Chăn nuôi gà ta đang là ngành được phát triển phổ biến và đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhiều năm qua đã tạo lên cuộc sống khấm khá cho hàng ngàn người nông dân. Việc chăn gà không phải là vấn đề quá khó khăn nhưng cần phải am hiểu những kỹ thuật chăn nuôi gà ta: từ khâu chọn con giống cho đến khẩu phần ăn uống, quy mô chuồng trại cùng với kỹ thuật, biện pháp phòng và điều trị bệnh cho gà ra sao? Hi vọng kỹ thuật chăn nuôi gà ta của BiotechVET chúng tôi sẽ giúp bạn có được đàn gà khỏe mạnh, phát triển và cho năng suất như mong muốn.


Ưu điểm từ nuôi gà ta

Gà ta có sức đề kháng cao và rất dễ nuôi, bạn có thể thả vườn hoặc làm quy mô trang trại, sử dụng cám công nghiệp hoặc có thể tận dụng nguồn thức ăn có sẵn của gia đình như ngô, thóc, rau, cỏ, giun… giúp tiết kiệm tối đa chi phí ban đầu.

Phương pháp nuôi gà ta thả vườn vừa tiết kiệm kinh phí lại tạo khả năng kháng bệnh cao cho gà, thịt săn chắc cho giá bán cao trên thị trường.

Phân gà có thể tận dụng làm phân bón cho cây trồng hoặc đem bán tăng thêm thu nhập.

Gà cho tỷ lệ nuôi sống tới 98 – 99% tròng vòng 3 tháng. Tiêu tốn thức ăn 2,7 -2,9kg/1 kg tăng trọng. Trọng lượng gà đạt được ở 90 ngày tuổi trung bình từ 1,5 – 1,8kg/1 con.

Chính vì có nhiều ưu điểm hơn so với các loại gà chăn nuôi công nghiệp nên chăn nuôi gà ta đang được nhiều người nông dân lựa chọn.


Kỹ thuật chăn nuôi gà ta

Cách chọn gà ta giống

Gà ta là loại gà cho thịt thơm ngon, có sức đề kháng cao, dễ nuôi, dễ thích nghi được với mọi khu vực khí hậu khác nhau. Khi chọn gà nên chọn những con chân vàng, da vàng, có màu lông bóng mượt, mắt sáng, nhanh nhẹn khỏe mạnh, chân to, không hở rốn. Gà ta khi trưởng thành cho trọng lượng đạt từ 1,5 – 1,8kg phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. 

Kỹ thuật nuôi gà ta

Cách úm gà

Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ bằng thuốc sát trùng GLUTAR hoặc IODINE. Dùng cót tre mỏng cao 45cm quây tròn có đường kính tùy thuộc vào số lượng gà. Sử dụng trấu hoặc bào cưa, rơm dạ cắt ngắn 5cm rải dày 10 -15cm. Sưởi ấm bằng bóng điện 75 -100w treo ở giữa quây cót cách mặt nền 50cm để đảm bảo nhiệt độ ấm cho gà. Ngoài nguồn điện bạn có thể dùng bếp than, bếp trấu, bếp củi nhưng cần làm hệ thống cho khí CO2 ra ngoài.

Chú ý mật độ nuôi

Mùa thu đông: Trang trại chăn nuôi gà ta cần lưu ý 1-10 ngày tuổi nhốt 40-50 con/m2, 11-30 ngày tuổi nhốt 20-25 con/m2, 31-45 ngày tuổi nhốt 15-20 con/m2, 46-60 ngày tuổi nhốt 12-15 con/m2, Gà dò 10-15 con/m2, Gà sinh sản 4-5 con/m2. Mùa hè nóng nực có thể giảm 10% số lượng gà.

Nhiệt độ sưởi ấm cho gà

Từ 30 -32 độ C dùng cho gà từ 1-3 tuần tuổi, nhiệt độ sẽ được giảm dần theo sức tăng trưởng của gà.

sát sự thay đổi của gà để tăng giảm nhiệt độ cho phù hợp. Nếu thấy ở gần nguồn nhiệt là thiếu nhiệt, tản ra xa nguồn nhiệt nằm bẹp há niệng là do nhiệt độ nóng quá. Gà đi lại nhanh nhẹn, ăn uống bình thường là nhiệt độ đã phù hợp. điều chỉnh nhiệt độ bằng cách nâng, hạ bóng hoặc giảm cường độ ánh sáng.

độn chuồng thường xuyên, tránh hiện tượng ướt chuồng gây nhiễm khuẩn, bệnh tật cho đàn gà.

Thời gian chiếu sáng cho gà là 24/24h đối với gà từ 1-10 ngày tuổi, sau đó giảm dần mỗi tuần 20 – 30 phút. Cường độ ánh sáng thay đổi theo độ tuổi của gà. Mùa đông cần bổ sung ánh sáng để kích thích gà ăn nhiều đẻ sớm, đẻ rộ hơn.

Thức ăn

Lượng thức ăn một ngày đêm: Chăn nuôi gà ta thi cần cho gà 1-10 ngày tuổi cho ăn 6-10g/1 con, 11-30 ngày tuổi cho ăn 15-20g, 31-60 ngày tuổi cho ăn 30-40g. Gà dò 61-150 ngày cho ăn 45-80g/con. Gà sinh sản: gà mái 100g/con, gà trống 110g. Số bữa ăn đối với gà con là 6 bữa/ngày đêm, gà dò và gà mái sinh sản 2-3 bữa/ngày đêm.

Gà ta thường nuôi thả hoặc bán chăn thả. Nếu vườn thả rộng, dồi dào thức ăn (rau, cỏ, giun, dế, cào cào,...) thì nên bớt lượng thức ăn tinh. Quan sát diều gà buổi chiều trước lúc vào chuồng để biết gà no hay đói, cần cho ăn thêm nhiều hay ít và chú ý phòng bệnh cho gà.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Kỹ thuật nuôi gà ta

Chăn nuôi gà ta đang là ngành được phát triển phổ biến và đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhiều năm qua đã tạo lên cuộc sống khấm khá cho hàng ngàn người nông dân. Việc chăn gà không phải là vấn đề quá khó khăn nhưng cần phải am hiểu những kỹ thuật chăn nuôi gà ta: từ khâu chọn con giống cho đến khẩu phần ăn uống, quy mô chuồng trại cùng với kỹ thuật, biện pháp phòng và điều trị bệnh cho gà ra sao? Hi vọng kỹ thuật chăn nuôi gà ta của BiotechVET chúng tôi sẽ giúp bạn có được đàn gà khỏe mạnh, phát triển và cho năng suất như mong muốn.


Ưu điểm từ nuôi gà ta

Gà ta có sức đề kháng cao và rất dễ nuôi, bạn có thể thả vườn hoặc làm quy mô trang trại, sử dụng cám công nghiệp hoặc có thể tận dụng nguồn thức ăn có sẵn của gia đình như ngô, thóc, rau, cỏ, giun… giúp tiết kiệm tối đa chi phí ban đầu.

Phương pháp nuôi gà ta thả vườn vừa tiết kiệm kinh phí lại tạo khả năng kháng bệnh cao cho gà, thịt săn chắc cho giá bán cao trên thị trường.

Phân gà có thể tận dụng làm phân bón cho cây trồng hoặc đem bán tăng thêm thu nhập.

Gà cho tỷ lệ nuôi sống tới 98 – 99% tròng vòng 3 tháng. Tiêu tốn thức ăn 2,7 -2,9kg/1 kg tăng trọng. Trọng lượng gà đạt được ở 90 ngày tuổi trung bình từ 1,5 – 1,8kg/1 con.

Chính vì có nhiều ưu điểm hơn so với các loại gà chăn nuôi công nghiệp nên chăn nuôi gà ta đang được nhiều người nông dân lựa chọn.


Kỹ thuật chăn nuôi gà ta

Cách chọn gà ta giống

Gà ta là loại gà cho thịt thơm ngon, có sức đề kháng cao, dễ nuôi, dễ thích nghi được với mọi khu vực khí hậu khác nhau. Khi chọn gà nên chọn những con chân vàng, da vàng, có màu lông bóng mượt, mắt sáng, nhanh nhẹn khỏe mạnh, chân to, không hở rốn. Gà ta khi trưởng thành cho trọng lượng đạt từ 1,5 – 1,8kg phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. 

Kỹ thuật nuôi gà ta

Cách úm gà

Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ bằng thuốc sát trùng GLUTAR hoặc IODINE. Dùng cót tre mỏng cao 45cm quây tròn có đường kính tùy thuộc vào số lượng gà. Sử dụng trấu hoặc bào cưa, rơm dạ cắt ngắn 5cm rải dày 10 -15cm. Sưởi ấm bằng bóng điện 75 -100w treo ở giữa quây cót cách mặt nền 50cm để đảm bảo nhiệt độ ấm cho gà. Ngoài nguồn điện bạn có thể dùng bếp than, bếp trấu, bếp củi nhưng cần làm hệ thống cho khí CO2 ra ngoài.

Chú ý mật độ nuôi

Mùa thu đông: Trang trại chăn nuôi gà ta cần lưu ý 1-10 ngày tuổi nhốt 40-50 con/m2, 11-30 ngày tuổi nhốt 20-25 con/m2, 31-45 ngày tuổi nhốt 15-20 con/m2, 46-60 ngày tuổi nhốt 12-15 con/m2, Gà dò 10-15 con/m2, Gà sinh sản 4-5 con/m2. Mùa hè nóng nực có thể giảm 10% số lượng gà.

Nhiệt độ sưởi ấm cho gà

Từ 30 -32 độ C dùng cho gà từ 1-3 tuần tuổi, nhiệt độ sẽ được giảm dần theo sức tăng trưởng của gà.

sát sự thay đổi của gà để tăng giảm nhiệt độ cho phù hợp. Nếu thấy ở gần nguồn nhiệt là thiếu nhiệt, tản ra xa nguồn nhiệt nằm bẹp há niệng là do nhiệt độ nóng quá. Gà đi lại nhanh nhẹn, ăn uống bình thường là nhiệt độ đã phù hợp. điều chỉnh nhiệt độ bằng cách nâng, hạ bóng hoặc giảm cường độ ánh sáng.

độn chuồng thường xuyên, tránh hiện tượng ướt chuồng gây nhiễm khuẩn, bệnh tật cho đàn gà.

Thời gian chiếu sáng cho gà là 24/24h đối với gà từ 1-10 ngày tuổi, sau đó giảm dần mỗi tuần 20 – 30 phút. Cường độ ánh sáng thay đổi theo độ tuổi của gà. Mùa đông cần bổ sung ánh sáng để kích thích gà ăn nhiều đẻ sớm, đẻ rộ hơn.

Thức ăn

Lượng thức ăn một ngày đêm: Chăn nuôi gà ta thi cần cho gà 1-10 ngày tuổi cho ăn 6-10g/1 con, 11-30 ngày tuổi cho ăn 15-20g, 31-60 ngày tuổi cho ăn 30-40g. Gà dò 61-150 ngày cho ăn 45-80g/con. Gà sinh sản: gà mái 100g/con, gà trống 110g. Số bữa ăn đối với gà con là 6 bữa/ngày đêm, gà dò và gà mái sinh sản 2-3 bữa/ngày đêm.

Gà ta thường nuôi thả hoặc bán chăn thả. Nếu vườn thả rộng, dồi dào thức ăn (rau, cỏ, giun, dế, cào cào,...) thì nên bớt lượng thức ăn tinh. Quan sát diều gà buổi chiều trước lúc vào chuồng để biết gà no hay đói, cần cho ăn thêm nhiều hay ít và chú ý phòng bệnh cho gà.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Kỹ thuật chăn nuôi gia cầm trong chuồng kín chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con bởi lẽ kỹ thuật này có những ưu điểm vượt trội sau:


Mô hình chăn nuôi gia cầm trong chuồng kín

Đảm bảo tối ưu các điều kiện trong chăn nuôi như nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ… Vì thế mà năng suất có thể đạt tối đa.

Giảm lượng thức ăn tiêu tốn đáng kể: Trong điều kiện khí hậu lạnh, khi nhiệt độ giảm 1 độ C thì gà sẽ ăn thêm 1,5% thức ăn. Chẳng hạn nếu gà đẻ ăn 120 gr thức ăn ở 10 độ C thì nó chỉ cần ăn 110 gr thức ăn ở nhiệt độ 20 độ C (điều kiện trong nhà kín) mà năng suất trứng gà không thay đổi.

Kỹ thuật nuôi gia cầm chuồng kín

Năng suất trứng ổn định quanh năm mà không bị chi phối hay ảnh hưởng của điều kiện mùa vụ, thời tiết.

Giảm thiểu tỷ lệ chết của gà đẻ.

Không cần phải cắt mỏ gà bởi vì việc cắt mỏ gà là điều tồi tệ lớn nhất đối với gà đẻ trong giai đoạn gà con.

Rất dễ dàng trong việc kiểm soát bệnh tật.

Tiết kiệm tối đa diện tích chăn nuôi: Đối với nuôi gà trong hệ thống nhà mở thì tỷ lệ nuôi là 6 con/m2 nhưng trong điều kiện nhà kín thì có thể nuôi 30 con/m2 chuồng.

Giảm thiểu nhân công chăn nuôi: Với hệ thống chuồng nuôi này thì mỗi công nhân có thể nuôi 50.000 gà đẻ.

Kiểu chuồng này là một trong những biện pháp giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường.

Những điều cần lưu ý khi thiết kế chuồng kín

Với kỹ thuật chăn nuôi gia cầm trong chuồng kín thì điều quan trọng nhất chính là việc làm chuồng.

Trong thiết kế kiểu chuồng kín này có một số đặc điểm cần lưu ý:
Nguyên liệu làm chuồng: Nguyên liệu là vấn đề cơ bản cho việc làm chuồng, nếu nguyên liệu không đảm bảo thì kiểu chuồng này không đạt được kết quả như mong muốn. Tất cả nguyên liệu làm tường, làm mái phải là nguyên liệu cách nhiệt (nguyên liệu này được bán khá phổ biến và tương đối rẻ). Khung nhà được làm bằng sắt.

Thông gió: Đây là điều rất quan trọng trong việc thiết kế chuồng kín. Có 2 kiểu thông gió, kiểu thứ nhất là gió được đưa vào chuồng gia cầm từ một bên tường và được hút ra bằng quạt gió ở tường đối diện. Kiểu thứ 2 là gió được hút từ ngoài vào bằng quạt từ đầu xối chuồng, thổi ra ở xung quanh tường và lên nóc chuồng. Vận tốc của quạt gió này sẽ điều chỉnh nhiệt độ trong chuồng cũng như đưa không khí sạch vào chuồng gia cầm và hút không khí bẩn trong chuồng nuôi ra ngoài.

Trang thiết bị chuồng nuôi: Trang thiết bị này bao gồm máng ăn, máng uống, kệ nuôi gia cầm (lồng tầng nuôi gà đẻ), hệ thống di chuyển phân, hệ thống ánh sáng… Hệ thống máng uống tự động cũng đã góp phần tiết kiệm đến 40% lượng nước và đảm bảo vệ sinh tối đa nguồn nước cũng như sự lây truyền các mầm bệnh.

Giá trị kinh tế của kỹ thuật chăn nuôi gia cầm trong chuồng kín
Với loại chuồng kín, gà nuôi thịt không cần phải sử dụng bất kỳ một loại thuốc kháng sinh nào, ngay cả vacxin. Gà có tỷ lệ nuôi sống cao và sản phẩm thịt gà rất an toàn, sạch sẽ.

Đặc biệt gà thịt nuôi trong chuồng kín rất đồng đều khi bán thịt, gà hầu như không bị bệnh tật trong suốt quá trình nuôi, chi phí vacxin và thuốc kháng sinh chỉ mất khoảng 700 đ/con, trong khi đó nuôi theo phương thức chuồng hở, chi phí này khoảng 2.000đ/con, cao hơn 2,8 lần so với nuôi gà trong chuồng kín.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Kỹ thuật chăn nuôi gia cầm trong chuồng kín

Kỹ thuật chăn nuôi gia cầm trong chuồng kín chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con bởi lẽ kỹ thuật này có những ưu điểm vượt trội sau:


Mô hình chăn nuôi gia cầm trong chuồng kín

Đảm bảo tối ưu các điều kiện trong chăn nuôi như nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ… Vì thế mà năng suất có thể đạt tối đa.

Giảm lượng thức ăn tiêu tốn đáng kể: Trong điều kiện khí hậu lạnh, khi nhiệt độ giảm 1 độ C thì gà sẽ ăn thêm 1,5% thức ăn. Chẳng hạn nếu gà đẻ ăn 120 gr thức ăn ở 10 độ C thì nó chỉ cần ăn 110 gr thức ăn ở nhiệt độ 20 độ C (điều kiện trong nhà kín) mà năng suất trứng gà không thay đổi.

Kỹ thuật nuôi gia cầm chuồng kín

Năng suất trứng ổn định quanh năm mà không bị chi phối hay ảnh hưởng của điều kiện mùa vụ, thời tiết.

Giảm thiểu tỷ lệ chết của gà đẻ.

Không cần phải cắt mỏ gà bởi vì việc cắt mỏ gà là điều tồi tệ lớn nhất đối với gà đẻ trong giai đoạn gà con.

Rất dễ dàng trong việc kiểm soát bệnh tật.

Tiết kiệm tối đa diện tích chăn nuôi: Đối với nuôi gà trong hệ thống nhà mở thì tỷ lệ nuôi là 6 con/m2 nhưng trong điều kiện nhà kín thì có thể nuôi 30 con/m2 chuồng.

Giảm thiểu nhân công chăn nuôi: Với hệ thống chuồng nuôi này thì mỗi công nhân có thể nuôi 50.000 gà đẻ.

Kiểu chuồng này là một trong những biện pháp giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường.

Những điều cần lưu ý khi thiết kế chuồng kín

Với kỹ thuật chăn nuôi gia cầm trong chuồng kín thì điều quan trọng nhất chính là việc làm chuồng.

Trong thiết kế kiểu chuồng kín này có một số đặc điểm cần lưu ý:
Nguyên liệu làm chuồng: Nguyên liệu là vấn đề cơ bản cho việc làm chuồng, nếu nguyên liệu không đảm bảo thì kiểu chuồng này không đạt được kết quả như mong muốn. Tất cả nguyên liệu làm tường, làm mái phải là nguyên liệu cách nhiệt (nguyên liệu này được bán khá phổ biến và tương đối rẻ). Khung nhà được làm bằng sắt.

Thông gió: Đây là điều rất quan trọng trong việc thiết kế chuồng kín. Có 2 kiểu thông gió, kiểu thứ nhất là gió được đưa vào chuồng gia cầm từ một bên tường và được hút ra bằng quạt gió ở tường đối diện. Kiểu thứ 2 là gió được hút từ ngoài vào bằng quạt từ đầu xối chuồng, thổi ra ở xung quanh tường và lên nóc chuồng. Vận tốc của quạt gió này sẽ điều chỉnh nhiệt độ trong chuồng cũng như đưa không khí sạch vào chuồng gia cầm và hút không khí bẩn trong chuồng nuôi ra ngoài.

Trang thiết bị chuồng nuôi: Trang thiết bị này bao gồm máng ăn, máng uống, kệ nuôi gia cầm (lồng tầng nuôi gà đẻ), hệ thống di chuyển phân, hệ thống ánh sáng… Hệ thống máng uống tự động cũng đã góp phần tiết kiệm đến 40% lượng nước và đảm bảo vệ sinh tối đa nguồn nước cũng như sự lây truyền các mầm bệnh.

Giá trị kinh tế của kỹ thuật chăn nuôi gia cầm trong chuồng kín
Với loại chuồng kín, gà nuôi thịt không cần phải sử dụng bất kỳ một loại thuốc kháng sinh nào, ngay cả vacxin. Gà có tỷ lệ nuôi sống cao và sản phẩm thịt gà rất an toàn, sạch sẽ.

Đặc biệt gà thịt nuôi trong chuồng kín rất đồng đều khi bán thịt, gà hầu như không bị bệnh tật trong suốt quá trình nuôi, chi phí vacxin và thuốc kháng sinh chỉ mất khoảng 700 đ/con, trong khi đó nuôi theo phương thức chuồng hở, chi phí này khoảng 2.000đ/con, cao hơn 2,8 lần so với nuôi gà trong chuồng kín.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Chăn nuôi gia cầm hữu cơ đang là xu hướng phát triển nhằm hướng tới nền chăn nuôi sạch, an toàn và hiệu quả tại nước ta. Tuy nhiên, người chăn nuôi cần phải tuân theo các kỹ thuật nuôi nghiêm ngặt mới đảm bảo được các tiêu chuẩn.


Trang trại:

Sân chơi và mật độ đàn gà phải thích hợp.

Gia cầm phải được nuôi trong điều kiện bãi thả ngoài trời. Không được nuôi nhốt trong lồng.

Sân chơi phải thoáng đãng, có đủ phương tiện chống mưa, gió, nắng, nhiệt độ quá mức.

Chuồng trại phải xây dựng ở nơi vững chắc, phủ nền bằng những vật liệu thải loại như rơm rạ, vỏ bào, cát hoặc các mảng đất có cỏ.

Vì lý do sức khỏe, giữa mỗi đợt nuôi gia cầm chuồng trại phải để trống và các nơi chạy nhảy cho gia cầm cũng phải có thời gian cho thực vật phát triển lại.

Con giống

Giống gia cầm phải được ấp nở từ các đơn vị chăn nuôi theo tiêu chuẩn hữu cơ hoặc phải là con của các cặp bố mẹ được nuôi dưỡng theo các điều kiện tiêu chuẩn.

Con giống từ các nguồn không theo phương pháp chăn nuôi gia cầm hữu cơ có thể được phép đưa vào khu vực chăn nuôi theo phương pháp hữu cơ nhưng thực hiện lúc con giống càng nhỏ càng tốt, ngay sau khi được ấp nở.

Dinh dưỡng và thức ăn

Cung cấp thức ăn hàng ngày được sản xuất theo phương pháp hữu cơ đến mức tối ưu 100% hoặc tối thiểu 80% (tính theo chất khô) từ các nguồn cung cấp được sản xuất theo phương pháp hữu cơ. Ngoài ra có thể cho phép một số phần trăm thức ăn chăn nuôi nào đó không được sản xuất theo tiêu chuẩn này nhưng chỉ dùng trong một thời gian có hạn và với điều kiện không được chứa các sinh vật biến đổi gen hoặc các sản phẩm của chúng.


Kỹ thuật nuôi gia cầm hữu cơ

Nguồn nước uống phải sạch theo phương pháp hữu cơ để duy trì đầy đủ sức khỏe và sinh lực của vật nuôi.

Khẩu phần thức ăn cụ thể cho vật nuôi cần tính đến nhu cầu về ngũ cốc trong giai đoạn vỗ béo gia cầm, nhu cầu về thức ăn thô, thức ăn tươi hoặc khô, hoặc thức ăn ủ chua trong khẩu phần ăn hàng ngày cho gia cầm. Thức ăn chăn nuôi gốc động vật không được phép sử dụng ngoại trừ cá và các động vật biển. Người chăn nuôi có thể dùng các loại probiotic, enzym và vi sinh vật để bổ sung trong thức ăn của gia cầm nuôi.

Thuốc kháng sinh, dược liệu, chất kích thích tăng trưởng hoặc bất cứ chất nào có tính kích thích sinh trưởng hoặc kích thích sản lượng đều không được dùng.

Phòng trị bệnh

Để phòng bệnh vật nuôi trong sản xuất chăn nuôi theo phương pháp chăn nuôi gia cầm hữu cơ cần thường xuyên vận động và làm cho chúng có cơ hội tiếp xúc với đồng cỏ hoặc nơi chạy nhảy ngoài trời có tác dụng làm tăng miễn dịch tự nhiên. Bảo đảm mật độ nuôi thả thích hợp nhằm tránh số lượng quá đông và tránh để xảy ra các vấn đề về sức khỏe.

Việc dùng các sản phẩm thuốc thú y trong chăn nuôi theo phương pháp hữu cơ cần tuân theo các nguyên tắc sau: Cấm dùng thuốc thú y hóa học hoặc thuốc kháng sinh trong điều trị phòng bệnh. Sản phẩm từ liệu pháp thực vật, vi lượng đồng căn hoặc các nguyên tố vi lượng sử dụng tốt hơn thuốc thú y hóa học hoặc các thuốc kháng sinh.

Nơi xảy ra dịch bệnh đặc biệt hoặc sức khỏe vật nuôi có vấn đề và không có cách xử lý nào khác, hoặc trong trường hợp do luật pháp yêu cầu thì được phép tiêm phòng cho vật nuôi, dùng thuốc thú y diệt ký sinh trùng và thuốc chữa bệnh. Tuy nhiên cần cách ly gia cầm bị bệnh và khi xuất bán không được gắn nhãn mác sản phẩm hữu cơ.

Các sản phẩm chăn nuôi gia cầm hữu cơ, thân thiện môi trường, hướng đến thực phẩm sạch của công ty BTV chúng tôi gồm có:

BTV - Kháng thể E.Coli (Dạng bột mịn): giúp ngăn ngừa phát bệnh E.COLI trên gia cầm và tăng cường sức đề kháng rất tốt

Men vi sinh khử mùi: khử mùi hôi chuồng, phân gia cầm BTV - Emiser hoặc BTV - Lacto Subtil rất thân thiện với môi trường với cơ chế làm việc của các vi sinh vật thế hệ mới nhất

BTV - Growth Forte: được chiết xuất từ cao gan và thành phần nấm men nên rất an toàn cho vật nuôi để tăng trọng nhanh, mẫu mã đẹp, đẻ trứng sai.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Kỹ thuật chăn nuôi gia cầm hữu cơ

Chăn nuôi gia cầm hữu cơ đang là xu hướng phát triển nhằm hướng tới nền chăn nuôi sạch, an toàn và hiệu quả tại nước ta. Tuy nhiên, người chăn nuôi cần phải tuân theo các kỹ thuật nuôi nghiêm ngặt mới đảm bảo được các tiêu chuẩn.


Trang trại:

Sân chơi và mật độ đàn gà phải thích hợp.

Gia cầm phải được nuôi trong điều kiện bãi thả ngoài trời. Không được nuôi nhốt trong lồng.

Sân chơi phải thoáng đãng, có đủ phương tiện chống mưa, gió, nắng, nhiệt độ quá mức.

Chuồng trại phải xây dựng ở nơi vững chắc, phủ nền bằng những vật liệu thải loại như rơm rạ, vỏ bào, cát hoặc các mảng đất có cỏ.

Vì lý do sức khỏe, giữa mỗi đợt nuôi gia cầm chuồng trại phải để trống và các nơi chạy nhảy cho gia cầm cũng phải có thời gian cho thực vật phát triển lại.

Con giống

Giống gia cầm phải được ấp nở từ các đơn vị chăn nuôi theo tiêu chuẩn hữu cơ hoặc phải là con của các cặp bố mẹ được nuôi dưỡng theo các điều kiện tiêu chuẩn.

Con giống từ các nguồn không theo phương pháp chăn nuôi gia cầm hữu cơ có thể được phép đưa vào khu vực chăn nuôi theo phương pháp hữu cơ nhưng thực hiện lúc con giống càng nhỏ càng tốt, ngay sau khi được ấp nở.

Dinh dưỡng và thức ăn

Cung cấp thức ăn hàng ngày được sản xuất theo phương pháp hữu cơ đến mức tối ưu 100% hoặc tối thiểu 80% (tính theo chất khô) từ các nguồn cung cấp được sản xuất theo phương pháp hữu cơ. Ngoài ra có thể cho phép một số phần trăm thức ăn chăn nuôi nào đó không được sản xuất theo tiêu chuẩn này nhưng chỉ dùng trong một thời gian có hạn và với điều kiện không được chứa các sinh vật biến đổi gen hoặc các sản phẩm của chúng.


Kỹ thuật nuôi gia cầm hữu cơ

Nguồn nước uống phải sạch theo phương pháp hữu cơ để duy trì đầy đủ sức khỏe và sinh lực của vật nuôi.

Khẩu phần thức ăn cụ thể cho vật nuôi cần tính đến nhu cầu về ngũ cốc trong giai đoạn vỗ béo gia cầm, nhu cầu về thức ăn thô, thức ăn tươi hoặc khô, hoặc thức ăn ủ chua trong khẩu phần ăn hàng ngày cho gia cầm. Thức ăn chăn nuôi gốc động vật không được phép sử dụng ngoại trừ cá và các động vật biển. Người chăn nuôi có thể dùng các loại probiotic, enzym và vi sinh vật để bổ sung trong thức ăn của gia cầm nuôi.

Thuốc kháng sinh, dược liệu, chất kích thích tăng trưởng hoặc bất cứ chất nào có tính kích thích sinh trưởng hoặc kích thích sản lượng đều không được dùng.

Phòng trị bệnh

Để phòng bệnh vật nuôi trong sản xuất chăn nuôi theo phương pháp chăn nuôi gia cầm hữu cơ cần thường xuyên vận động và làm cho chúng có cơ hội tiếp xúc với đồng cỏ hoặc nơi chạy nhảy ngoài trời có tác dụng làm tăng miễn dịch tự nhiên. Bảo đảm mật độ nuôi thả thích hợp nhằm tránh số lượng quá đông và tránh để xảy ra các vấn đề về sức khỏe.

Việc dùng các sản phẩm thuốc thú y trong chăn nuôi theo phương pháp hữu cơ cần tuân theo các nguyên tắc sau: Cấm dùng thuốc thú y hóa học hoặc thuốc kháng sinh trong điều trị phòng bệnh. Sản phẩm từ liệu pháp thực vật, vi lượng đồng căn hoặc các nguyên tố vi lượng sử dụng tốt hơn thuốc thú y hóa học hoặc các thuốc kháng sinh.

Nơi xảy ra dịch bệnh đặc biệt hoặc sức khỏe vật nuôi có vấn đề và không có cách xử lý nào khác, hoặc trong trường hợp do luật pháp yêu cầu thì được phép tiêm phòng cho vật nuôi, dùng thuốc thú y diệt ký sinh trùng và thuốc chữa bệnh. Tuy nhiên cần cách ly gia cầm bị bệnh và khi xuất bán không được gắn nhãn mác sản phẩm hữu cơ.

Các sản phẩm chăn nuôi gia cầm hữu cơ, thân thiện môi trường, hướng đến thực phẩm sạch của công ty BTV chúng tôi gồm có:

BTV - Kháng thể E.Coli (Dạng bột mịn): giúp ngăn ngừa phát bệnh E.COLI trên gia cầm và tăng cường sức đề kháng rất tốt

Men vi sinh khử mùi: khử mùi hôi chuồng, phân gia cầm BTV - Emiser hoặc BTV - Lacto Subtil rất thân thiện với môi trường với cơ chế làm việc của các vi sinh vật thế hệ mới nhất

BTV - Growth Forte: được chiết xuất từ cao gan và thành phần nấm men nên rất an toàn cho vật nuôi để tăng trọng nhanh, mẫu mã đẹp, đẻ trứng sai.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Cũng giống như kỹ thuật chăn nuôi lợn rừng, lợn rừng lai mán. Lợn mángiống lợn cho năng suất kinh tế cao, nên đòi hỏi không chỉ kỹ thuật xây dựng chuồng trại mà quan trọng là phải chọn được những giống lợn khỏe mạnh, có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng thích hợp để tạo nên những giống lợn chất lượng nhất. 


Đặc điểm lợn mán 

Lợn mán hay có tên gọi là lợn lửa, là giống lợn dễ chăn nuôi, cho năng suất cao, mang hương vị thơm ngon từ thịt thú rừng nên rất được ưa chuộng. Lợn mán cho hiệu quả kinh tế cao với 1kg thịt có giá bán từ 200 – 250 000 đồng/kg. Lợn có màu đen tuyền hoặc hơi vàng, khả năng sinh sản kém. Dễ bán, ít bị nhiễm bệnh. Nhưng để đạt hiệu quả cao nhất cần chú ý đến kỹ thuật chăn nuôi lợn mán tốt nhất.


Kỹ thuật chăm sóc lợn Mán

Kỹ thuật chăn nuôi 

Lựa chọn những giống lợn mán đạt tiêu chuẩn. Để có được những giống lợn mán chất lượng nhất, ngay từ khâu lựa chọn con giống ban đầu cần được kỹ lưỡng. Giống lợn đạt tiêu chuẩn là giống lợn có lông mịn, bóng mượt, khỏe mạnh. Chân lợn to, khỏe, đi lại nhanh nhẹn, mắt tinh.

Xây dựng chuồng trại

Xây chuồng hướng Nam hoặc Đông Nam là tốt nhất, tránh gió Đông Bắc thổi trực tiếp vào chuồng. Chuồng nuôi phải đảm bảo luôn khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.

Chọn địa điểm cao ráo, dễ thoát nước, dễ làm vệ sinh. Chọn khu đất cao ráo, hướng chuồng thích hợp để chắn mưa, tránh ánh nắng trực tiếp của mặt trời. Chuồng trại phải có rào chắn xung quanh, với diện tích thích hợp là 1.000 – 1.500m2, nền chuồng lát xi măng, mái sử dụng lá cọ, lá gianh hoặc lá chuối khô.

Nuôi dưỡng

Thả lợn mán tự do tìm kiếm thức ăn từ các loại cây rừng, rau xanh. Để đảm bảo cho lợn phát triển tốt nhất, không bị lây nhiễm bệnh thì chuồng trại, khu vực chăn nuôi cùng các vật dụng chăn nuôi cần được vệ sinh sạch sẽ.

Đối với những giống lợn sau khi đẻ thì nên sử dụng vải mềm lau khô thân, tiến hành bấm bỏ nanh, cắt rốn, điều chỉnh cố định lại bầu vú cho lợn con. Đặc biệt thời kỳ này cần bổ sung đầy đủ các nguồn chất dinh dưỡng để đảm bảo được lượng sữa cho heo con.

Lợn mán là giống lợn có nhu cầu ăn uống rất đơn giản, chủ yếu là chuối rừng, chuối nhà hoặc dây khoai, rau muống… Đa dạng các loại thức ăn như ăn sống hoặc nấu chín với các loại cám gạo, ngô, bột tôm hoặc bột đậu tương, cho ăn điều độ 3 bữa/ ngày.

Có thể thả lợn quanh rừng hoặc vườn để chúng có thể tự tìm kiếm thêm lượng thức ăn như rễ cây rừng, các loại củ, quả, rau, lá…để tăng lượng nạc, hạn chế sự tích tụ mỡ, cho thịt lợn chắc, thơm ngon hơn.

Phòng và trị bệnh

Cung cấp đa dạng thành phần thức ăn cho lợn mán phát triển tốt nhất. Cần theo dõi, quan sát các diễn biến thường ngày của lợn để có biện pháp phòng chữa kịp thời. Vệ sinh sạch sẽ khu chuồng trại theo định kỳ, tiêm phòng đầy đủ các loại vaccin phòng trị bệnh cho heo phát triển khỏe mạnh, năng suất cao.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Kỹ thuật chăm sóc lợn Mán

Cũng giống như kỹ thuật chăn nuôi lợn rừng, lợn rừng lai mán. Lợn mángiống lợn cho năng suất kinh tế cao, nên đòi hỏi không chỉ kỹ thuật xây dựng chuồng trại mà quan trọng là phải chọn được những giống lợn khỏe mạnh, có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng thích hợp để tạo nên những giống lợn chất lượng nhất. 


Đặc điểm lợn mán 

Lợn mán hay có tên gọi là lợn lửa, là giống lợn dễ chăn nuôi, cho năng suất cao, mang hương vị thơm ngon từ thịt thú rừng nên rất được ưa chuộng. Lợn mán cho hiệu quả kinh tế cao với 1kg thịt có giá bán từ 200 – 250 000 đồng/kg. Lợn có màu đen tuyền hoặc hơi vàng, khả năng sinh sản kém. Dễ bán, ít bị nhiễm bệnh. Nhưng để đạt hiệu quả cao nhất cần chú ý đến kỹ thuật chăn nuôi lợn mán tốt nhất.


Kỹ thuật chăm sóc lợn Mán

Kỹ thuật chăn nuôi 

Lựa chọn những giống lợn mán đạt tiêu chuẩn. Để có được những giống lợn mán chất lượng nhất, ngay từ khâu lựa chọn con giống ban đầu cần được kỹ lưỡng. Giống lợn đạt tiêu chuẩn là giống lợn có lông mịn, bóng mượt, khỏe mạnh. Chân lợn to, khỏe, đi lại nhanh nhẹn, mắt tinh.

Xây dựng chuồng trại

Xây chuồng hướng Nam hoặc Đông Nam là tốt nhất, tránh gió Đông Bắc thổi trực tiếp vào chuồng. Chuồng nuôi phải đảm bảo luôn khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.

Chọn địa điểm cao ráo, dễ thoát nước, dễ làm vệ sinh. Chọn khu đất cao ráo, hướng chuồng thích hợp để chắn mưa, tránh ánh nắng trực tiếp của mặt trời. Chuồng trại phải có rào chắn xung quanh, với diện tích thích hợp là 1.000 – 1.500m2, nền chuồng lát xi măng, mái sử dụng lá cọ, lá gianh hoặc lá chuối khô.

Nuôi dưỡng

Thả lợn mán tự do tìm kiếm thức ăn từ các loại cây rừng, rau xanh. Để đảm bảo cho lợn phát triển tốt nhất, không bị lây nhiễm bệnh thì chuồng trại, khu vực chăn nuôi cùng các vật dụng chăn nuôi cần được vệ sinh sạch sẽ.

Đối với những giống lợn sau khi đẻ thì nên sử dụng vải mềm lau khô thân, tiến hành bấm bỏ nanh, cắt rốn, điều chỉnh cố định lại bầu vú cho lợn con. Đặc biệt thời kỳ này cần bổ sung đầy đủ các nguồn chất dinh dưỡng để đảm bảo được lượng sữa cho heo con.

Lợn mán là giống lợn có nhu cầu ăn uống rất đơn giản, chủ yếu là chuối rừng, chuối nhà hoặc dây khoai, rau muống… Đa dạng các loại thức ăn như ăn sống hoặc nấu chín với các loại cám gạo, ngô, bột tôm hoặc bột đậu tương, cho ăn điều độ 3 bữa/ ngày.

Có thể thả lợn quanh rừng hoặc vườn để chúng có thể tự tìm kiếm thêm lượng thức ăn như rễ cây rừng, các loại củ, quả, rau, lá…để tăng lượng nạc, hạn chế sự tích tụ mỡ, cho thịt lợn chắc, thơm ngon hơn.

Phòng và trị bệnh

Cung cấp đa dạng thành phần thức ăn cho lợn mán phát triển tốt nhất. Cần theo dõi, quan sát các diễn biến thường ngày của lợn để có biện pháp phòng chữa kịp thời. Vệ sinh sạch sẽ khu chuồng trại theo định kỳ, tiêm phòng đầy đủ các loại vaccin phòng trị bệnh cho heo phát triển khỏe mạnh, năng suất cao.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Khác với chăn nuôi heo thịt, việc chăm sóc heo nái sinh sản sẽ cần nhiều thời gian chăm sóc hơn, ngoài bổ sung về chất dinh dưỡng việc chăn nuôi heo nái còn phải tìm cách chăm sóc, phòng bệnh để heo nái mắn đẻ và chăm sóc con hiệu quả.



Cách chăm sóc lợn nái sinh sản


Nái sắp sinh thường biểu hiện ăn ít hay không ăn, có tiếng kêu rên của nái sắp đẻ. Nái thường ủi phá nền chuồng. Để nái ít hao tốn năng lượng do việc quầng ổ, ta nên rải rơm, cỏ khô hoặc bao bố sạch vào chuồng cho nái nằm.

Nái sắp sinh có thể tăng thân nhiệt, tăng nhịp thở, đi lại không yên trong chuồng, đi tiểu nhiều lần làm cho ô chuồng dơ bẩn. Do đó cần vệ sinh và giữ chuồng luôn khô ráo để tránh nhiễm trùng cho heo con và bộ phận sinh dục heo nái sau khi đẻ. Đây là cách chăm sóc lợn nái sinh sản cơ bản mà bạn cần biết.

Nái sắp đẻ có bộ vú phát triển rõ rệt, các núm vú dài ra, quầng núm rộng. Heo sắc lông trắng thường có quầng núm vú và núm vú màu đỏ hồng, hai hàng vú tạo thành hai bệ sữa chạy dọc đường giữa bụng, có rãnh phân chia rõ rệt giữa hai hàng vú và các vú.

Khi nặn đầu vú chưa thấy sữa non, chắc chắn nái chưa đẻ trong 4 – 6 giờ sắp tới, nếu sữa non rịn ra đầu vú qua hai lỗ tia sữa, nái sẽ đẻ trong vòng 6 giờ. Khi nặn các đầu vú đều có sữa non vọt thành tia dài, nái sẽ sinh trong vòng 2 giờ sau. Nếu bộ phận sinh dục có nước nhờn màu hồng và những hạt lợn cợn như hạt đu đủ, nửa giờ sau nái sẽ đẻ. Nếu nái nằm nghiêng một bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng, ép đùi, quẩy đuôi rặn đẻ thì chỉ vài mươi giây sau nái sẽ đẻ. Tới ngày heo nái sắp đẻ bạn cần lưu ý chuẩn bị đủ thức ăn nuôi heo nái để heo có sức sinh con.


Thông thường mỗi 15 – 20 phút nái đẻ 1 con, có khi nái đẻ liên tiếp nhiều con rồi ngưng nghỉ một thời gian. Bình thường, khoảng 3 – 4 giờ nái đẻ hết số con, nhau được tống ra sau cùng. Những nái tống nhau ra hàng loạt sau chót thường ít bị viêm nhiễm đường sinh dục vì lá nhau như là chất “lau rửa” tống khứ chất dịch hậu sản ra khỏi đường sinh dục.

Cần cảnh giác các trường hợp lợn nái sinh con nhanh bỗng nhiên ngưng đẻ, cường độ rặn yếu để có biện pháp can thiệp kịp thời tống những thai chết trước khi sinh, cứu sống những thai sống trong bụng nái. Cũng có trường hợp sau khi tống hết số nhau (bằng số con đẻ ra), vẫn còn sót thai. Nguyên nhân do thai này to và cũng do nái mệt, ngủ nên không đẻ ra kịp. Hậu quả là thai chết, viêm nhiễm trùng nặng cho nái, nái sốt cao, bỏ ăn, mất sữa… heo con chết vì đói.

Trong khi đẻ, nhiều nái thường đứng dậy, đi uống nước, hoặc đi phân, đi tiểu, trở thế nằm để tiếp tục đẻ. Nguyên nhân có thể do thai phân bố hai bên sừng tử cung. Do vậy khi thấy nái đẻ một số con rồi ngưng nghỉ, ta nên nhẹ nhàng đỡ nái đứng dậy đi một vòng và tác động các vú đối diện để cho nái trở bề nằm

Chăm sóc lợn nái sinh sản thời kì sau khi sinh nên làm vệ sinh chuồng trại kỹ lưỡng sau khi nái đẻ xong để tránh các bệnh ở heo nái sau khi sinh. Cần giữ ấm cho heo con ít nhất trong vòng 3 – 7 ngày. Nên cho bú từng cữ cách nhau mỗi 1 giờ rưỡi đến 2 giờ và tránh tình trạng nái bị mệt đè đạp con.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Cần chú ý những gì khi chăm sóc lợn nái sau sinh

Khác với chăn nuôi heo thịt, việc chăm sóc heo nái sinh sản sẽ cần nhiều thời gian chăm sóc hơn, ngoài bổ sung về chất dinh dưỡng việc chăn nuôi heo nái còn phải tìm cách chăm sóc, phòng bệnh để heo nái mắn đẻ và chăm sóc con hiệu quả.



Cách chăm sóc lợn nái sinh sản


Nái sắp sinh thường biểu hiện ăn ít hay không ăn, có tiếng kêu rên của nái sắp đẻ. Nái thường ủi phá nền chuồng. Để nái ít hao tốn năng lượng do việc quầng ổ, ta nên rải rơm, cỏ khô hoặc bao bố sạch vào chuồng cho nái nằm.

Nái sắp sinh có thể tăng thân nhiệt, tăng nhịp thở, đi lại không yên trong chuồng, đi tiểu nhiều lần làm cho ô chuồng dơ bẩn. Do đó cần vệ sinh và giữ chuồng luôn khô ráo để tránh nhiễm trùng cho heo con và bộ phận sinh dục heo nái sau khi đẻ. Đây là cách chăm sóc lợn nái sinh sản cơ bản mà bạn cần biết.

Nái sắp đẻ có bộ vú phát triển rõ rệt, các núm vú dài ra, quầng núm rộng. Heo sắc lông trắng thường có quầng núm vú và núm vú màu đỏ hồng, hai hàng vú tạo thành hai bệ sữa chạy dọc đường giữa bụng, có rãnh phân chia rõ rệt giữa hai hàng vú và các vú.

Khi nặn đầu vú chưa thấy sữa non, chắc chắn nái chưa đẻ trong 4 – 6 giờ sắp tới, nếu sữa non rịn ra đầu vú qua hai lỗ tia sữa, nái sẽ đẻ trong vòng 6 giờ. Khi nặn các đầu vú đều có sữa non vọt thành tia dài, nái sẽ sinh trong vòng 2 giờ sau. Nếu bộ phận sinh dục có nước nhờn màu hồng và những hạt lợn cợn như hạt đu đủ, nửa giờ sau nái sẽ đẻ. Nếu nái nằm nghiêng một bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng, ép đùi, quẩy đuôi rặn đẻ thì chỉ vài mươi giây sau nái sẽ đẻ. Tới ngày heo nái sắp đẻ bạn cần lưu ý chuẩn bị đủ thức ăn nuôi heo nái để heo có sức sinh con.


Thông thường mỗi 15 – 20 phút nái đẻ 1 con, có khi nái đẻ liên tiếp nhiều con rồi ngưng nghỉ một thời gian. Bình thường, khoảng 3 – 4 giờ nái đẻ hết số con, nhau được tống ra sau cùng. Những nái tống nhau ra hàng loạt sau chót thường ít bị viêm nhiễm đường sinh dục vì lá nhau như là chất “lau rửa” tống khứ chất dịch hậu sản ra khỏi đường sinh dục.

Cần cảnh giác các trường hợp lợn nái sinh con nhanh bỗng nhiên ngưng đẻ, cường độ rặn yếu để có biện pháp can thiệp kịp thời tống những thai chết trước khi sinh, cứu sống những thai sống trong bụng nái. Cũng có trường hợp sau khi tống hết số nhau (bằng số con đẻ ra), vẫn còn sót thai. Nguyên nhân do thai này to và cũng do nái mệt, ngủ nên không đẻ ra kịp. Hậu quả là thai chết, viêm nhiễm trùng nặng cho nái, nái sốt cao, bỏ ăn, mất sữa… heo con chết vì đói.

Trong khi đẻ, nhiều nái thường đứng dậy, đi uống nước, hoặc đi phân, đi tiểu, trở thế nằm để tiếp tục đẻ. Nguyên nhân có thể do thai phân bố hai bên sừng tử cung. Do vậy khi thấy nái đẻ một số con rồi ngưng nghỉ, ta nên nhẹ nhàng đỡ nái đứng dậy đi một vòng và tác động các vú đối diện để cho nái trở bề nằm

Chăm sóc lợn nái sinh sản thời kì sau khi sinh nên làm vệ sinh chuồng trại kỹ lưỡng sau khi nái đẻ xong để tránh các bệnh ở heo nái sau khi sinh. Cần giữ ấm cho heo con ít nhất trong vòng 3 – 7 ngày. Nên cho bú từng cữ cách nhau mỗi 1 giờ rưỡi đến 2 giờ và tránh tình trạng nái bị mệt đè đạp con.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Chuồng trại

Chuồng nuôi đảm bảo yên tĩnh, khô, sạch, ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa hè, có rác khô độn chuồng (nhất là mùa đông) và rác khô thay hàng ngày. Sưởi ấm cho heo con trong tuần đầu mới đẻ. Nhiệt độ chuồng nuôi đảm bảo: tuần tuổi đầu là 32 – 34 độ C, tuần thứ 2 là 30 – 32 độ C, tuần 3 là 28 – 30 độ C. Độ ẩm thích hợp là 65 – 70%. Heo ngoại tốt nhất nên dùng chuồng lồng để nuôi.

Cố định đầu vú, cho heo con bú sữa đầu càng sớm càng tốt

Vì những vú vùng ngực thường có sản lượng và chất lượng sữa tốt hơn các vú vùng bụng, nên khi cho bú lần đầu sau khi đỡ đẻ, ta chọn con nhỏ, con yếu cho bú các vú vùng ngực, con lớn, con khỏe cho bú vùng sau bụng để sau này đàn con đồng đều. Phải cho heo con bú sữa đầu càng sớm càng tốt, vì sữa đầu có hàm lượng VCK cao, dinh dưỡng cao hơn sữa thường, đặc biệt trong sữa đầu còn có chất kháng thể g globulin mà trong sữa thường không có hoặc hàm lượng không đáng kể. 

Vì vậy khi cho heo con bú sữa đầu sớm, sớm tiếp nhận được kháng thể g globulin để sớm chống được bệnh trong đời sống cá thể heo con, tẩy rửa “cứt sữa”, đồng thời sớm tiếp nhận được dinh dưỡng, chống giảm đường huyết ở heo con. Do đó quy trình quy định cho bú sữa đầu chậm nhất 1 giờ sau khi đẻ hay càng sớm càng tốt.


Kỹ thuật chăm sóc heo con
Tiêm sắt cho heo con

Hàm lượng Fe trong máu heo con giảm nhanh sau khi đẻ, trong khi hàm lượng Fe cung cấp từ sữa heo mẹ quá thấp so với nhu cầu sinh trưởng của heo con và chỉ đáp ứng từ 30 – 40%. Do vậy việc cung cấp thêm sắt cho heo con thông qua tiêm sắt cho heo con lúc 3 và 10 ngày tuổi là cần thiết (tiêm 1 ml/con/lần tiêm) trong quy trình nuôi dưỡng heo con theo mẹ. Đối với heo ngoại có thể tiêm 1 lần vào lúc 3 ngày tuổi với liều cao (200 mg/con). Tuy nhiên lợn vẫn thường dễ mắc các bệnh về tiêu hóa mà điển hình trong giai đoạn này là bệnh heo con ỉa phân trắng. Chính vì vậy ngoài việc tiêm sắt, người chăn nuôi cần phải có chuồng trại tốt và đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp, ấm áp và khô ráo.

Ghép ổ cho heo con

Ở những ổ đẻ quá ít con để không lãng phí ổ đẻ của heo. Khi ghép ổ chú ý: không cho heo mẹ phát hiện được con lạ trong đàn, nên ghép vào buổi tối, có thể dùng nước mùi phun lên tất cả đàn con mới và cũ. Đồng thời những con đi ghép phải được bú sữa đầu của mẹ nó đã trước khi ghép và chú ý ghép heo con ở các ổ có tuổi tương tự.

Tập và bổ sung thức ăn sớm cho heo con

Đây là một tiến bộ kỹ thuật có ý nghĩa thành bại đến chăn nuôi heo nái và heo con. Tập và bổ sung thức ăn sớm có tác dụng bổ sung được phần dinh dưỡng mà sữa mẹ thiếu kể từ sau 3 tuần tiết sữa trở đi để heo con sinh trưởng bình thường. Tuy nhiên, đến nay nhiều trang trại chăn nuôi đã cai sữa heo con lúc 21 ngày tuổi, từ đó việc tập ăn sớm cho heo con bú sữa có ý nghĩa rất quan trọng.

Tập và bổ sung thức ăn sớm cho heo con

Bổ sung thức ăn sớm có nhiều tác dụng cho cả lợn mẹ và cả heo con trong quá trình nuôi dưỡng. Vừa có tác dụng bù đắp phần dinh dưỡng thiếu hụt theo quy luật tiết sữa của heo mẹ làm giảm sự khai thác sữa mẹ, heo mẹ ít bị hao mòn trong giai đoạn nuôi con, sớm động dục lại sau cai con, tăng số lứa đẻ trong năm, vừa có tác dụng rèn luyện bộ máy tiêu hoá của heo con sớm hoàn thiện, sớm quen với thức ăn nhân tạo, nên khi cai sữa heo con sinh trưởng phát triển bình thường, ít bị ỉa chảy, rối loạn tiêu hoá. Từ đó, người chăn nuôi có thể giảm chí phí thức ăn, nâng cao hiệu quả kinh tế.

Vận động

Vận động có tác dụng làm cho heo khoẻ mạnh, trao đổi chất tăng, tăng tiêu hoá thức ăn, tránh bệnh bại liệt sau khi đẻ. Bên cạnh đó, vận động giúp heo con khoẻ mạnh hơn, tránh hiện tượng thiếu vitamin D. Thông thường sau khi đẻ 3 – 5 ngày, chúng ta nên cho heo con vận động tự do, tránh cho chúng vận động vào lúc thời tiết xấu. Cần chuẩn bị tốt sân bãi bằng phẳng, khô ráo và sạch sẽ. Trong sân bãi có các bể nước sạch hay vòi nước cho heo uống tự do.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Chăm sóc heo con như thế nào để đạt được hiệu quả tốt nhất

Chuồng trại

Chuồng nuôi đảm bảo yên tĩnh, khô, sạch, ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa hè, có rác khô độn chuồng (nhất là mùa đông) và rác khô thay hàng ngày. Sưởi ấm cho heo con trong tuần đầu mới đẻ. Nhiệt độ chuồng nuôi đảm bảo: tuần tuổi đầu là 32 – 34 độ C, tuần thứ 2 là 30 – 32 độ C, tuần 3 là 28 – 30 độ C. Độ ẩm thích hợp là 65 – 70%. Heo ngoại tốt nhất nên dùng chuồng lồng để nuôi.

Cố định đầu vú, cho heo con bú sữa đầu càng sớm càng tốt

Vì những vú vùng ngực thường có sản lượng và chất lượng sữa tốt hơn các vú vùng bụng, nên khi cho bú lần đầu sau khi đỡ đẻ, ta chọn con nhỏ, con yếu cho bú các vú vùng ngực, con lớn, con khỏe cho bú vùng sau bụng để sau này đàn con đồng đều. Phải cho heo con bú sữa đầu càng sớm càng tốt, vì sữa đầu có hàm lượng VCK cao, dinh dưỡng cao hơn sữa thường, đặc biệt trong sữa đầu còn có chất kháng thể g globulin mà trong sữa thường không có hoặc hàm lượng không đáng kể. 

Vì vậy khi cho heo con bú sữa đầu sớm, sớm tiếp nhận được kháng thể g globulin để sớm chống được bệnh trong đời sống cá thể heo con, tẩy rửa “cứt sữa”, đồng thời sớm tiếp nhận được dinh dưỡng, chống giảm đường huyết ở heo con. Do đó quy trình quy định cho bú sữa đầu chậm nhất 1 giờ sau khi đẻ hay càng sớm càng tốt.


Kỹ thuật chăm sóc heo con
Tiêm sắt cho heo con

Hàm lượng Fe trong máu heo con giảm nhanh sau khi đẻ, trong khi hàm lượng Fe cung cấp từ sữa heo mẹ quá thấp so với nhu cầu sinh trưởng của heo con và chỉ đáp ứng từ 30 – 40%. Do vậy việc cung cấp thêm sắt cho heo con thông qua tiêm sắt cho heo con lúc 3 và 10 ngày tuổi là cần thiết (tiêm 1 ml/con/lần tiêm) trong quy trình nuôi dưỡng heo con theo mẹ. Đối với heo ngoại có thể tiêm 1 lần vào lúc 3 ngày tuổi với liều cao (200 mg/con). Tuy nhiên lợn vẫn thường dễ mắc các bệnh về tiêu hóa mà điển hình trong giai đoạn này là bệnh heo con ỉa phân trắng. Chính vì vậy ngoài việc tiêm sắt, người chăn nuôi cần phải có chuồng trại tốt và đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp, ấm áp và khô ráo.

Ghép ổ cho heo con

Ở những ổ đẻ quá ít con để không lãng phí ổ đẻ của heo. Khi ghép ổ chú ý: không cho heo mẹ phát hiện được con lạ trong đàn, nên ghép vào buổi tối, có thể dùng nước mùi phun lên tất cả đàn con mới và cũ. Đồng thời những con đi ghép phải được bú sữa đầu của mẹ nó đã trước khi ghép và chú ý ghép heo con ở các ổ có tuổi tương tự.

Tập và bổ sung thức ăn sớm cho heo con

Đây là một tiến bộ kỹ thuật có ý nghĩa thành bại đến chăn nuôi heo nái và heo con. Tập và bổ sung thức ăn sớm có tác dụng bổ sung được phần dinh dưỡng mà sữa mẹ thiếu kể từ sau 3 tuần tiết sữa trở đi để heo con sinh trưởng bình thường. Tuy nhiên, đến nay nhiều trang trại chăn nuôi đã cai sữa heo con lúc 21 ngày tuổi, từ đó việc tập ăn sớm cho heo con bú sữa có ý nghĩa rất quan trọng.

Tập và bổ sung thức ăn sớm cho heo con

Bổ sung thức ăn sớm có nhiều tác dụng cho cả lợn mẹ và cả heo con trong quá trình nuôi dưỡng. Vừa có tác dụng bù đắp phần dinh dưỡng thiếu hụt theo quy luật tiết sữa của heo mẹ làm giảm sự khai thác sữa mẹ, heo mẹ ít bị hao mòn trong giai đoạn nuôi con, sớm động dục lại sau cai con, tăng số lứa đẻ trong năm, vừa có tác dụng rèn luyện bộ máy tiêu hoá của heo con sớm hoàn thiện, sớm quen với thức ăn nhân tạo, nên khi cai sữa heo con sinh trưởng phát triển bình thường, ít bị ỉa chảy, rối loạn tiêu hoá. Từ đó, người chăn nuôi có thể giảm chí phí thức ăn, nâng cao hiệu quả kinh tế.

Vận động

Vận động có tác dụng làm cho heo khoẻ mạnh, trao đổi chất tăng, tăng tiêu hoá thức ăn, tránh bệnh bại liệt sau khi đẻ. Bên cạnh đó, vận động giúp heo con khoẻ mạnh hơn, tránh hiện tượng thiếu vitamin D. Thông thường sau khi đẻ 3 – 5 ngày, chúng ta nên cho heo con vận động tự do, tránh cho chúng vận động vào lúc thời tiết xấu. Cần chuẩn bị tốt sân bãi bằng phẳng, khô ráo và sạch sẽ. Trong sân bãi có các bể nước sạch hay vòi nước cho heo uống tự do.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm
Ngay khi vừa sinh ra, heo con rất cần được chăm sóc cẩn thận nhằm hạn chế tỷ lệ chết và gia tăng hiệu quả chăn nuôi. Do đó, bà con cần chú ý thực hiện đầy đủ cách thức chăm sóc cũng như cách ăn uống của heo con.

Dưới đây là những tư vấn chi tiết hơn nhằm giúp bà con có được đàn heo con khỏe mạnh, mang lại kinh tế cao, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé.

1. Cho heo con bú sữa đầu:

Heo con mới sinh cần được lau khô, cắt rốn và cho bú sữa đầu ngay vì sữa đầu có chứa hàm lượng vật chất khô cao, đặc biệt là protein, vitamin, kháng thể A-globulin và MgSO4... Nhưng sữa đầu

chỉ hiện diện trong vòng 24 giờ sau khi sinh nên cần phải cho heo con bú sữa đầu càng sớm càng tốt để có thể nhận được kháng thể của mẹ truyền qua sữa. Do đó không nên cắt răng heo con sớm vì việc này có thể làm heo con bị đau ê hàm giảm sức bú mẹ.

Cho heo con bú còn tạo sự kích thích để tiết ra Oxytocin giúp heo mẹ tăng sự co bóp tử cung sinh con nhanh hơn, đồng thời giảm áp lực gây căng cứng bầu vú ở heo mẹ. Tuy nhiên, không nên cho bú chậm vì có thể làm heo con bị mất năng lượng, cứng hàm.


2. Cố định đầu vú:

Cố định đầu vú cho heo con sẽ đảm bảo được tất cả heo con đều được bú sữa đầu, nhất là trong trường hợp số heo đẻ ra vượt quá số vú thì cần thực hiện cho bú luân phiên. Việc này cũng góp phần làm nâng cao tỷ lệ đồng đều của bầy heo con, vì do giữa các vú khác nhau sẽ có sản lượng sữa khác nhau.

Cho heo nhỏ bú vú ngực nhiều sữa. Cố định vú cho heo con cũng là cách tập cho heo con có phản xạ trong khi bú nhằm nâng cao sản lượng sữa mẹ, vì sản lượng sữa tiết ra phụ thuộc vào sức bú của heo con, trạng thái thần kinh của heo mẹ khi cho con bú, nên khi không có sự tranh giành thì heo mẹ sẽ ổn định tinh thần giúp sữa tiết nhiều hơn.

3. Nhốt riêng heo con vào lồng úm:

Trong những ngày đầu tiên, sưởi ấm lồng úm ở mức 32 độ C, cho bú theo cữ cách khoảng 1,5 - 2 giờ. Việc nhốt riêng heo con những ngày đầu để dễ kiểm soát nhiệt độ úm heo con, việc tiết sữa của heo mẹ và nhất là tránh heo mẹ bị mỏi mệt mất sức sau khi sinh.

4. Tiêm sắt cho heo con:

Liều lượng chuẩn từ 150 - 200mg Ferdextran vào ngày thứ 3-4.

5. Tập ăn cho heo con:

Tuổi tập ăn là từ 4-7 ngày tuổi, cho ăn theo nguyên tắc ít và thường xuyên. Với heo đực, việc thiến không để giống sau này rơi vào 7-14 ngày tuổi.

Sau giai đoạn chăm sóc dinh dưỡng ban đầu cho heo con, bà con tiếp tục tiến hành công đoạn cai sữa cho heo con ở độ tuổi 20-28 ngày. Chỉ cai sữa cho heo con khi heo con khoẻ mạnh, thể trọng đạt trên 6kg, hoặc heo con đã quen với thức ăn. Không nên cai sữa cho heo con lúc thời tiết bất thường (mưa bão…).

Trước khi cai sữa cho heo con phải giảm dần dần số lần bú mẹ, ít nhất trước 3 ngày để tránh hiện tượng sốt sữa trên heo mẹ và heo con bị tiêu chảy. Tập heo con tách mẹ và tăng dần thời gian cho đến khi tách hẳn. Thời gian tách mẹ tốt nhất là vào ban đêm. Khi tách mẹ nên giữ heo con lại trong chuồng, chỉ chuyển heo nái sang chuồng nái khô chờ phối.

Không chỉ chú trọng chăm sóc đàn heo con, bà con cũng cần chú ý tới giai đoạn nuôi dưỡng heo nái tách con. Cụ thể:

Chăm sóc nuôi dưỡng heo nái tách con:

- Ngày tách con cho nái nhịn ăn và uống rồi chuyển nái sang chuồng nái khô chờ phối, giữ heo con tại chuồng.

- Ngày thứ hai cho heo nái uống nước, cho ăn thức bằng 1/3 khẩu phần nái khô.

- Ngày thứ ba ăn tỷ lệ 2/3, ngày thứ tư cho theo tỷ lệ 3/3.

- Nếu heo lên giống cho heo ăn tự do 1-2 ngày đến khi phối giống.

BiotechVET tổng hợp

Biotech - VET - Kỹ tuật chăm sóc heo con sơ sinh

Ngay khi vừa sinh ra, heo con rất cần được chăm sóc cẩn thận nhằm hạn chế tỷ lệ chết và gia tăng hiệu quả chăn nuôi. Do đó, bà con cần chú ý thực hiện đầy đủ cách thức chăm sóc cũng như cách ăn uống của heo con.

Dưới đây là những tư vấn chi tiết hơn nhằm giúp bà con có được đàn heo con khỏe mạnh, mang lại kinh tế cao, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nhé.

1. Cho heo con bú sữa đầu:

Heo con mới sinh cần được lau khô, cắt rốn và cho bú sữa đầu ngay vì sữa đầu có chứa hàm lượng vật chất khô cao, đặc biệt là protein, vitamin, kháng thể A-globulin và MgSO4... Nhưng sữa đầu

chỉ hiện diện trong vòng 24 giờ sau khi sinh nên cần phải cho heo con bú sữa đầu càng sớm càng tốt để có thể nhận được kháng thể của mẹ truyền qua sữa. Do đó không nên cắt răng heo con sớm vì việc này có thể làm heo con bị đau ê hàm giảm sức bú mẹ.

Cho heo con bú còn tạo sự kích thích để tiết ra Oxytocin giúp heo mẹ tăng sự co bóp tử cung sinh con nhanh hơn, đồng thời giảm áp lực gây căng cứng bầu vú ở heo mẹ. Tuy nhiên, không nên cho bú chậm vì có thể làm heo con bị mất năng lượng, cứng hàm.


2. Cố định đầu vú:

Cố định đầu vú cho heo con sẽ đảm bảo được tất cả heo con đều được bú sữa đầu, nhất là trong trường hợp số heo đẻ ra vượt quá số vú thì cần thực hiện cho bú luân phiên. Việc này cũng góp phần làm nâng cao tỷ lệ đồng đều của bầy heo con, vì do giữa các vú khác nhau sẽ có sản lượng sữa khác nhau.

Cho heo nhỏ bú vú ngực nhiều sữa. Cố định vú cho heo con cũng là cách tập cho heo con có phản xạ trong khi bú nhằm nâng cao sản lượng sữa mẹ, vì sản lượng sữa tiết ra phụ thuộc vào sức bú của heo con, trạng thái thần kinh của heo mẹ khi cho con bú, nên khi không có sự tranh giành thì heo mẹ sẽ ổn định tinh thần giúp sữa tiết nhiều hơn.

3. Nhốt riêng heo con vào lồng úm:

Trong những ngày đầu tiên, sưởi ấm lồng úm ở mức 32 độ C, cho bú theo cữ cách khoảng 1,5 - 2 giờ. Việc nhốt riêng heo con những ngày đầu để dễ kiểm soát nhiệt độ úm heo con, việc tiết sữa của heo mẹ và nhất là tránh heo mẹ bị mỏi mệt mất sức sau khi sinh.

4. Tiêm sắt cho heo con:

Liều lượng chuẩn từ 150 - 200mg Ferdextran vào ngày thứ 3-4.

5. Tập ăn cho heo con:

Tuổi tập ăn là từ 4-7 ngày tuổi, cho ăn theo nguyên tắc ít và thường xuyên. Với heo đực, việc thiến không để giống sau này rơi vào 7-14 ngày tuổi.

Sau giai đoạn chăm sóc dinh dưỡng ban đầu cho heo con, bà con tiếp tục tiến hành công đoạn cai sữa cho heo con ở độ tuổi 20-28 ngày. Chỉ cai sữa cho heo con khi heo con khoẻ mạnh, thể trọng đạt trên 6kg, hoặc heo con đã quen với thức ăn. Không nên cai sữa cho heo con lúc thời tiết bất thường (mưa bão…).

Trước khi cai sữa cho heo con phải giảm dần dần số lần bú mẹ, ít nhất trước 3 ngày để tránh hiện tượng sốt sữa trên heo mẹ và heo con bị tiêu chảy. Tập heo con tách mẹ và tăng dần thời gian cho đến khi tách hẳn. Thời gian tách mẹ tốt nhất là vào ban đêm. Khi tách mẹ nên giữ heo con lại trong chuồng, chỉ chuyển heo nái sang chuồng nái khô chờ phối.

Không chỉ chú trọng chăm sóc đàn heo con, bà con cũng cần chú ý tới giai đoạn nuôi dưỡng heo nái tách con. Cụ thể:

Chăm sóc nuôi dưỡng heo nái tách con:

- Ngày tách con cho nái nhịn ăn và uống rồi chuyển nái sang chuồng nái khô chờ phối, giữ heo con tại chuồng.

- Ngày thứ hai cho heo nái uống nước, cho ăn thức bằng 1/3 khẩu phần nái khô.

- Ngày thứ ba ăn tỷ lệ 2/3, ngày thứ tư cho theo tỷ lệ 3/3.

- Nếu heo lên giống cho heo ăn tự do 1-2 ngày đến khi phối giống.

BiotechVET tổng hợp

Đọc thêm