt, độ lẫn tạp của thức ăn, mối, nấm mốc…
– Phương pháp kiểm tra mùi: ta lấy khoảng 20 – 50g thức ăn cho vào giấy (hoặc đĩa) sạch sau đó đưa lên mũi ngửi:
+ Nếu thức ăn thơm đặc trưng cho nguyên liệu là chất lượng tốt
+ Nếu không ngửi thấy mùi đặc trưng là thức ăn đã bị mất mùi chất lượng kém
+ Nếu thức ăn có mùi hôi, thối là thức ăn đã hỏng đã phân giải phải hủy bỏ
– Phương pháp kiểm tra vị: đưa vài gram thức ăn lên miệng dùng lưỡi để kiểm tra vị. Qua nhận cảm của các gai vị giác ở lưỡi sẽ cho chúng ta biết chất lượng thức ăn: mặn, chua, đắng cay.
– Phương pháp kiểm tra bằng cảm giác: Dùng cảm giác của bàn tay để đưa vào bao cám để kiểm tra qua nhận biết của cảm giác ta đánh giá được nhiệt độ, độ ẩm, độ vón cục… của thức ăn
b. Phương pháp hóa học
Phương pháp này sử dụng các thiết bị khoa hoc kỹ thuật để kiểm tra đánh giá chất lượng thức ăn chính xác khoa hoc. Các phương pháp đáng giá chất lượng thức ăn thường áp dụng hiện nay như sau:
– Kiểm tra xác định độ ẩm: đưa thức ăn cần kiểm tra vào hộp chức năng của máy đặt chế độ kiểm tra và cắm điện cho máy hoạt động sau vài phút đồng hồ hiển thị kết quả độ ẩm thức ăn (độ chính xác tới phần nghìn)
– Máy phân tích đạm, đường … phân tích thành phần các chất dinh dưỡng có trong thức ăn cần kiểm tra.
– Kiểm tra độ chua, tạp chất, chất độc, vi khuẩn, nấm… tồn dư trong thức ăn
c. Phương pháp thí nghiệm trên vật nuôi
Đây là phương pháp được bà con nông dân áp dụng trong chăn nuôi trang trại nông hộ ở các địa phương từ trước đến nay. Phương pháp này như sau: Dùng thức ăn kiểm tra đánh giá chất lượng cho vật nuôi ăn trong một thời gian nhất định (1 tuần, 2 tuần hoặc 3, 4 tuần) đồng thời cho nhóm vật nuôi khác (cùng lứa tuổi, cùng điều kiên chăn nuôi) ăn thức ăn mà ta đã khẳng định chất lượng sau đó kiểm tra tốc độ tăng trưởng, sức khỏe của cả 2 nhóm vật nuôi sau 3 – 4 lần kiểm tra ta có sự khác biệt và từ đó đưa ra kết luận đánh giá.
VD: Dùng thức ăn mà ta tự phối trộn cho 5 heo con ở giai đoạn từ 10 – 15kg ăn đồng thời cho 5 con khác sau 5 ngày ta cân để kiểm tra mức độ tăng trọng. Qua kết quả ta có thể kết luận và điều chỉnh khẩu phần ta phối trộn cho phù hợp.
Đối với phương pháp này cho kết quả chính xác nhất bởi vì: trong phương pháp này bao hàm cả phương pháp kiểm tra bằng cảm quan trước khi sử dụng thức ăn để kiểm tra. Mặt khác kết quả từ vật nuôi đưa ra là khách quan, chính xác, khoa học nhất.
Đọc thêm
Ở xã Thạnh Đức (Gò Dầu, Tây Ninh) có nhiều hộ dân chăn nuôi trâu thịt đạt hiệu quả kinh tế khá cao.
Một đàn trâu thịt ở ấp Rộc A.
Ở xã Thạnh Đức (Gò Dầu) có nhiều hộ dân chăn nuôi trâu thịt đạt hiệu quả kinh tế khá cao.
Anh Nguyễn Văn Tâm (sinh năm 1977, ngụ ấp Rộc A) cho biết, nhà anh nghèo, không có ruộng đất sản xuất, quanh năm làm thuê kiếm sống.
Cách đây 3 năm, gia đình anh được Hội Nông dân xã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện xem xét cho vay 25 triệu đồng để chăn nuôi trâu. Anh mua 6 con nghé về nuôi. Được 2 năm, anh bán 4 con được 75 triệu đồng.
Sau khi trả tiền vay ngân hàng, anh còn lời được 50 triệu đồng và còn 2 con trâu. Mới đây, anh được Hội Nông dân xã xem xét cho vay 25 triệu đồng từ nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh. Hiện anh đang đi tìm mua hai con nghé nữa về chăn nuôi.
Ông Lê Văn Long, Chi hội trưởng Chi hội Nông dân ấp Rộc A cho biết, cách đây khoảng 3 tháng, ông mua 6 con nghé về nuôi. Ông vừa bán và lời được 22 triệu đồng. Theo ông Long, hiện ở ấp Rộc A có hơn 70 hộ chăn nuôi trâu thịt, với tổng đàn trên 300 con. Trong đó có những hộ nuôi từ 10 đến 15 con.
Trước hiệu quả từ việc chăn nuôi trâu thịt, mới đây, có 20 hộ dân trong xã được Hội Nông dân tỉnh hỗ trợ vốn chăn nuôi với tổng số tiền 500 triệu đồng (mỗi hộ 25 triệu đồng).

DTK Biotech-Vet - Xã Thạnh Đức (Gò Dầu, Tây Ninh): Phát triển mô hình nuôi trâu thịt

Ở xã Thạnh Đức (Gò Dầu, Tây Ninh) có nhiều hộ dân chăn nuôi trâu thịt đạt hiệu quả kinh tế khá cao.
Một đàn trâu thịt ở ấp Rộc A.
Ở xã Thạnh Đức (Gò Dầu) có nhiều hộ dân chăn nuôi trâu thịt đạt hiệu quả kinh tế khá cao.
Anh Nguyễn Văn Tâm (sinh năm 1977, ngụ ấp Rộc A) cho biết, nhà anh nghèo, không có ruộng đất sản xuất, quanh năm làm thuê kiếm sống.
Cách đây 3 năm, gia đình anh được Hội Nông dân xã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện xem xét cho vay 25 triệu đồng để chăn nuôi trâu. Anh mua 6 con nghé về nuôi. Được 2 năm, anh bán 4 con được 75 triệu đồng.
Sau khi trả tiền vay ngân hàng, anh còn lời được 50 triệu đồng và còn 2 con trâu. Mới đây, anh được Hội Nông dân xã xem xét cho vay 25 triệu đồng từ nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh. Hiện anh đang đi tìm mua hai con nghé nữa về chăn nuôi.
Ông Lê Văn Long, Chi hội trưởng Chi hội Nông dân ấp Rộc A cho biết, cách đây khoảng 3 tháng, ông mua 6 con nghé về nuôi. Ông vừa bán và lời được 22 triệu đồng. Theo ông Long, hiện ở ấp Rộc A có hơn 70 hộ chăn nuôi trâu thịt, với tổng đàn trên 300 con. Trong đó có những hộ nuôi từ 10 đến 15 con.
Trước hiệu quả từ việc chăn nuôi trâu thịt, mới đây, có 20 hộ dân trong xã được Hội Nông dân tỉnh hỗ trợ vốn chăn nuôi với tổng số tiền 500 triệu đồng (mỗi hộ 25 triệu đồng).
Đọc thêm
Khi gà con sắp nở, bà con cần chú ý đến một số bệnh lý khi ấp trứng để chủ động điều chỉnh lượng thức ăn cho gà bố mẹ.
1. Ấp trứng đã bảo quản lâu ngày:
Phôi của trứng ấp đã qua bảo 1uản lâu ngày phát triển chậm, gà nở muộn. Nhiều gà con đã mổ được vỏ nhưng không nở được, kéo dài thời gian nở, nở rải rác. Gà con nở ra dính bết và bẩn do lòng trắng chưa tiêu thụ hết.
Nói chung gà con yếu, nặng bụng, tỷ lệ nuôi sống thấp.
2. Bệnh chân, cánh ngắn (Micromelia):
Phôi bị biến dị trầm trọng, do sự phát triển sụn, xương của tứ chi kém. Biểu hiện chân và cánh của phôi ngắn. Xương bàn chân cong và to. Xuơng ống ngắn và cong. Một hiện tượng khác – đầu to, xương hàm và mỏ dưới ngắn, mỏ trên quặp xuống, lông không bông.
Phôi bị chết sớm, đôi khi phôi sưng mọng. Nguyên nhân do thiếu dinh dưỡng trong trứng, do đàn gà sinh sản ăn thức ăn không cân đối đủ chất đạm, chất khoáng như mangan (Mn), kể cả vitamin như vitamin B2, vitamin H …
3. Bệnh khoèo chân (Perosit):
Biểu hiện các khớp xương nối đùi với xương ống chân và bàn chân bị sưng, gân bị trượt khỏi khớp. Trường hợp này làm chân gà khoèo về một phía, gà hầu như không đi lại được, hoặc đi bằng khuỷu chân (gọi là đi bằng đầu gối). Cần loại bỏ những gà khoèo chân, không nên nuôi.
Nguyên nhân là đo thiếu chất khoáng – mangan (Mn), jạxit folic, vitamin H, niaxin, Bl2 trong thức ăn cho gà.
4. Bệnh động kinh (Atexia):
Gà con vừa nở ra có cử động hỗn loạn; đặc trưng nhất là ngả đầu về phía lưng, mặt ngửa lên trời, xoay quanh hình tròn, hoặc đầu gục vào bụng. Nói chung thần kinh không điều khiển được quá trình vận động.
Gà không ăn uống được, kiệt sức và chết ngay trong 1-2 ngày đầu. Nguyên nhân của bệnh là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin như vitamin H, B2, B] và chất khoáng mangan (Mn).
5. Bệnh bết dính khi nở:
Hiện tượng này thường xuyên xảy ra khi gà bắt đầu mổ vỏ. Lỗ vỏ trứng mà gà vừa mổ tràn ra một chất lỏng dính màu vàng và khô rất nhanh, làm bịt kín mũi và mỏ của gà con làm gà chết ngạt. Một số trường hợp lỗ vỏ trứng rộng to, gà nở được nhưng chất lỏng nhầy này làm lông dính bết, có khi dính cả vỏ trứng, làm gà không cử động được.
Nguyên nhân là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin nhóm B, nhất là B2 và vitamin H nhưng lại thừa chất đạm (protein) động vật.

DTK Biotech-Vet - Một số bệnh lý khi ấp trứng

Khi gà con sắp nở, bà con cần chú ý đến một số bệnh lý khi ấp trứng để chủ động điều chỉnh lượng thức ăn cho gà bố mẹ.
1. Ấp trứng đã bảo quản lâu ngày:
Phôi của trứng ấp đã qua bảo 1uản lâu ngày phát triển chậm, gà nở muộn. Nhiều gà con đã mổ được vỏ nhưng không nở được, kéo dài thời gian nở, nở rải rác. Gà con nở ra dính bết và bẩn do lòng trắng chưa tiêu thụ hết.
Nói chung gà con yếu, nặng bụng, tỷ lệ nuôi sống thấp.
2. Bệnh chân, cánh ngắn (Micromelia):
Phôi bị biến dị trầm trọng, do sự phát triển sụn, xương của tứ chi kém. Biểu hiện chân và cánh của phôi ngắn. Xương bàn chân cong và to. Xuơng ống ngắn và cong. Một hiện tượng khác – đầu to, xương hàm và mỏ dưới ngắn, mỏ trên quặp xuống, lông không bông.
Phôi bị chết sớm, đôi khi phôi sưng mọng. Nguyên nhân do thiếu dinh dưỡng trong trứng, do đàn gà sinh sản ăn thức ăn không cân đối đủ chất đạm, chất khoáng như mangan (Mn), kể cả vitamin như vitamin B2, vitamin H …
3. Bệnh khoèo chân (Perosit):
Biểu hiện các khớp xương nối đùi với xương ống chân và bàn chân bị sưng, gân bị trượt khỏi khớp. Trường hợp này làm chân gà khoèo về một phía, gà hầu như không đi lại được, hoặc đi bằng khuỷu chân (gọi là đi bằng đầu gối). Cần loại bỏ những gà khoèo chân, không nên nuôi.
Nguyên nhân là đo thiếu chất khoáng – mangan (Mn), jạxit folic, vitamin H, niaxin, Bl2 trong thức ăn cho gà.
4. Bệnh động kinh (Atexia):
Gà con vừa nở ra có cử động hỗn loạn; đặc trưng nhất là ngả đầu về phía lưng, mặt ngửa lên trời, xoay quanh hình tròn, hoặc đầu gục vào bụng. Nói chung thần kinh không điều khiển được quá trình vận động.
Gà không ăn uống được, kiệt sức và chết ngay trong 1-2 ngày đầu. Nguyên nhân của bệnh là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin như vitamin H, B2, B] và chất khoáng mangan (Mn).
5. Bệnh bết dính khi nở:
Hiện tượng này thường xuyên xảy ra khi gà bắt đầu mổ vỏ. Lỗ vỏ trứng mà gà vừa mổ tràn ra một chất lỏng dính màu vàng và khô rất nhanh, làm bịt kín mũi và mỏ của gà con làm gà chết ngạt. Một số trường hợp lỗ vỏ trứng rộng to, gà nở được nhưng chất lỏng nhầy này làm lông dính bết, có khi dính cả vỏ trứng, làm gà không cử động được.
Nguyên nhân là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin nhóm B, nhất là B2 và vitamin H nhưng lại thừa chất đạm (protein) động vật.
Đọc thêm
Gia cầm non dễ bị tổn thương, đặc biệt thời tiết lạnh làm chậm hoặc không tiêu túi lòng đỏ, gây viêm, ảnh hưởng đến sức khỏe, làm giảm sức đề kháng, kế phát nhiều bệnh gây tăng tỷ lệ chết, giảm năng suất, chất lượng đàn gia cầm. Vì vậy để hạn chế các tác động có hại đến gia cầm non, khi úm cần chú ý một số vấn đề sau đây:
1. Quây úm
Để tập trung nguồn nhiệt, tránh gió lùa, trong thời gian úm nên sử dụng các tấm cót quây với chiều cao 50 cm, thường quây hình tròn hoặc hình ê-líp để nguồn nhiệt tỏa đều trong quây. Mỗi quây có đường kính 1,5 – 2 (m) nuôi úm 120 – 200 con. Chất độn chuồng nên đổ dày đều 5 – 7 cm để giữ ấm cho gia cầm. Từ ngày thứ 5 tăng diện tích quây để gà có thể di chuyển dễ dàng đến máng ăn, máng uống. Gia cầm non cần được đưa vào khu vực nuôi úm ngay sau khi xuống chuồng, phân bổ số lượng gia cầm đồng đều vào các quây úm.
Một số lưu ý khi úm gia cầm trong mùa lạnh
Gia cầm non cần được đưa vào khu vực nuôi úm ngay sau khi xuống chuồng
2. Nhiệt độ chuồng nuôi úm
Việc giữ ấm cho gia cầm con theo nhu cầu sinh lý trong các tuần tuổi đầu (đặc biệt là 2 tuần đầu) mới xuống chuồng rất quan trọng. Nếu không đảm bảo đủ nhiệt độ, tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng sẽ bị ảnh hưởng các bệnh hô hấp, tiêu hoá dễ phát sinh.
Từ ngày 22 – 28 cần chú ý đến tốc độ mọc lông ở gia cầm để điều chỉnh nhiệt độ cho thích hợp.
Trong quá trình nuôi phải quan sát phản ứng của gia cầm đối với nhiệt độ:
+ Nếu gia cầm tập trung gần nguồn nhiệt, chen lấn chồng đống lên nhau là chuồng nuôi không đủ nhiệt độ gia cầm bị lạnh.
+ Nếu gia cầm tản xa nguồn nhiệt nháo nhác, khát nước, há mỏ để thở là bị quá nóng cần phải điều chỉnh giảm nhiệt độ.
+ Nếu gia cầm tụm lại một phía là bị gió lùa rất nguy hiểm cần phải che kín hướng gió thổi.
+ Khi đủ nhiệt gia cầm vận động ăn uống bình thường ngủ, nghỉ tản đều.
Cần quan sát kỹ các biểu hiện của gia cầm trong giai đoạn nuôi úm bởi vì đây là chỉ dẫn tốt nhất về nhiệt độ hợp lý.
Thiết bị sưởi ấm: có thể dùng bóng điện, bóng hồng ngoại ở những nơi có điện hoặc đèn thắp sáng, lò ủ trấu, đốt củi khô ở vùng sâu vùng xa (có ống thoát khói cao, không để khói ảnh hưởng đến gia cầm). Vị trí đặt thiết bị sưởi ấm trong quây hay trong ô chuồng cao hay thấp tuỳ thuộc vào yêu cầu về nhiệt độ ở từng giai đoạn.Chú ý khi dùng bóng hồng ngoại để sưởi ấm, nếu để bóng thấp, nhiệt độ quây úm cao dễ gây khô chân, khô niêm mạc của gia cầm.
Yêu cầu về nhiệt độ (0C) đối với gà:
Ngày tuổi
Nhiệt độ tại quây úm
Nhiệt độ chuồng nuôi
0-3
37
31 – 32
4-7
35
31 – 32
8-14
32
29 – 30
15-21
29
28 – 29
22-35

21 – 28
Yêu cầu về nhiệt độ (0C) đối với vịt, ngan:
+ Ngày tuổi 1 – 3: 32 – 33oC
+ Ngày tuổi 4 – 5: 29 – 31oC
+ Ngày tuổi 6 – 14: 25 – 28oC
+ Từ 15 ngày tuổi: 24 – 25oC
3. Độ thông thoáng
Gia cầm non cần phải được nuôi dưỡng trong điều kiện nhiệt độ phù hợp có đủ không khí sạch. Tuy nhiên chuồng úm gia cầm 1 ngày tuổi phải che kín, sự thay đổi không khí gần như bằng không nhưng vần đủ không khí cung cấp cho gà.
Khoảng 3 ngày sau cần phải thay đổi không khí với tốc độ 0,2 m/giây để tránh bị ẩm thấp, ngột ngạt làm gia cầm chậm phát triển. Điều kiện ngột ngạt, ẩm thấp có thể làm cho bệnh tật phát sinh, các bệnh ký sinh trùng, bệnh cầu trùng và nhiều bệnh truyền nhiễm phát triển mạnh. Gia cầm càng lớn, lượng thức ăn, nước uống tiêu thụ càng nhiều, lượng chất thải lớn do đó không khí chuồng nuôi chứa nhiều khí độc như NH3, H2S, nếu không đủ thông thoáng dễ phát sinh các bệnh đường hô hấp….
4. Mật độ
Tuỳ thuộc vào điều kiện chuồng nuôi, thời tiết, khí hậu mà quyết định mật độ nuôi. Trong điều kiện tất cả các yếu tố khác là thích hợp thì mật độ phù hợp sẽ cho khả năng tăng trưởng càng cao và tỷ lệ nhiễm bệnh càng thấp.
Mật độ nuôi vận dụng cho nuôi nền sử dụng chất độn:
Gà lông màu: 20 – 40 con/ m2
Mật độ nuôi vận dụng trên sàn:
Gà lông màu: 25-50 con/ m2
Ngan, vịt siêu thịt 1 tuần tuổi: 15 – 20 con/m2 nền chuồng, 2 tuần tuổi: 8 – 10 con/m2 nền chuồng, từ 3 – 8 tuần tuổi: 6 – 8 con/m2 nền chuồng. Từ 9 – 25 tuần tuổi: 5 – 6 con/m2 nền chuồng.
5. Chăm sóc nuôi dưỡng:
– Kỹ thuật cho uống:
Nước là nhu cầu đầu tiên của gia cầm khi mới xuống chuồng. Nước cung cấp cho gia cầm uống phải đảm bảo vệ sinh, không được lạnh, tốt nhất là hơi ấm trong 2 ngày đầu. Để tăng sức đề kháng trong những ngày đầu có thể pha vào nước vitamin C hoặc vitamin tổng hợp, liều theo hướng dẫn sử dụng.
Vị trí đặt máng uống phải bố trí cho gia cầm con dễ tiếp cận không bị máng ăn che khuất.
Chú ý đặt máng uống cân và độ cao phù hợp để gia cầm non dễ uống nhưng không nhảy vào máng hoặc vảy nước làm ướt nền chuồng sẽ gây ướt lông làm gia cầm bị lạnh.
– Thức ăn và kỹ thuật cho ăn:
Thức ăn đảm bảo giá trị dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của từng giống gia cầm.
+ Máng ăn: 1-3 ngày đầu có thể dùng giấy xi măng, giấy báo cũ trải lên chất độn chuồng để gia cầm dễ ăn. Trong 1-3 tuần đầu sử dụng khay ăn bằng tôn, nhựa với kích thước 3 x 50 x 80 cm cho 100 gia cầm con. Sau 3 tuần nên thay máng ăn dài hoặc máng P50 cho hợp vệ sinh.
Khi dùng máng treo cần phải thường xuyên điều chỉnh độ cao ngang vai gia cầm để ăn dễ dàng và tránh bị rơi vãi thức ăn.
+ Kiểm soát thức ăn
Thức ăn nuôi gia cầm con phải được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng. Sử dụng các nguyên liệu mới, chất lượng tốt, không nấm mốc.
+ Kỹ thuật cho ăn
Sau khi gia cầm đã được uống nước thì cho chúng ăn.
Đối với gia cầm con: Cần cho gia cầm ăn nhiều lần trong ngày. Lượng thức ăn mỗi lần cân đối đủ theo nhu cầu để thức ăn luôn được mới, sạch sẽ, kích thích tính thèm ăn của gia cầm. Mỗi lần cho ăn cần loại bỏ chất độn chuồng và phân lẫn trong máng để tận dụng cám cũ.
Chỉ nên cung cấp một lượng thức ăn nhỏ và sẽ cấp bổ sung khi gia cầm ăn hết thức ăn. Tránh cấp lượng thức ăn lớn gia cầm không ăn hết dẫn đến ẩm, hôi làm mất tính thèm ăn của gia cầm. Hơn nữa thức ăn cho nhiều dẫn đến rơi vãi lẫn với chất độn chuồng, gây nấm mốc, khi gia cầm ăn vào sẽ độc hại, ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng hoặc hít bào tử nấm vào phổi sẽ gây nấm phổi.
6. Thú y phòng bệnh
+ Thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh: đảm bảo yếu tố cách ly, vệ sinh thức ăn, nước uống, chuồng nuôi và môi trường xung quanh. Thường xuyên quan sát, theo dõi sức khỏe đàn gia cầm.
+ Dùng vắc-xin phòng bệnh: Thực hiện tốt lịch phòng bệnh cho gia cầm bằng vắc-xin, tuy nhiên, với những ngày quá lạnh, nên tiêm hoặc nhỏ vắc-xin cho gia cầm vào thời điểm nhiệt độ cao nhất trong ngày, thao tác phải nhanh, đảm bảo nhiệt độ quây úm duy trì ổn định. Trước và sau khi dùng vắc-xin 2-3 ngày, bổ sung vitamin tổng hợp để tăng sức khỏe cho gia cầm và đáp ứng miễn dịch tốt hơn.
Một số lưu ý khi úm gia cầm trong mùa lạnh
Với những ngày quá lạnh, nên tiêm hoặc nhỏ vắc-xin cho gia cầm vào thời điểm nhiệt độ cao nhất trong ngày.

DTK Biotech-Vet - Một số lưu ý khi úm gia cầm trong mùa lạnh

Gia cầm non dễ bị tổn thương, đặc biệt thời tiết lạnh làm chậm hoặc không tiêu túi lòng đỏ, gây viêm, ảnh hưởng đến sức khỏe, làm giảm sức đề kháng, kế phát nhiều bệnh gây tăng tỷ lệ chết, giảm năng suất, chất lượng đàn gia cầm. Vì vậy để hạn chế các tác động có hại đến gia cầm non, khi úm cần chú ý một số vấn đề sau đây:
1. Quây úm
Để tập trung nguồn nhiệt, tránh gió lùa, trong thời gian úm nên sử dụng các tấm cót quây với chiều cao 50 cm, thường quây hình tròn hoặc hình ê-líp để nguồn nhiệt tỏa đều trong quây. Mỗi quây có đường kính 1,5 – 2 (m) nuôi úm 120 – 200 con. Chất độn chuồng nên đổ dày đều 5 – 7 cm để giữ ấm cho gia cầm. Từ ngày thứ 5 tăng diện tích quây để gà có thể di chuyển dễ dàng đến máng ăn, máng uống. Gia cầm non cần được đưa vào khu vực nuôi úm ngay sau khi xuống chuồng, phân bổ số lượng gia cầm đồng đều vào các quây úm.
Một số lưu ý khi úm gia cầm trong mùa lạnh
Gia cầm non cần được đưa vào khu vực nuôi úm ngay sau khi xuống chuồng
2. Nhiệt độ chuồng nuôi úm
Việc giữ ấm cho gia cầm con theo nhu cầu sinh lý trong các tuần tuổi đầu (đặc biệt là 2 tuần đầu) mới xuống chuồng rất quan trọng. Nếu không đảm bảo đủ nhiệt độ, tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng sẽ bị ảnh hưởng các bệnh hô hấp, tiêu hoá dễ phát sinh.
Từ ngày 22 – 28 cần chú ý đến tốc độ mọc lông ở gia cầm để điều chỉnh nhiệt độ cho thích hợp.
Trong quá trình nuôi phải quan sát phản ứng của gia cầm đối với nhiệt độ:
+ Nếu gia cầm tập trung gần nguồn nhiệt, chen lấn chồng đống lên nhau là chuồng nuôi không đủ nhiệt độ gia cầm bị lạnh.
+ Nếu gia cầm tản xa nguồn nhiệt nháo nhác, khát nước, há mỏ để thở là bị quá nóng cần phải điều chỉnh giảm nhiệt độ.
+ Nếu gia cầm tụm lại một phía là bị gió lùa rất nguy hiểm cần phải che kín hướng gió thổi.
+ Khi đủ nhiệt gia cầm vận động ăn uống bình thường ngủ, nghỉ tản đều.
Cần quan sát kỹ các biểu hiện của gia cầm trong giai đoạn nuôi úm bởi vì đây là chỉ dẫn tốt nhất về nhiệt độ hợp lý.
Thiết bị sưởi ấm: có thể dùng bóng điện, bóng hồng ngoại ở những nơi có điện hoặc đèn thắp sáng, lò ủ trấu, đốt củi khô ở vùng sâu vùng xa (có ống thoát khói cao, không để khói ảnh hưởng đến gia cầm). Vị trí đặt thiết bị sưởi ấm trong quây hay trong ô chuồng cao hay thấp tuỳ thuộc vào yêu cầu về nhiệt độ ở từng giai đoạn.Chú ý khi dùng bóng hồng ngoại để sưởi ấm, nếu để bóng thấp, nhiệt độ quây úm cao dễ gây khô chân, khô niêm mạc của gia cầm.
Yêu cầu về nhiệt độ (0C) đối với gà:
Ngày tuổi
Nhiệt độ tại quây úm
Nhiệt độ chuồng nuôi
0-3
37
31 – 32
4-7
35
31 – 32
8-14
32
29 – 30
15-21
29
28 – 29
22-35

21 – 28
Yêu cầu về nhiệt độ (0C) đối với vịt, ngan:
+ Ngày tuổi 1 – 3: 32 – 33oC
+ Ngày tuổi 4 – 5: 29 – 31oC
+ Ngày tuổi 6 – 14: 25 – 28oC
+ Từ 15 ngày tuổi: 24 – 25oC
3. Độ thông thoáng
Gia cầm non cần phải được nuôi dưỡng trong điều kiện nhiệt độ phù hợp có đủ không khí sạch. Tuy nhiên chuồng úm gia cầm 1 ngày tuổi phải che kín, sự thay đổi không khí gần như bằng không nhưng vần đủ không khí cung cấp cho gà.
Khoảng 3 ngày sau cần phải thay đổi không khí với tốc độ 0,2 m/giây để tránh bị ẩm thấp, ngột ngạt làm gia cầm chậm phát triển. Điều kiện ngột ngạt, ẩm thấp có thể làm cho bệnh tật phát sinh, các bệnh ký sinh trùng, bệnh cầu trùng và nhiều bệnh truyền nhiễm phát triển mạnh. Gia cầm càng lớn, lượng thức ăn, nước uống tiêu thụ càng nhiều, lượng chất thải lớn do đó không khí chuồng nuôi chứa nhiều khí độc như NH3, H2S, nếu không đủ thông thoáng dễ phát sinh các bệnh đường hô hấp….
4. Mật độ
Tuỳ thuộc vào điều kiện chuồng nuôi, thời tiết, khí hậu mà quyết định mật độ nuôi. Trong điều kiện tất cả các yếu tố khác là thích hợp thì mật độ phù hợp sẽ cho khả năng tăng trưởng càng cao và tỷ lệ nhiễm bệnh càng thấp.
Mật độ nuôi vận dụng cho nuôi nền sử dụng chất độn:
Gà lông màu: 20 – 40 con/ m2
Mật độ nuôi vận dụng trên sàn:
Gà lông màu: 25-50 con/ m2
Ngan, vịt siêu thịt 1 tuần tuổi: 15 – 20 con/m2 nền chuồng, 2 tuần tuổi: 8 – 10 con/m2 nền chuồng, từ 3 – 8 tuần tuổi: 6 – 8 con/m2 nền chuồng. Từ 9 – 25 tuần tuổi: 5 – 6 con/m2 nền chuồng.
5. Chăm sóc nuôi dưỡng:
– Kỹ thuật cho uống:
Nước là nhu cầu đầu tiên của gia cầm khi mới xuống chuồng. Nước cung cấp cho gia cầm uống phải đảm bảo vệ sinh, không được lạnh, tốt nhất là hơi ấm trong 2 ngày đầu. Để tăng sức đề kháng trong những ngày đầu có thể pha vào nước vitamin C hoặc vitamin tổng hợp, liều theo hướng dẫn sử dụng.
Vị trí đặt máng uống phải bố trí cho gia cầm con dễ tiếp cận không bị máng ăn che khuất.
Chú ý đặt máng uống cân và độ cao phù hợp để gia cầm non dễ uống nhưng không nhảy vào máng hoặc vảy nước làm ướt nền chuồng sẽ gây ướt lông làm gia cầm bị lạnh.
– Thức ăn và kỹ thuật cho ăn:
Thức ăn đảm bảo giá trị dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của từng giống gia cầm.
+ Máng ăn: 1-3 ngày đầu có thể dùng giấy xi măng, giấy báo cũ trải lên chất độn chuồng để gia cầm dễ ăn. Trong 1-3 tuần đầu sử dụng khay ăn bằng tôn, nhựa với kích thước 3 x 50 x 80 cm cho 100 gia cầm con. Sau 3 tuần nên thay máng ăn dài hoặc máng P50 cho hợp vệ sinh.
Khi dùng máng treo cần phải thường xuyên điều chỉnh độ cao ngang vai gia cầm để ăn dễ dàng và tránh bị rơi vãi thức ăn.
+ Kiểm soát thức ăn
Thức ăn nuôi gia cầm con phải được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng. Sử dụng các nguyên liệu mới, chất lượng tốt, không nấm mốc.
+ Kỹ thuật cho ăn
Sau khi gia cầm đã được uống nước thì cho chúng ăn.
Đối với gia cầm con: Cần cho gia cầm ăn nhiều lần trong ngày. Lượng thức ăn mỗi lần cân đối đủ theo nhu cầu để thức ăn luôn được mới, sạch sẽ, kích thích tính thèm ăn của gia cầm. Mỗi lần cho ăn cần loại bỏ chất độn chuồng và phân lẫn trong máng để tận dụng cám cũ.
Chỉ nên cung cấp một lượng thức ăn nhỏ và sẽ cấp bổ sung khi gia cầm ăn hết thức ăn. Tránh cấp lượng thức ăn lớn gia cầm không ăn hết dẫn đến ẩm, hôi làm mất tính thèm ăn của gia cầm. Hơn nữa thức ăn cho nhiều dẫn đến rơi vãi lẫn với chất độn chuồng, gây nấm mốc, khi gia cầm ăn vào sẽ độc hại, ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng hoặc hít bào tử nấm vào phổi sẽ gây nấm phổi.
6. Thú y phòng bệnh
+ Thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh: đảm bảo yếu tố cách ly, vệ sinh thức ăn, nước uống, chuồng nuôi và môi trường xung quanh. Thường xuyên quan sát, theo dõi sức khỏe đàn gia cầm.
+ Dùng vắc-xin phòng bệnh: Thực hiện tốt lịch phòng bệnh cho gia cầm bằng vắc-xin, tuy nhiên, với những ngày quá lạnh, nên tiêm hoặc nhỏ vắc-xin cho gia cầm vào thời điểm nhiệt độ cao nhất trong ngày, thao tác phải nhanh, đảm bảo nhiệt độ quây úm duy trì ổn định. Trước và sau khi dùng vắc-xin 2-3 ngày, bổ sung vitamin tổng hợp để tăng sức khỏe cho gia cầm và đáp ứng miễn dịch tốt hơn.
Một số lưu ý khi úm gia cầm trong mùa lạnh
Với những ngày quá lạnh, nên tiêm hoặc nhỏ vắc-xin cho gia cầm vào thời điểm nhiệt độ cao nhất trong ngày.
Đọc thêm
Ngày nay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của nhân dân ngày càng cao, đặc biệt là các loại thịt đặc sản qúy hiếm. Một trong những động vật hoang dă được nhiều người Việt Nam ưa chuộng đó là lợn rừng. Thuần hóa lợn rừng, lai tạo với lợn nhà đang được nhiều trang trại và các cơ sở chăn nuôi của nước ta nghiên cứu và ứng dụng.  
Giống và đặc điểm giống:  
Tên gọi: Heo rừng lai là con lai giữa heo rừng đực với heo nái là heo địa phương thả rông của người dân tộc thường nuôi (giống heo gần như hoang dă) tạo ra con lai với ưu thế lai cao của cả bố và mẹ: Có sức đề kháng mạnh, khả năng chịu đựng kham khổ với môi trường sống tự nhiên cao, ít dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt rất thấp…  
Vóc dáng: Heo rừng lai cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, hơi gầy, dài đ̣n, lưng thẳng, bụng thon, chân dài và nhỏ, cổ dài, đầu nhỏ, mơm dài và nhọn, tai nhỏ vểnh và thính, răng nanh phát triển mạnh, da lông màu hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có 3 ngọn, lông dọc theo sống lưng và cổ dày, dài và cứng hơn, ánh mắt lấm lét trông hoang dă… Trọng lượng lúc trưởng thành (con đực thường lớn hơn con cái), con đực nặng 50 – 70 kg, con cái nặng 30-40 kg…   
Tập tính sinh hoạt và môi trường sống: Heo rừng lai hơi nhút nhát, thính giác, khứu giác tốt, sinh hoạt bầy đàn và chọn lọc tự nhiên thể hiện tính hoang dă… Thích sống theo bầy đàn nhỏ vài ba con, heo đực thường thích sống một ḿnh (trừ khi heo cái động dục).
Môi trường sống thích hợp là vườn cây, trảng cỏ gần ao hồ… Thích hoạt động về ban đêm, ban ngày t́m nơi yên tĩnh, kín đáo để ngủ, nghỉ…  
Giá trị và thị trường: Thịt heo rừng lai màu hơi nhạt, không đỏ như thịt heo nhà, nhưng nhiều nạc, ít mỡ, da mỏng và ḍn, thịt ḍn thơm ngon rất đặc trưng, hàm lượng Cholerteron thấp, người tiêu dùng rất ưa chuộng nên bán được giá cao…  
Thấy được giá trị của heo rừng, những năm gần đây, nhiều hộ gia đ́nh ở các tỉnh như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước… đă tổ chức thuần hoá heo rừng, tổ chức lai tạo, chăm sóc nuôi dưỡng heo rừng lai, tổ chức liên doanh, liên kết tiêu thụ sản phẩm với các nhà hàng, khách sạn ở các thành phố lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao.  
Kỹ thuật nuôi heo rừng lai
Chọn giống và phối giống:  
Chọn giống:  
Chọn những con đầu thanh, ngực sâu, ḿnh nở, hoạt bát, lưng thẳng, bụng to vừa phải, hông rộng, lông mịn, bốn chân chắc khoẻ, bộ phận sinh dục phát triển và hoạt động tốt. Nếu có điều kiện nên chọn lọc qua đời trước (ḍng, giống bố mẹ, ông bà…), qua bản thân (ngoại h́nh, khả năng thích nghi, khả năng sản xuất…) và qua đời sau.  
Ghép đôi giao phối:  
Tốt nhất, nên cho heo rừng lai cái phối giống với heo rừng đực hoặc cho heo rừng lai cái phối giống với heo rừng lai đực để tạo ra con lai thương phẩm nuôi thịt…     
Phối giống và thời điểm phối giống thích hợp:  
Bỏ qua 1-2 lần động dục đầu tiên, v́ cơ thể chưa hoàn thiện, trứng rụng ít, phối giống, đậu thai hiệu quả thấp.  
Chu kỳ lên động dục của heo là 21 ngày, thời gian động dục kéo dài 3-5 ngày. Thời điểm phối giống thích hợp vào cuối ngày thứ 2 hoặc đầu ngày thứ 3 (tuỳ theo giống, tuổi), cho nên cần theo dơi biểu hiện của heo lên giống. Khi âm hộ chuyển từ màu hồng tươi sang màu hồng tái, có nếp nhăn và dịch nhờn tiết ra nhiều, tai chĩa về phía trước, có phản xạ đứng im (mê ́) là thời điểm phối giống thích hợp nhất.  
Khi heo cái có dấu hiệu động dục ta cho heo đực vào vườn nuôi heo cái hay cho heo cái vào vườn nuôi heo đực. Heo đực sẽ phối giống liên tục, bất kể ngày đêm đến khi nào heo cái không chịu nữa mới thôi. Có thể cho phối kép 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát (hoặc ngược lại). Sau 21 ngày, heo cái không động dục trở lại, có thể heo cái đă có bầu.  
Chuồng trại:  
Chuồng trại rất đơn giản, tuy nhiên, phải nắm vững một số đặc điểm và tập tính của heo rừng lai để bố trí chuồng trại.  
Nên chọn chỗ đất cao và thoát nước để bố trí nuôi. Chỗ nuôi cũng nên có nguồn nước sạch. Nó không những cung cấp đủ nước cho heo uống mà quan trọng hơn là nó sẽ duy trì được hệ thực vật phong phú tại nơi nuôi chúng và giữ được độ ẩm thích hợp.  
Chuồng trại càng cách xa khu dân cư và đường sá càng tốt. Bản năng hoang dă đă đưa chúng vào t́nh trạng hết sức cảnh giác và luôn hoảng hốt bỏ chạy khi nghe có tiếng động.  
Ta có thể nuôi heo rừng lai theo kiểu nhốt trong chuồng hoặc nuôi theo kiểu thả rông trong những khu vực có cây xanh, có rào che chắn xung quanh. Điều quan trọng là hệ thống hàng rào phải hết sức chắc chắn. Ta có thể vây lưới B40 thành các vườn nuôi tự nhiên, có móng kiên cố (v́ heo rừng lai hay đào hang), mỗi vườn nuôi rộng 50-100m2 (tuỳ theo khả năng đất đai) trong đó có chuồng nuôi rộng 20 – 30m2 nuôi khoảng 4-5 heo cái trưởng thành, chúng sẽ sống và sinh sản trực tiếp trong khu vực này. Heo đực giống nuôi riêng, mỗi con một vườn, mỗi vườn nuôi rộng 40 – 50m2 trong đó có chuồng nuôi rộng 5-10m2 . Chuồng nuôi, có mái che mưa, che nắng, cao trên 2,5m, nền đất tự nhiên, có độ dốc 2-3%… đảm bảo thông thoáng, sạch sẽ, mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông, tránh mưa tạt, gió lùa…  
Với quy mô ban đầu nuôi 10 con (1 đực, 9 cái) cần có 3 vườn nuôi. Hai vườn nuôi heo cái sinh sản, mỗi vườn rộng 50-100m2 trong đó có 2 chuồng nuôi, mỗi chuồng rộng 20-30m2. Một vườn nuôi heo đực giống rộng 40-50m2 trong đó có chuồng nuôi rộng 5-10m2…  
Thức ăn và khẩu phần thức ăn:  
Bao gồm, thức ăn xanh tươi (cỏ, cây các loại), thức ăn tinh (hạt ngũ cốc, củ quả, mầm cây, rễ cây các loại), muối khoáng như tro bếp, đất sét, hỗn hợp đá liếm… Thực tế cho thấy, heo rừng thường tìm đến nương rẫy mới đốt kiếm tro, đất sét để ăn.  
Khẩu phần thức ăn cho heo rừng lai thông thường: 50% là rau, củ, quả các loại (có thể sản xuất tại trang trại), 50% là cám, gạo, ngũ cốc các loại, hèm bia, bã đậu… Mỗi ngày cho ăn 2 lần (sáng, chiều), một con heo lai trưởng thành tiêu thụ hết khoảng 2,0 -3,0 kg thức ăn các loại.  
Thức ăn cho heo rừng lai, do con người cung cấp có thể thiếu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng và sinh tố… cho nên ngoài việc bổ sung thức ăn tinh giàu đạm, sinh tố, cần thiết phải bổ sung thêm đá liếm cho heo. Hỗn hợp đá liếm bổ sung khoáng có thể mua hay tự trộn theo tỷ lệ (muối ăn 100g; sắt sunphát 100g; đồng sunphát 50g; diêm sinh 100g; vôi tôi 1.000g… đất sét vừa đủ 3kg) cho heo liếm tự do cũng chỉ hết khoảng 20-25 gam/con/ngày.  
Thức ăn của heo rừng lai chủ yếu là thực vật. Không nên lạm dụng thức ăn giàu dinh dưỡng để nuôi heo rừng lai v́ nó sẽ làm cho phẩm chất thịt của heo rừng lai bị biến đổi và nhiều khi làm cho heo bị bệnh tiêu chảy…  
Heo ăn thức ăn xanh tươi ít uống nước, tuy nhiên cũng cần có đủ nước sạch và mát cho heo uống tự do. Nước không có ư nghĩa về mặt dinh dưỡng, nhưng có ư nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của heo, nhất là khi thời tiết nắng nóng…  
Hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, dọn bỏ thức ăn thừa, rửa sạch máng ăn, máng uống…  
Chăm sóc nuôi dưỡng:  
Heo rừng lai thích hợp với phương thức nuôi chăn thả trong vườn cây có rào dậu hay chăn thả tự nhiên, ít có sự tác động của con người. Heo rừng lai rất dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao.  
Khẩu phần thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi sống, rau, củ quả, mầm cây, rễ cây, thức ăn tinh gồm hạt ngũ cốc các loại, thức ăn bổ sung muối khoáng như tro bếp, đất sét… Ngoài ra, cũng có thể bổ sung vào chuồng nuôi hoặc vườn nuôi chăn thả một số thức ăn tinh hỗn hợp, xương, bột xương, bột ṣ, hỗn hợp đá liếm… cho heo ăn tự do có vậy thay răng nanh mới bị cùn bớt. 
Heo đực giống: Quản lư và chăm sóc tốt, 1 heo đực có thể phối 5-10 heo cái. Heo đực giống phải nuôi riêng và có chế độ bồi dưỡng, nhất là thức ăn tinh giàu đạm. Ngày phối giống bổ sung thêm thức ăn tinh, 1-2 quả trứng, muối khoáng, sinh tố cho ăn tự do…  
Heo cái giống: Heo rừng lai mắn đẻ, đẻ nhiều con, mỗi năm có thể đẻ 2 lứa, mỗi lứa 6-7 con, cá biệt có lứa đẻ 9-10 con và khéo nuôi con (nuôi con rất giỏi). Trong tự nhiên, khi đẻ heo mẹ tự chăm sóc, nuôi dưỡng con cái và tự tách bầy khi con lớn…  
Heo rừng lai sinh sản tự nhiên quanh năm. Vấn đề cơ bản là theo dơi biểu hiện lên giống và xác định thời điểm phối giống thích hợp. Thời gian mang thai 3 tháng, 3 tuần, 3 ngày (114 -115 ngày) thì đẻ.  
Đối với heo nái mang thai, 2 tháng đầu mang thai cho ăn khẩu phần thức ăn bình thường rau, củ, quả, hạt ngũ cốc các loại… có thể bổ sung thêm thức ăn tinh hỗn hợp, 15g muối, 20g khoáng mỗi ngày. Sau 2 tháng đến khi đẻ cần thiết phải bổ sung thêm thức ăn tinh giàu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng, sinh tố… Ngày heo đẻ có thể cho heo ăn cháo loăng, ít muối, ít rau xanh để đề pḥòng sốt sữa… Heo mang thai nên nuôi riêng để tiện chăm sóc nuôi dưỡng…  
Đối với heo nái nuôi con, khẩu phần thức ăn phải đảm bảo số lượng, chất lượng và chủng loại. Khi heo con được 1,5-2 tháng tuổi, đã ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cho mẹ ăn khẩu phần ăn bình thường. Không nên phối giống cho heo nái động dục trong thời kỳ nuôi con, vì khó thụ thai hoặc thụ thai nhưng số lượng và chất lượng heo con sinh ra không đạt yêu cầu.
Heo con:  
Heo sơ sinh màu lông đen, có những sọc nâu vàng chạy dọc thân, không cần đỡ đẻ, cắt rốn, chỉ khoảng 30 phút đến 1 tiếng đồng hồ heo con đã có thể đứng dậy bú mẹ. 15-20 ngày chạy lon ton và bắt đầu tập ăn cỏ, cây. Heo con được 1,5-2 tháng tuổi đã cứng cáp, ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cai sữa, tách bầy làm giống…  
Heo sơ sinh có thể đạt 300-500 gr/con, 1 tháng tuổi 3-5 kg, 2 tháng tuổi 8-10 kg, 6 tháng tuổi 20-25 kg, 12 tháng tuổi có thể đạt 60-70% trọng lượng trưởng thành. Với cách nuôi và chế độ dinh dưỡng thông thường, sau 6 tháng nuôi, heo con có thể đạt trọng lượng 25 kg và bán thịt.  
Hàng ngày, nên cho heo con vận động và tiếp xúc gần gũi với con người.  
Công tác thú y:  
Heo rừng lai là vật nuôi mới được lai tạo, sức đề kháng cao, ít dịch bệnh. Tuy nhiên, heo rừng lai cũng thường bị một số bệnh như: Dịch tả, tiêu chảy, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, bệnh sán lá, bệnh ghẻ lở và một số bệnh khác…  
Khi heo rừng lai mắc một số bệnh về đường tiêu hoá có thể dùng các loại thuốc trị đau bụng, sình bụng, đầy hơi, khó tiêu… Cho uống hay chích, hoặc có thể dùng 5-10 kg rau dừa dại cho heo ăn hoặc bổ sung thức ăn, nước uống đắng, chát như ổi xanh, cà rốt, rễ cau, rễ dừa… cũng có thể khỏi.  
Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn đảm bảo vệ sinh và giá trị dinh dưỡng, chuồng trại luôn sạch sẽ… Cần áp dụng tốt các biện pháp an toàn sinh học như: Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, cách ly khu vực chăn nuôi với các khu vực xung quanh… định ì tiêm pḥòng các bệnh truyền nhiễm như phó thương hàn, dịch tả, lở mồm long móng (FMD), E.coli, dại… theo đặc điểm dịch tễ học của vùng và qui định của cơ quan thú y.  
Khi thời tiết thay đổi hoặc trạng thái sức khoẻ đàn heo có biểu hiện bệnh, cần thiết phải bổ sung kháng sinh vào thức ăn hoặc nước uống cho heo theo quy tình “ dùng thuốc 3 ngày, nghỉ 7 hoặc 10 ngày, rồi dùng tiếp 3 ngày”, cứ thế cho đến khi đàn heo trở lại bình thường, với liều pḥòng chỉ bằng 1/2-1/3 liều điều trị…        

DTK Biotech-Vet - Kỹ thuật nuôi heo rừng lai

Ngày nay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của nhân dân ngày càng cao, đặc biệt là các loại thịt đặc sản qúy hiếm. Một trong những động vật hoang dă được nhiều người Việt Nam ưa chuộng đó là lợn rừng. Thuần hóa lợn rừng, lai tạo với lợn nhà đang được nhiều trang trại và các cơ sở chăn nuôi của nước ta nghiên cứu và ứng dụng.  
Giống và đặc điểm giống:  
Tên gọi: Heo rừng lai là con lai giữa heo rừng đực với heo nái là heo địa phương thả rông của người dân tộc thường nuôi (giống heo gần như hoang dă) tạo ra con lai với ưu thế lai cao của cả bố và mẹ: Có sức đề kháng mạnh, khả năng chịu đựng kham khổ với môi trường sống tự nhiên cao, ít dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt rất thấp…  
Vóc dáng: Heo rừng lai cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, hơi gầy, dài đ̣n, lưng thẳng, bụng thon, chân dài và nhỏ, cổ dài, đầu nhỏ, mơm dài và nhọn, tai nhỏ vểnh và thính, răng nanh phát triển mạnh, da lông màu hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có 3 ngọn, lông dọc theo sống lưng và cổ dày, dài và cứng hơn, ánh mắt lấm lét trông hoang dă… Trọng lượng lúc trưởng thành (con đực thường lớn hơn con cái), con đực nặng 50 – 70 kg, con cái nặng 30-40 kg…   
Tập tính sinh hoạt và môi trường sống: Heo rừng lai hơi nhút nhát, thính giác, khứu giác tốt, sinh hoạt bầy đàn và chọn lọc tự nhiên thể hiện tính hoang dă… Thích sống theo bầy đàn nhỏ vài ba con, heo đực thường thích sống một ḿnh (trừ khi heo cái động dục).
Môi trường sống thích hợp là vườn cây, trảng cỏ gần ao hồ… Thích hoạt động về ban đêm, ban ngày t́m nơi yên tĩnh, kín đáo để ngủ, nghỉ…  
Giá trị và thị trường: Thịt heo rừng lai màu hơi nhạt, không đỏ như thịt heo nhà, nhưng nhiều nạc, ít mỡ, da mỏng và ḍn, thịt ḍn thơm ngon rất đặc trưng, hàm lượng Cholerteron thấp, người tiêu dùng rất ưa chuộng nên bán được giá cao…  
Thấy được giá trị của heo rừng, những năm gần đây, nhiều hộ gia đ́nh ở các tỉnh như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước… đă tổ chức thuần hoá heo rừng, tổ chức lai tạo, chăm sóc nuôi dưỡng heo rừng lai, tổ chức liên doanh, liên kết tiêu thụ sản phẩm với các nhà hàng, khách sạn ở các thành phố lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao.  
Kỹ thuật nuôi heo rừng lai
Chọn giống và phối giống:  
Chọn giống:  
Chọn những con đầu thanh, ngực sâu, ḿnh nở, hoạt bát, lưng thẳng, bụng to vừa phải, hông rộng, lông mịn, bốn chân chắc khoẻ, bộ phận sinh dục phát triển và hoạt động tốt. Nếu có điều kiện nên chọn lọc qua đời trước (ḍng, giống bố mẹ, ông bà…), qua bản thân (ngoại h́nh, khả năng thích nghi, khả năng sản xuất…) và qua đời sau.  
Ghép đôi giao phối:  
Tốt nhất, nên cho heo rừng lai cái phối giống với heo rừng đực hoặc cho heo rừng lai cái phối giống với heo rừng lai đực để tạo ra con lai thương phẩm nuôi thịt…     
Phối giống và thời điểm phối giống thích hợp:  
Bỏ qua 1-2 lần động dục đầu tiên, v́ cơ thể chưa hoàn thiện, trứng rụng ít, phối giống, đậu thai hiệu quả thấp.  
Chu kỳ lên động dục của heo là 21 ngày, thời gian động dục kéo dài 3-5 ngày. Thời điểm phối giống thích hợp vào cuối ngày thứ 2 hoặc đầu ngày thứ 3 (tuỳ theo giống, tuổi), cho nên cần theo dơi biểu hiện của heo lên giống. Khi âm hộ chuyển từ màu hồng tươi sang màu hồng tái, có nếp nhăn và dịch nhờn tiết ra nhiều, tai chĩa về phía trước, có phản xạ đứng im (mê ́) là thời điểm phối giống thích hợp nhất.  
Khi heo cái có dấu hiệu động dục ta cho heo đực vào vườn nuôi heo cái hay cho heo cái vào vườn nuôi heo đực. Heo đực sẽ phối giống liên tục, bất kể ngày đêm đến khi nào heo cái không chịu nữa mới thôi. Có thể cho phối kép 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát (hoặc ngược lại). Sau 21 ngày, heo cái không động dục trở lại, có thể heo cái đă có bầu.  
Chuồng trại:  
Chuồng trại rất đơn giản, tuy nhiên, phải nắm vững một số đặc điểm và tập tính của heo rừng lai để bố trí chuồng trại.  
Nên chọn chỗ đất cao và thoát nước để bố trí nuôi. Chỗ nuôi cũng nên có nguồn nước sạch. Nó không những cung cấp đủ nước cho heo uống mà quan trọng hơn là nó sẽ duy trì được hệ thực vật phong phú tại nơi nuôi chúng và giữ được độ ẩm thích hợp.  
Chuồng trại càng cách xa khu dân cư và đường sá càng tốt. Bản năng hoang dă đă đưa chúng vào t́nh trạng hết sức cảnh giác và luôn hoảng hốt bỏ chạy khi nghe có tiếng động.  
Ta có thể nuôi heo rừng lai theo kiểu nhốt trong chuồng hoặc nuôi theo kiểu thả rông trong những khu vực có cây xanh, có rào che chắn xung quanh. Điều quan trọng là hệ thống hàng rào phải hết sức chắc chắn. Ta có thể vây lưới B40 thành các vườn nuôi tự nhiên, có móng kiên cố (v́ heo rừng lai hay đào hang), mỗi vườn nuôi rộng 50-100m2 (tuỳ theo khả năng đất đai) trong đó có chuồng nuôi rộng 20 – 30m2 nuôi khoảng 4-5 heo cái trưởng thành, chúng sẽ sống và sinh sản trực tiếp trong khu vực này. Heo đực giống nuôi riêng, mỗi con một vườn, mỗi vườn nuôi rộng 40 – 50m2 trong đó có chuồng nuôi rộng 5-10m2 . Chuồng nuôi, có mái che mưa, che nắng, cao trên 2,5m, nền đất tự nhiên, có độ dốc 2-3%… đảm bảo thông thoáng, sạch sẽ, mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông, tránh mưa tạt, gió lùa…  
Với quy mô ban đầu nuôi 10 con (1 đực, 9 cái) cần có 3 vườn nuôi. Hai vườn nuôi heo cái sinh sản, mỗi vườn rộng 50-100m2 trong đó có 2 chuồng nuôi, mỗi chuồng rộng 20-30m2. Một vườn nuôi heo đực giống rộng 40-50m2 trong đó có chuồng nuôi rộng 5-10m2…  
Thức ăn và khẩu phần thức ăn:  
Bao gồm, thức ăn xanh tươi (cỏ, cây các loại), thức ăn tinh (hạt ngũ cốc, củ quả, mầm cây, rễ cây các loại), muối khoáng như tro bếp, đất sét, hỗn hợp đá liếm… Thực tế cho thấy, heo rừng thường tìm đến nương rẫy mới đốt kiếm tro, đất sét để ăn.  
Khẩu phần thức ăn cho heo rừng lai thông thường: 50% là rau, củ, quả các loại (có thể sản xuất tại trang trại), 50% là cám, gạo, ngũ cốc các loại, hèm bia, bã đậu… Mỗi ngày cho ăn 2 lần (sáng, chiều), một con heo lai trưởng thành tiêu thụ hết khoảng 2,0 -3,0 kg thức ăn các loại.  
Thức ăn cho heo rừng lai, do con người cung cấp có thể thiếu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng và sinh tố… cho nên ngoài việc bổ sung thức ăn tinh giàu đạm, sinh tố, cần thiết phải bổ sung thêm đá liếm cho heo. Hỗn hợp đá liếm bổ sung khoáng có thể mua hay tự trộn theo tỷ lệ (muối ăn 100g; sắt sunphát 100g; đồng sunphát 50g; diêm sinh 100g; vôi tôi 1.000g… đất sét vừa đủ 3kg) cho heo liếm tự do cũng chỉ hết khoảng 20-25 gam/con/ngày.  
Thức ăn của heo rừng lai chủ yếu là thực vật. Không nên lạm dụng thức ăn giàu dinh dưỡng để nuôi heo rừng lai v́ nó sẽ làm cho phẩm chất thịt của heo rừng lai bị biến đổi và nhiều khi làm cho heo bị bệnh tiêu chảy…  
Heo ăn thức ăn xanh tươi ít uống nước, tuy nhiên cũng cần có đủ nước sạch và mát cho heo uống tự do. Nước không có ư nghĩa về mặt dinh dưỡng, nhưng có ư nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của heo, nhất là khi thời tiết nắng nóng…  
Hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, dọn bỏ thức ăn thừa, rửa sạch máng ăn, máng uống…  
Chăm sóc nuôi dưỡng:  
Heo rừng lai thích hợp với phương thức nuôi chăn thả trong vườn cây có rào dậu hay chăn thả tự nhiên, ít có sự tác động của con người. Heo rừng lai rất dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao.  
Khẩu phần thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi sống, rau, củ quả, mầm cây, rễ cây, thức ăn tinh gồm hạt ngũ cốc các loại, thức ăn bổ sung muối khoáng như tro bếp, đất sét… Ngoài ra, cũng có thể bổ sung vào chuồng nuôi hoặc vườn nuôi chăn thả một số thức ăn tinh hỗn hợp, xương, bột xương, bột ṣ, hỗn hợp đá liếm… cho heo ăn tự do có vậy thay răng nanh mới bị cùn bớt. 
Heo đực giống: Quản lư và chăm sóc tốt, 1 heo đực có thể phối 5-10 heo cái. Heo đực giống phải nuôi riêng và có chế độ bồi dưỡng, nhất là thức ăn tinh giàu đạm. Ngày phối giống bổ sung thêm thức ăn tinh, 1-2 quả trứng, muối khoáng, sinh tố cho ăn tự do…  
Heo cái giống: Heo rừng lai mắn đẻ, đẻ nhiều con, mỗi năm có thể đẻ 2 lứa, mỗi lứa 6-7 con, cá biệt có lứa đẻ 9-10 con và khéo nuôi con (nuôi con rất giỏi). Trong tự nhiên, khi đẻ heo mẹ tự chăm sóc, nuôi dưỡng con cái và tự tách bầy khi con lớn…  
Heo rừng lai sinh sản tự nhiên quanh năm. Vấn đề cơ bản là theo dơi biểu hiện lên giống và xác định thời điểm phối giống thích hợp. Thời gian mang thai 3 tháng, 3 tuần, 3 ngày (114 -115 ngày) thì đẻ.  
Đối với heo nái mang thai, 2 tháng đầu mang thai cho ăn khẩu phần thức ăn bình thường rau, củ, quả, hạt ngũ cốc các loại… có thể bổ sung thêm thức ăn tinh hỗn hợp, 15g muối, 20g khoáng mỗi ngày. Sau 2 tháng đến khi đẻ cần thiết phải bổ sung thêm thức ăn tinh giàu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng, sinh tố… Ngày heo đẻ có thể cho heo ăn cháo loăng, ít muối, ít rau xanh để đề pḥòng sốt sữa… Heo mang thai nên nuôi riêng để tiện chăm sóc nuôi dưỡng…  
Đối với heo nái nuôi con, khẩu phần thức ăn phải đảm bảo số lượng, chất lượng và chủng loại. Khi heo con được 1,5-2 tháng tuổi, đã ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cho mẹ ăn khẩu phần ăn bình thường. Không nên phối giống cho heo nái động dục trong thời kỳ nuôi con, vì khó thụ thai hoặc thụ thai nhưng số lượng và chất lượng heo con sinh ra không đạt yêu cầu.
Heo con:  
Heo sơ sinh màu lông đen, có những sọc nâu vàng chạy dọc thân, không cần đỡ đẻ, cắt rốn, chỉ khoảng 30 phút đến 1 tiếng đồng hồ heo con đã có thể đứng dậy bú mẹ. 15-20 ngày chạy lon ton và bắt đầu tập ăn cỏ, cây. Heo con được 1,5-2 tháng tuổi đã cứng cáp, ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cai sữa, tách bầy làm giống…  
Heo sơ sinh có thể đạt 300-500 gr/con, 1 tháng tuổi 3-5 kg, 2 tháng tuổi 8-10 kg, 6 tháng tuổi 20-25 kg, 12 tháng tuổi có thể đạt 60-70% trọng lượng trưởng thành. Với cách nuôi và chế độ dinh dưỡng thông thường, sau 6 tháng nuôi, heo con có thể đạt trọng lượng 25 kg và bán thịt.  
Hàng ngày, nên cho heo con vận động và tiếp xúc gần gũi với con người.  
Công tác thú y:  
Heo rừng lai là vật nuôi mới được lai tạo, sức đề kháng cao, ít dịch bệnh. Tuy nhiên, heo rừng lai cũng thường bị một số bệnh như: Dịch tả, tiêu chảy, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, bệnh sán lá, bệnh ghẻ lở và một số bệnh khác…  
Khi heo rừng lai mắc một số bệnh về đường tiêu hoá có thể dùng các loại thuốc trị đau bụng, sình bụng, đầy hơi, khó tiêu… Cho uống hay chích, hoặc có thể dùng 5-10 kg rau dừa dại cho heo ăn hoặc bổ sung thức ăn, nước uống đắng, chát như ổi xanh, cà rốt, rễ cau, rễ dừa… cũng có thể khỏi.  
Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn đảm bảo vệ sinh và giá trị dinh dưỡng, chuồng trại luôn sạch sẽ… Cần áp dụng tốt các biện pháp an toàn sinh học như: Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, cách ly khu vực chăn nuôi với các khu vực xung quanh… định ì tiêm pḥòng các bệnh truyền nhiễm như phó thương hàn, dịch tả, lở mồm long móng (FMD), E.coli, dại… theo đặc điểm dịch tễ học của vùng và qui định của cơ quan thú y.  
Khi thời tiết thay đổi hoặc trạng thái sức khoẻ đàn heo có biểu hiện bệnh, cần thiết phải bổ sung kháng sinh vào thức ăn hoặc nước uống cho heo theo quy tình “ dùng thuốc 3 ngày, nghỉ 7 hoặc 10 ngày, rồi dùng tiếp 3 ngày”, cứ thế cho đến khi đàn heo trở lại bình thường, với liều pḥòng chỉ bằng 1/2-1/3 liều điều trị…        
Đọc thêm
Ở xã Cấp Dẫn, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ không ai là không biết ông Nguyễn Văn Kha và trang trại gà của ông. 
Ông Nguyễn Văn Kha kiểm tra cân nặng đàn gà trong trang trại của gia đình
Là người con đến từ quê hương thị xã Phú Thọ, năm 2015, thấy khu 4, xã Cấp Dẫn còn nhiều đất đồi bỏ hoang, có tiềm năng nuôi gà thịt, ông đã mạnh dạn vay vốn ngân hàng, liên kết với doanh nghiệp để kinh doanh trang trại chăn nuôi gà thịt. Đến nay, trang trại của ông đã có 7000 con gà, mỗi năm cho xuất chuồng 6 – 7 lứa gà thịt, thu lãi từ 300 đến 400 triệu đồng, tạo việc làm ổn định cho 5 lao động địa phương.
Khi kể về con đường khởi nghiệp của mình, ông Nguyễn Văn Kha nhớ lại quãng thời gian khó khăn lúc bắt đầu. “Vạn sự khởi đầu nan”, để có vốn đầu tư, ông thế chấp hết tất cả tài sản của gia đình, mạnh dạn vay 3 tỷ đồng để thực hiện ước mơ. Cả gia đình ông Kha đang sống ở phố chợ sầm uất tại thị xã Phú Thọ, theo ông về miền đất đồi Cẩm Khê lập nghiệp, ủng hộ ông hết lòng. Bước đầu, nuôi giống gà gì, nuôi như thế nào, chọn nhà cung cấp thức ăn ra sao là cả một khó khăn lớn. Để giảm thiểu rủi ro, ông quyết định chọn liên kết với các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi theo mô hình liên kết tập trung.
Sau 2 tháng, ông thu được lứa gà đầu tiên, nặng trung bình từ 3 - 4 kg. Từ người nông dân chỉ biết sản xuất theo phương thức truyền thống, ông Kha quyết định đưa cơ giới hóa vào chăn nuôi. Ông mạnh dạn bỏ ra 1 tỷ đồng để lắp đặt hệ thống cho ăn tự động, máy sưởi, máy thông gió cho đàn gà vào mùa đông. Bên cạnh đó, ông còn sử dụng trấu khô để vệ sinh chuồng nuôi, nguồn trấu thải ra lại bán cho các công ty sản xuất phân bón. Mô hình chăn nuôi khép kín của ông được các hộ gia đình chăn nuôi tại huyện học tập, góp phần biến nhiều người nông dân chân lấm tay bùn thành các ông, bà chủ. Chưa dừng lại ở đó, ông Nguyễn Văn Kha còn có dự định sản xuất theo mô hình an toàn, đảm bảo chất lượng hơn. Dự kiến trong năm 2018, trang trại của ông sẽ là trang trại chăn nuôi đầu tiên của huyện Cẩm Khê được chứng nhận VietGap, đủ điều kiện xuất khẩu ra nước ngoài.
Cẩm Khê là một trong những huyện đi đầu trong phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi. Những người nông dân như ông Nguyễn Văn Kha sẽ là hạt giống gieo mầm cho những ước mơ, cho khát vọng được làm giàu trên vùng đất của huyện trung du này.

DTK Biotech-Vet - Làm giàu từ trang trại gà

Ở xã Cấp Dẫn, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ không ai là không biết ông Nguyễn Văn Kha và trang trại gà của ông. 
Ông Nguyễn Văn Kha kiểm tra cân nặng đàn gà trong trang trại của gia đình
Là người con đến từ quê hương thị xã Phú Thọ, năm 2015, thấy khu 4, xã Cấp Dẫn còn nhiều đất đồi bỏ hoang, có tiềm năng nuôi gà thịt, ông đã mạnh dạn vay vốn ngân hàng, liên kết với doanh nghiệp để kinh doanh trang trại chăn nuôi gà thịt. Đến nay, trang trại của ông đã có 7000 con gà, mỗi năm cho xuất chuồng 6 – 7 lứa gà thịt, thu lãi từ 300 đến 400 triệu đồng, tạo việc làm ổn định cho 5 lao động địa phương.
Khi kể về con đường khởi nghiệp của mình, ông Nguyễn Văn Kha nhớ lại quãng thời gian khó khăn lúc bắt đầu. “Vạn sự khởi đầu nan”, để có vốn đầu tư, ông thế chấp hết tất cả tài sản của gia đình, mạnh dạn vay 3 tỷ đồng để thực hiện ước mơ. Cả gia đình ông Kha đang sống ở phố chợ sầm uất tại thị xã Phú Thọ, theo ông về miền đất đồi Cẩm Khê lập nghiệp, ủng hộ ông hết lòng. Bước đầu, nuôi giống gà gì, nuôi như thế nào, chọn nhà cung cấp thức ăn ra sao là cả một khó khăn lớn. Để giảm thiểu rủi ro, ông quyết định chọn liên kết với các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi theo mô hình liên kết tập trung.
Sau 2 tháng, ông thu được lứa gà đầu tiên, nặng trung bình từ 3 - 4 kg. Từ người nông dân chỉ biết sản xuất theo phương thức truyền thống, ông Kha quyết định đưa cơ giới hóa vào chăn nuôi. Ông mạnh dạn bỏ ra 1 tỷ đồng để lắp đặt hệ thống cho ăn tự động, máy sưởi, máy thông gió cho đàn gà vào mùa đông. Bên cạnh đó, ông còn sử dụng trấu khô để vệ sinh chuồng nuôi, nguồn trấu thải ra lại bán cho các công ty sản xuất phân bón. Mô hình chăn nuôi khép kín của ông được các hộ gia đình chăn nuôi tại huyện học tập, góp phần biến nhiều người nông dân chân lấm tay bùn thành các ông, bà chủ. Chưa dừng lại ở đó, ông Nguyễn Văn Kha còn có dự định sản xuất theo mô hình an toàn, đảm bảo chất lượng hơn. Dự kiến trong năm 2018, trang trại của ông sẽ là trang trại chăn nuôi đầu tiên của huyện Cẩm Khê được chứng nhận VietGap, đủ điều kiện xuất khẩu ra nước ngoài.
Cẩm Khê là một trong những huyện đi đầu trong phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi. Những người nông dân như ông Nguyễn Văn Kha sẽ là hạt giống gieo mầm cho những ước mơ, cho khát vọng được làm giàu trên vùng đất của huyện trung du này.
Đọc thêm
Kháng kháng sinh là cơ chế chống lại kháng sinh của vi sinh vật. Ngân hàng Thế giới cảnh báo rằng đến năm 2050, các bệnh nhiễm trùng do thuốc có thể gây ra thiệt hại kinh tế toàn cầu ngang tầm với cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Kháng kháng sinh lan rộng thông qua các hình thức du lịch, chuyển bệnh nhân giữa các cơ sở y tế, thông qua thương mại lương thực và vật nuôi.

Kháng kháng sinh tại Việt Nam
Đây là một thách thức kinh tế toàn cầu quan trọng và là một thách thức xã hội mà các quốc gia hoặc các cơ quan không thể giải quyết được. Tổ chức Y tế Thế giới WHO khuyến khích không sử dụng kháng sinh, làm tăng sự gia tăng trọng lượng ở gà do nguy cơ lan rộng của kháng kháng sinh. Việc cấm sử dụng thuốc kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi, đòi hỏi phải có sự thay đổi tất yếu trong phương pháp chăn nuôi, nhằm chống lại sự phát triển của dịch bệnh và cân bằng vi sinh vật trong đường ruột của gà để tối ưu hóa lợi nhuận.
Bệnh lây truyền qua thực phẩm là bệnh nhiễm trùng do con người truyền qua thực phẩm ăn vào và do các mầm bệnh sẵn có trong động vật. Tại Việt Nam, các dịch bệnh bùng phát qua thực phẩm đều được thông báo lên website của Cục An toàn Thực phẩm (Bộ Y Tế) (http://vfa.gov.vn). Việt Nam có trên 93 triệu người, trải rộng khắp 63 tỉnh với khoảng 6,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi. Kháng sinh kháng thuốc là hiện tượng tự nhiên và tích luỹ nhiều yếu tố, bao gồm việc sử dụng thuốc chống vi khuẩn trên người và động vật cũng như các thực hành kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm soát nhiễm khuẩn kém. 
Lợi ích của vi sinh vật
Thực phẩm và dinh dưỡng là điều cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của con người và động vật. Thức ăn mà sinh vật sống tiêu thụ không chỉ phục vụ cho các bộ phận trên cơ thể mà còn phân phối đến một cộng đồng vi sinh vật đa dạng cư trú trong đường tiêu hóa. Mối quan hệ giữa các sinh vật có xương sống với vi sinh vật kí sinh thậm chí còn mật thiết hơn. Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu, có một sự thật đã trở nên rõ ràng rằng các vi sinh vật góp một phần vào sự phát triển của hệ thống miễn dịch, trí tuệ cũng như hình thành nên một cá thể sống khoẻ mạnh. Một sinh vật gây bệnh tự nhiên cư trú trong dạ dày và hệ thống đường ruột khi gặp môi trường thuận lợi nó có thể gây hại cho vật chủ. Ví dụ như nhiểm khuẩn huyết, một bệnh truyền nhiễm phổ biến trên gia cầm thông qua đường uống hoặc hít phải. Bệnh này do Escherichia coli gây ra, vi khuẩn này xuất hiện trên toàn cầu và gây xác suất tử vong từ 5 - 20% tuỳ từng ca nhiễm.
Trong một số trường hợp xấu, gà có thể bị ốm, dẫn tới khả năng sinh sản kém đi. Qua đó tạo ra một môi trường không hợp vệ sinh cho thế hệ gà tiếp theo, do đó tạo cơ hội tái phát mầm bệnh nhiễm trùng. Điều này dẫn đến khả năng tăng trọng thấp, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn không hiệu quả. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của dạ dày và hệ thống đường ruột trên gà nhiễm bệnh, dẫn đến thức ăn không tiêu hoá và không hấp thụ chất lỏng, chất điện phân và chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sống và phát triển.
Tuy nhiên, trong điều kiện bình thường với sự chăm sóc và nuôi dưỡng hợp vệ sinh, gà sẽ phát triển một hệ thực vật vi lượng ổn định trong đường tiêu hoá giúp cho tăng trưởng và tối ưu hóa khả năng phát triển. Trong những trường hợp này, hệ thực vật vi mô có đủ thời gian để tự phát triển bên trong vật chủ, giúp củng cố hệ thống miễn nhiễm của vật chủ nhằm bảo vệ gà chống lại các mầm bệnh nguy hiểm.
Sự cân bằng của vi sinh
Để cân bằng hệ thực vật vi khuẩn cần hình dung ra các giai đoạn phát triển của phôi gà: bên trong vỏ trứng có một môi trường được coi là vô trùng. Trong một số trường hợp ngoại lệ, môi trường sẽ được bảo vệ ngay lập tức bằng các hoạt động của enzyme chống vi khuẩn trong trứng gà tự nhiên (lysozyme và ovotransferrin) trong trứng. Các enzyme này diễn ra các hoạt động chống lại các loài vi khuẩn, cho phép phôi gà phát triển an toàn, không có sự can thiệp nào của việc nhiễm khuẩn. Một khi tất cả các chất dinh dưỡng được tiêu thụ trong trứng, gà sẽ phá vỡ vỏ trứng và tiếp xúc với môi trường bên ngoài. Điều quan trọng nhất là môi trường này phải thực sự “thân thiện” vì nó được coi là một hệ thống miễn dịch không hoàn chỉnh của gà con, có khả năng kháng bệnh hoặc chống lại vi khuẩn gây bệnh. Kể từ khi hệ tiêu hoá của “gà sơ sinh” trong điều kiện vô trùng, gà sẽ phải trải qua nhiều giai đoạn tiếp xúc với vi khuẩn để thích nghi với hệ miễn dịch đang phát triển.
Với lý do này, điều kiện “ấp nở” là vô cùng quan trọng và chính môi trường “thù địch” sẽ giúp gà phát triển một cách hiệu quả nhất. Cũng cần lưu ý rằng ở giai đoạn phát triển này, enzyme lysozyme hoặc ovotransferrin chỉ tác động khi được sản sinh ra từ gà. Cách bảo vệ tốt nhất khỏi bệnh tật là việc gà tự phát triển và bảo vệ mình khi đang chứa một hệ vi sinh vật dạ dày đa dạng và cân bằng.
Thông thường các vi sinh vật có thể được tìm thấy trong thức ăn chăn nuôi và rác thải được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm. Nhiều kết quả thí nghiệm cho thấy rằng sự hiện diện của một loạt các quần thể sinh vật trong dạ dày của gà đều có tác động tốt đối với vật chủ. Ví dụ như khả năng làm giảm thiểu các nhu cầu cần thiết với một chế độ dinh dưỡng đặc biệt hoặc tiêm chủng của một loài gà có thể làm giảm tỷ lệ viêm ruột hoại tử do Clostridium perfringens gây ra.
Sự cân bằng được thông qua bằng các phương pháp chăn nuôi tinh chế và phụ thuộc vào chuyên môn của những người nuôi gia cầm. Các phương pháp chăn nuôi quy mô lớn hiện nay với các giống gà nhập khẩu được quyết định bởi lượng thịt sẽ sản xuất được tương ứng với lượng dinh dưỡng cung cấp cho đàn gà. Có những giống gà có thể tăng thêm 2 kg trọng lượng trong vòng từ 6 - 8 tuần. Các phương thức chăn nuôi gà tập trung với một số giống đã chọn đều ẩn chứa nhiều nguy cơ nghiêm trọng về phúc lợi động vật do bệnh lây lan nhanh chóng qua đàn, cấy lông và ăn thịt đồng loại là các phương pháp phổ biến khi đem so với các biện pháp chăn nuôi giống gà nội. Hậu quả là tỷ lệ tử vong cao hơn và các can thiệp kháng sinh là điều không thể tránh khỏi đối việc nuôi gà với mật độ cao.
Áp dụng thành công?
Chìa khoá thành công trong việc hạn chế kháng sinh sử dụng trong ngành công nghiệp chăn nuôi gia cầm nằm ở việc kiểm soát tốt hơn môi trường trong quá trình nuôi bằng cách áp dụng các biện pháp vệ sinh có tổ chức và sử dụng thức ăn chất lượng cao để duy trì năng suất của đàn. Tiếp đến là phụ gia thức ăn, mặc dù không phải chất dinh dưỡng theo định nghĩa nhưng là một thành phần quan trọng cần phải được đưa vào khẩu phần ăn cho gia cầm để cải thiện sự tăng trưởng. Bên cạnh đó, kế hoạch dinh dưỡng đóng một vai trò lớn đảm bảo rằng gà được bảo vệ tốt trong thời gian nuôi và sản xuất thông qua cân bằng vi sinh. Yếu tố cuối cùng: sự đa dạng của các vi sinh vật trong đường tiêu hoá là rất quan trọng đối với sức khoẻ của gà, đảm bảo cho sự phát triển bền vững và lợi nhuận của các doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm.

DTK Biotech-Vet - Tăng cường cân bằng vi sinh không kháng sinh

Kháng kháng sinh là cơ chế chống lại kháng sinh của vi sinh vật. Ngân hàng Thế giới cảnh báo rằng đến năm 2050, các bệnh nhiễm trùng do thuốc có thể gây ra thiệt hại kinh tế toàn cầu ngang tầm với cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Kháng kháng sinh lan rộng thông qua các hình thức du lịch, chuyển bệnh nhân giữa các cơ sở y tế, thông qua thương mại lương thực và vật nuôi.

Kháng kháng sinh tại Việt Nam
Đây là một thách thức kinh tế toàn cầu quan trọng và là một thách thức xã hội mà các quốc gia hoặc các cơ quan không thể giải quyết được. Tổ chức Y tế Thế giới WHO khuyến khích không sử dụng kháng sinh, làm tăng sự gia tăng trọng lượng ở gà do nguy cơ lan rộng của kháng kháng sinh. Việc cấm sử dụng thuốc kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi, đòi hỏi phải có sự thay đổi tất yếu trong phương pháp chăn nuôi, nhằm chống lại sự phát triển của dịch bệnh và cân bằng vi sinh vật trong đường ruột của gà để tối ưu hóa lợi nhuận.
Bệnh lây truyền qua thực phẩm là bệnh nhiễm trùng do con người truyền qua thực phẩm ăn vào và do các mầm bệnh sẵn có trong động vật. Tại Việt Nam, các dịch bệnh bùng phát qua thực phẩm đều được thông báo lên website của Cục An toàn Thực phẩm (Bộ Y Tế) (http://vfa.gov.vn). Việt Nam có trên 93 triệu người, trải rộng khắp 63 tỉnh với khoảng 6,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi. Kháng sinh kháng thuốc là hiện tượng tự nhiên và tích luỹ nhiều yếu tố, bao gồm việc sử dụng thuốc chống vi khuẩn trên người và động vật cũng như các thực hành kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm soát nhiễm khuẩn kém. 
Lợi ích của vi sinh vật
Thực phẩm và dinh dưỡng là điều cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của con người và động vật. Thức ăn mà sinh vật sống tiêu thụ không chỉ phục vụ cho các bộ phận trên cơ thể mà còn phân phối đến một cộng đồng vi sinh vật đa dạng cư trú trong đường tiêu hóa. Mối quan hệ giữa các sinh vật có xương sống với vi sinh vật kí sinh thậm chí còn mật thiết hơn. Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu, có một sự thật đã trở nên rõ ràng rằng các vi sinh vật góp một phần vào sự phát triển của hệ thống miễn dịch, trí tuệ cũng như hình thành nên một cá thể sống khoẻ mạnh. Một sinh vật gây bệnh tự nhiên cư trú trong dạ dày và hệ thống đường ruột khi gặp môi trường thuận lợi nó có thể gây hại cho vật chủ. Ví dụ như nhiểm khuẩn huyết, một bệnh truyền nhiễm phổ biến trên gia cầm thông qua đường uống hoặc hít phải. Bệnh này do Escherichia coli gây ra, vi khuẩn này xuất hiện trên toàn cầu và gây xác suất tử vong từ 5 - 20% tuỳ từng ca nhiễm.
Trong một số trường hợp xấu, gà có thể bị ốm, dẫn tới khả năng sinh sản kém đi. Qua đó tạo ra một môi trường không hợp vệ sinh cho thế hệ gà tiếp theo, do đó tạo cơ hội tái phát mầm bệnh nhiễm trùng. Điều này dẫn đến khả năng tăng trọng thấp, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn không hiệu quả. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của dạ dày và hệ thống đường ruột trên gà nhiễm bệnh, dẫn đến thức ăn không tiêu hoá và không hấp thụ chất lỏng, chất điện phân và chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sống và phát triển.
Tuy nhiên, trong điều kiện bình thường với sự chăm sóc và nuôi dưỡng hợp vệ sinh, gà sẽ phát triển một hệ thực vật vi lượng ổn định trong đường tiêu hoá giúp cho tăng trưởng và tối ưu hóa khả năng phát triển. Trong những trường hợp này, hệ thực vật vi mô có đủ thời gian để tự phát triển bên trong vật chủ, giúp củng cố hệ thống miễn nhiễm của vật chủ nhằm bảo vệ gà chống lại các mầm bệnh nguy hiểm.
Sự cân bằng của vi sinh
Để cân bằng hệ thực vật vi khuẩn cần hình dung ra các giai đoạn phát triển của phôi gà: bên trong vỏ trứng có một môi trường được coi là vô trùng. Trong một số trường hợp ngoại lệ, môi trường sẽ được bảo vệ ngay lập tức bằng các hoạt động của enzyme chống vi khuẩn trong trứng gà tự nhiên (lysozyme và ovotransferrin) trong trứng. Các enzyme này diễn ra các hoạt động chống lại các loài vi khuẩn, cho phép phôi gà phát triển an toàn, không có sự can thiệp nào của việc nhiễm khuẩn. Một khi tất cả các chất dinh dưỡng được tiêu thụ trong trứng, gà sẽ phá vỡ vỏ trứng và tiếp xúc với môi trường bên ngoài. Điều quan trọng nhất là môi trường này phải thực sự “thân thiện” vì nó được coi là một hệ thống miễn dịch không hoàn chỉnh của gà con, có khả năng kháng bệnh hoặc chống lại vi khuẩn gây bệnh. Kể từ khi hệ tiêu hoá của “gà sơ sinh” trong điều kiện vô trùng, gà sẽ phải trải qua nhiều giai đoạn tiếp xúc với vi khuẩn để thích nghi với hệ miễn dịch đang phát triển.
Với lý do này, điều kiện “ấp nở” là vô cùng quan trọng và chính môi trường “thù địch” sẽ giúp gà phát triển một cách hiệu quả nhất. Cũng cần lưu ý rằng ở giai đoạn phát triển này, enzyme lysozyme hoặc ovotransferrin chỉ tác động khi được sản sinh ra từ gà. Cách bảo vệ tốt nhất khỏi bệnh tật là việc gà tự phát triển và bảo vệ mình khi đang chứa một hệ vi sinh vật dạ dày đa dạng và cân bằng.
Thông thường các vi sinh vật có thể được tìm thấy trong thức ăn chăn nuôi và rác thải được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm. Nhiều kết quả thí nghiệm cho thấy rằng sự hiện diện của một loạt các quần thể sinh vật trong dạ dày của gà đều có tác động tốt đối với vật chủ. Ví dụ như khả năng làm giảm thiểu các nhu cầu cần thiết với một chế độ dinh dưỡng đặc biệt hoặc tiêm chủng của một loài gà có thể làm giảm tỷ lệ viêm ruột hoại tử do Clostridium perfringens gây ra.
Sự cân bằng được thông qua bằng các phương pháp chăn nuôi tinh chế và phụ thuộc vào chuyên môn của những người nuôi gia cầm. Các phương pháp chăn nuôi quy mô lớn hiện nay với các giống gà nhập khẩu được quyết định bởi lượng thịt sẽ sản xuất được tương ứng với lượng dinh dưỡng cung cấp cho đàn gà. Có những giống gà có thể tăng thêm 2 kg trọng lượng trong vòng từ 6 - 8 tuần. Các phương thức chăn nuôi gà tập trung với một số giống đã chọn đều ẩn chứa nhiều nguy cơ nghiêm trọng về phúc lợi động vật do bệnh lây lan nhanh chóng qua đàn, cấy lông và ăn thịt đồng loại là các phương pháp phổ biến khi đem so với các biện pháp chăn nuôi giống gà nội. Hậu quả là tỷ lệ tử vong cao hơn và các can thiệp kháng sinh là điều không thể tránh khỏi đối việc nuôi gà với mật độ cao.
Áp dụng thành công?
Chìa khoá thành công trong việc hạn chế kháng sinh sử dụng trong ngành công nghiệp chăn nuôi gia cầm nằm ở việc kiểm soát tốt hơn môi trường trong quá trình nuôi bằng cách áp dụng các biện pháp vệ sinh có tổ chức và sử dụng thức ăn chất lượng cao để duy trì năng suất của đàn. Tiếp đến là phụ gia thức ăn, mặc dù không phải chất dinh dưỡng theo định nghĩa nhưng là một thành phần quan trọng cần phải được đưa vào khẩu phần ăn cho gia cầm để cải thiện sự tăng trưởng. Bên cạnh đó, kế hoạch dinh dưỡng đóng một vai trò lớn đảm bảo rằng gà được bảo vệ tốt trong thời gian nuôi và sản xuất thông qua cân bằng vi sinh. Yếu tố cuối cùng: sự đa dạng của các vi sinh vật trong đường tiêu hoá là rất quan trọng đối với sức khoẻ của gà, đảm bảo cho sự phát triển bền vững và lợi nhuận của các doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm.
Đọc thêm