Sữa đầu là loại sữa đặc biệt được tiết ra ngay sau khi heo mới đẻ, giúp heo được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và điều quan trọng hơn là cung cấp kháng thể giúp cho cơ thể heo con mới sinh ra chống lại các bệnh tật xâm nhập vào.
Nhu cầu
Một heo con có nhu cầu tiêu thụ 200 - 400 g sữa đầu, nhưng số lượng này không phải dễ dàng để đạt được. Ngoài sự mất mát nhanh chóng của nhiệt độ cơ thể sau khi sinh và hơn nữa là sự cạnh tranh để chiếm được một núm vú tốt, người nuôi còn phải tính toán đến thời gian sản xuất sữa đầu của heo nái và thời gian có thể hấp thụ tốt nhất cho heo con.
Sữa đầu chỉ được sản xuất bởi heo nái trong vòng 24 - 48 giờ sau đẻ, và nồng độ kháng thể IgG giảm nhanh theo thời gian. Khả năng ruột heo con có thể hấp thu globulin miễn dịch nhanh chóng giảm xuống sau sinh. Chỉ 12 giờ sau khi sinh, heo chỉ còn có thể hấp thụ 25% lượng kháng thể có trong sữa đầu.

Vai trò
Cung cấp năng lượng: lượng glycogen dự trữ trong cơ thể heo con sơ sinh là rất ít, do đó sữa đầu là cần thiết để duy trì nhiệt độ cơ thể và quá trình trao đổi chất. Nếu heo không được bú sữa đầu, khả năng chống lại bệnh tật rất cao, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm, tỷ lệ sống thấp.
Đồng thời cung cấp miễn dịch thụ động: tế bào biểu mô nhau thai ngăn chặn sự vận chuyển các kháng thể qua màng nhau. Do đó, trong những tuần đầu tiên sau khi được sinh ra, heo con hoàn toàn phụ thuộc vào lượng kháng thể đặc hiệu và không đặc hiệu mà nó nhận được thông qua sữa đầu.


Cho heo bú
Luân phiên cho heo con bú, hoặc vắt sữa đầu rồi cho heo con yếu uống riêng từng con một. Tách riêng những con lớn hơn trong khoảng thời gian 90 phút để cho phép những con nhỏ hơn bú sữa đầu mà không bị cạnh tranh từ các các con heo khác cùng đàn.
Giúp heo con tiếp cận núm vú, sau đó để chúng tự thân vận động trong việc bú sữa dưới sự giám sát và giúp đỡ khi cần thiết.
Cho uống sữa đầu trực tiếp: nên thực hiện với những heo con có trọng lượng sinh thấp hơn 800 g, hoặc những con bị lạnh, có sức sống thấp. Có thể thu thập sữa đầu từ chính những heo mẹ, hoặc từ những nái mới vừa sinh hoặc thậm chí trước khi nái sinh con. Cách tốt nhất là sử dụng sữa đầu còn tươi (dùng ngay lập tức sau khi thu thập). Sữa đầu nên được cho bú trực tiếp bằng bình bú hoặc bơm vào miệng heo con với một ống tiêm không có kim. Sử dụng 2 - 3 liều từ 15 - 20 ml/liều trong những giờ đầu tiên sau khi sinh là rất tốt. Làm ấm sữa đầu lên 300C sẽ tạo điều kiện cho heo con nuốt dễ dàng hơn. Tuy nhiên những việc này rất tốn thời gian nên thường chỉ dành riêng cho những heo con có cân nặng rất thấp, hoặc những heo không đủ sức để tự tìm bầu vú mẹ.

DKT Biotech-VET- Vai trò của sữa đầu đối với heo con

Sữa đầu là loại sữa đặc biệt được tiết ra ngay sau khi heo mới đẻ, giúp heo được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và điều quan trọng hơn là cung cấp kháng thể giúp cho cơ thể heo con mới sinh ra chống lại các bệnh tật xâm nhập vào.
Nhu cầu
Một heo con có nhu cầu tiêu thụ 200 - 400 g sữa đầu, nhưng số lượng này không phải dễ dàng để đạt được. Ngoài sự mất mát nhanh chóng của nhiệt độ cơ thể sau khi sinh và hơn nữa là sự cạnh tranh để chiếm được một núm vú tốt, người nuôi còn phải tính toán đến thời gian sản xuất sữa đầu của heo nái và thời gian có thể hấp thụ tốt nhất cho heo con.
Sữa đầu chỉ được sản xuất bởi heo nái trong vòng 24 - 48 giờ sau đẻ, và nồng độ kháng thể IgG giảm nhanh theo thời gian. Khả năng ruột heo con có thể hấp thu globulin miễn dịch nhanh chóng giảm xuống sau sinh. Chỉ 12 giờ sau khi sinh, heo chỉ còn có thể hấp thụ 25% lượng kháng thể có trong sữa đầu.

Vai trò
Cung cấp năng lượng: lượng glycogen dự trữ trong cơ thể heo con sơ sinh là rất ít, do đó sữa đầu là cần thiết để duy trì nhiệt độ cơ thể và quá trình trao đổi chất. Nếu heo không được bú sữa đầu, khả năng chống lại bệnh tật rất cao, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm, tỷ lệ sống thấp.
Đồng thời cung cấp miễn dịch thụ động: tế bào biểu mô nhau thai ngăn chặn sự vận chuyển các kháng thể qua màng nhau. Do đó, trong những tuần đầu tiên sau khi được sinh ra, heo con hoàn toàn phụ thuộc vào lượng kháng thể đặc hiệu và không đặc hiệu mà nó nhận được thông qua sữa đầu.


Cho heo bú
Luân phiên cho heo con bú, hoặc vắt sữa đầu rồi cho heo con yếu uống riêng từng con một. Tách riêng những con lớn hơn trong khoảng thời gian 90 phút để cho phép những con nhỏ hơn bú sữa đầu mà không bị cạnh tranh từ các các con heo khác cùng đàn.
Giúp heo con tiếp cận núm vú, sau đó để chúng tự thân vận động trong việc bú sữa dưới sự giám sát và giúp đỡ khi cần thiết.
Cho uống sữa đầu trực tiếp: nên thực hiện với những heo con có trọng lượng sinh thấp hơn 800 g, hoặc những con bị lạnh, có sức sống thấp. Có thể thu thập sữa đầu từ chính những heo mẹ, hoặc từ những nái mới vừa sinh hoặc thậm chí trước khi nái sinh con. Cách tốt nhất là sử dụng sữa đầu còn tươi (dùng ngay lập tức sau khi thu thập). Sữa đầu nên được cho bú trực tiếp bằng bình bú hoặc bơm vào miệng heo con với một ống tiêm không có kim. Sử dụng 2 - 3 liều từ 15 - 20 ml/liều trong những giờ đầu tiên sau khi sinh là rất tốt. Làm ấm sữa đầu lên 300C sẽ tạo điều kiện cho heo con nuốt dễ dàng hơn. Tuy nhiên những việc này rất tốn thời gian nên thường chỉ dành riêng cho những heo con có cân nặng rất thấp, hoặc những heo không đủ sức để tự tìm bầu vú mẹ.
Đọc thêm
Bệnh Marek trên gà do Herpesvirus gây ra, đặc trưng của bệnh là sự tăng sinh của tế bào lâm ba dưới hình thức khối u ở tổ chức thần kinh ngoại biên và các cơ quan nội tạng, da, cơ, làm xuất hiện các triệu chứng rối loạn cơ năng vận động và bại liệt. Gà và gà tây, gà sao đều mắc bệnh, nhất là gà con trên 6 tuần tuổi dễ mắc bệnh hơn. Phổ biến nhất là từ 8 – 24 tuần tuổi. Đường lây lan chủ yếu là đường hô hấp và tiêu hoá.

TRIỆU CHỨNG BỆNH MAREK:
Thể cấp tính
Xảy ra chủ yếu trên gà con 4 – 8 tuần tuổi, ít có triệu chứng điển hình, chết đột ngột từ 20 – 80%. Gà bệnh kém ăn, gầy còm, bại liệt chỉ thấy ở cuối ổ dịch, bệnh có thể chuyển sang thể mãn tính.
Thể mãn tính
Xảy ra ở gà từ 4 – 8 tháng ở thể thần kinh và thể mắt.
* Thể thần kinh: Gà đi lại khó khăn, liệt nhẹ dần rồi đến toàn thân. Đuôi gà rũ xuống. Gà bị liệt một chân hay cả 2 chân. Gà bệnh vẫn ăn uống bình thường, gà mái bệnh giảm đẻ, gà trống giảm khả năng đạp mái.
* Thể mắt: Mắt lúc đầu bị viêm nhẹ, gà tỏ ra mẫn cảm với ánh sáng, chảy nước mắt trong, dần dần bị viêm màng tiếp hợp, rồi viêm mống mắt, gà có thể bị mù mắt
Sau 14 ngày nhiễm bệnh, sự suy giảm miễn dịch bắt đầu xuất hiện do virus tấn công vào lách, tuyến ức và Fabricius. Từ 5 đến 6 tuần sau khi bị nhiễm các khối u trong cơ thể gà bắt đầu xuất hiện do nhiều tế bào lymphô T đã biến đổi thành tế bào ung thư.


Bệnh tích  BỆNH MAREK :
Thể cấp tính:
Chủ yếu hình thành khối u ở gan, lách thận, phổi, buồng trứng, dịch hoàn, có 2 dạng khối u là
Khối u hạt: bề mặt cơ quan sần sùi với những hạt to nhỏ không đều nhau. Một số trường hợp có khối u ở dạ dày tuyến, thành ruột, cơ, da .
Khối u tràn lan: Gan lách có khối u to hơn bình thường, nhạt màu và bở.
Bệnh tích ở da thường không rõ, trong vài trường hợp tuyến lông có thể bị nhiễm gây xuất huyết dưới da đùi gọi là “đùi đỏ Alabama”.
Thể mãn tính
Chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại vi như: dây thần kinh cánh, hông, dây thần kinh xuất phát từ phần dưới của tuỷ sống, như dây thần kinh liên sườn, dây thần kinh sinh dục. Ở một số trường hợp còn có thấy tuỷ sống bị sưng to, cơ bị teo, mắt bị mù, con ngươi biến dạng.

PHÒNG BỆNH MAREK:
Bệnh không có thuốc điều trị do đó việc áp dụng qui trình phòng bệnh bằng vệ sinh, diệt trùng và tiêm phòng vaccine cho gà lúc 1 ngày tuổi ngay tại phòng ấp là cần thiết.
Chú ý:
Tất cả các loại vaccine phòng bệnh Marek đều phải dùng hết trong 2 giờ sau khi pha, tốt nhất là 30 phút. Để quá 2 giờ hoặc đông lạnh trở lại đều làm mất hiệu lực của vaccine.

DKT Biotech-VET- Triệu chứng và cách phòng bệnh MAREK trên gà

Bệnh Marek trên gà do Herpesvirus gây ra, đặc trưng của bệnh là sự tăng sinh của tế bào lâm ba dưới hình thức khối u ở tổ chức thần kinh ngoại biên và các cơ quan nội tạng, da, cơ, làm xuất hiện các triệu chứng rối loạn cơ năng vận động và bại liệt. Gà và gà tây, gà sao đều mắc bệnh, nhất là gà con trên 6 tuần tuổi dễ mắc bệnh hơn. Phổ biến nhất là từ 8 – 24 tuần tuổi. Đường lây lan chủ yếu là đường hô hấp và tiêu hoá.

TRIỆU CHỨNG BỆNH MAREK:
Thể cấp tính
Xảy ra chủ yếu trên gà con 4 – 8 tuần tuổi, ít có triệu chứng điển hình, chết đột ngột từ 20 – 80%. Gà bệnh kém ăn, gầy còm, bại liệt chỉ thấy ở cuối ổ dịch, bệnh có thể chuyển sang thể mãn tính.
Thể mãn tính
Xảy ra ở gà từ 4 – 8 tháng ở thể thần kinh và thể mắt.
* Thể thần kinh: Gà đi lại khó khăn, liệt nhẹ dần rồi đến toàn thân. Đuôi gà rũ xuống. Gà bị liệt một chân hay cả 2 chân. Gà bệnh vẫn ăn uống bình thường, gà mái bệnh giảm đẻ, gà trống giảm khả năng đạp mái.
* Thể mắt: Mắt lúc đầu bị viêm nhẹ, gà tỏ ra mẫn cảm với ánh sáng, chảy nước mắt trong, dần dần bị viêm màng tiếp hợp, rồi viêm mống mắt, gà có thể bị mù mắt
Sau 14 ngày nhiễm bệnh, sự suy giảm miễn dịch bắt đầu xuất hiện do virus tấn công vào lách, tuyến ức và Fabricius. Từ 5 đến 6 tuần sau khi bị nhiễm các khối u trong cơ thể gà bắt đầu xuất hiện do nhiều tế bào lymphô T đã biến đổi thành tế bào ung thư.


Bệnh tích  BỆNH MAREK :
Thể cấp tính:
Chủ yếu hình thành khối u ở gan, lách thận, phổi, buồng trứng, dịch hoàn, có 2 dạng khối u là
Khối u hạt: bề mặt cơ quan sần sùi với những hạt to nhỏ không đều nhau. Một số trường hợp có khối u ở dạ dày tuyến, thành ruột, cơ, da .
Khối u tràn lan: Gan lách có khối u to hơn bình thường, nhạt màu và bở.
Bệnh tích ở da thường không rõ, trong vài trường hợp tuyến lông có thể bị nhiễm gây xuất huyết dưới da đùi gọi là “đùi đỏ Alabama”.
Thể mãn tính
Chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại vi như: dây thần kinh cánh, hông, dây thần kinh xuất phát từ phần dưới của tuỷ sống, như dây thần kinh liên sườn, dây thần kinh sinh dục. Ở một số trường hợp còn có thấy tuỷ sống bị sưng to, cơ bị teo, mắt bị mù, con ngươi biến dạng.

PHÒNG BỆNH MAREK:
Bệnh không có thuốc điều trị do đó việc áp dụng qui trình phòng bệnh bằng vệ sinh, diệt trùng và tiêm phòng vaccine cho gà lúc 1 ngày tuổi ngay tại phòng ấp là cần thiết.
Chú ý:
Tất cả các loại vaccine phòng bệnh Marek đều phải dùng hết trong 2 giờ sau khi pha, tốt nhất là 30 phút. Để quá 2 giờ hoặc đông lạnh trở lại đều làm mất hiệu lực của vaccine.
Đọc thêm
Giải pháp ương tôm sú giống lớn đã giải quyết được tỷ lệ hao hụt nhiều trong các mô hình tôm - lúa, tôm - rừng…, góp phần vào thành công cho vụ nuôi.
Giải pháp tối ưu
Thời gian vừa qua, trong định hướng thị trường ngành tôm, ngoài nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng hình thức nuôi thâm canh, siêu thâm canh, thì tôm sú sinh thái, tôm - rừng, tôm - lúa và tôm quảng canh là thế mạnh của ngành tôm. Trong các mô hình này, tôm giống thường được mua về từ các trại sản xuất giống sau đó thả thẳng xuống các vuông, đầm nuôi. Tuy nhiên, cách thả giống theo truyền thống này tồn tại một số nhược điểm. Tỷ lệ sống của tôm thường thấp do chất lượng tôm giống kém. Hơn nữa, khi thả giống với kích thước nhỏ (cỡ PL 12 - 13) vào các ao nuôi, tôm giống sẽ bị cá ăn gây hao hụt rất lớn. Bởi ở hình thức nuôi này, người nuôi sẽ không tiêu diệt các loài cá vì nó là nguồn thức ăn cho cua - đối tượng thường được nuôi kết hợp với tôm sú. Từ những lí do trên mà đại đa số hộ nuôi đã thả nhiều đợt và tăng số lượng con giống trong các đợt thả với hy vọng số lượng tôm còn lại sẽ đảm bảo sản lượng và thu nhập. Thế nhưng, việc này sẽ làm tăng nguy cơ mất kiểm soát về mật độ thích hợp, dẫn đến tôm chậm lớn, kích thước nhỏ. Trong khi đó, nếu mua tôm giống cỡ lớn thì chi phí quá lớn, giảm hiệu quả kinh tế.
Để giải quyết vấn đề này, các nhà khoa học đã đưa ra giải pháp ương tôm trong giai lưới hoặc các bể bạt đặt ngay trong ao nuôi. Giải pháp này mang lại hiệu quả cao, giảm chi phí cho người nuôi. Trước hết, khi ương giống sẽ ngăn chặn được hiện tượng sốc nhiệt của tôm do sự khác biệt về điều kiện sống như môi trường, thức ăn ở trại sản xuất và ao nuôi. Ngoài ra, trong mô hình nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến, ở giai đoạn 20 - 25 ngày đầu rất khó kiểm tra tỷ lệ sống của tôm nếu người nuôi thả giống trực tiếp xuống vuông nuôi. Nhiều trường hợp khi phát hiện, tôm đã chết hết thì quá trễ, nếu thả giống bù sẽ không kịp thời vụ và giảm hiệu quả kinh tế. Vì vậy, ương tôm sẽ hạn chế được nhược điểm này. Nếu trong quá trình ương, tôm giống xảy ra sự cố sẽ dễ dàng nhận biết và có kế hoạch thả bù. Bên cạnh đó, người nuôi cũng có thể kiểm soát được số tôm sau khi ương, biết được mật độ tôm có trong ao là bao nhiêu, để có điều chỉnh thích hợp đảm bảo đủ thức ăn tự nhiên cho tôm.


Kỹ thuật ương
Xử lý vuông: Tiến hành vệ sinh sạch sẽ vuông ương, đặc biệt là bùn ở đáy phải được loại bỏ để giảm lượng chất hữu cơ và giảm phát sinh khí độc có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tôm. Bờ vuông cũng được sửa chữa để tránh rò rỉ làm thất thoát nước. Sử dụng vôi nông nghiệp CaO, liều lượng 400 - 600 kg/ha để tăng pH và loại bỏ mầm bệnh. Dùng thuốc cá (Saponin) trong các mương với liều lượng 10 kg/ 1.000 m3 để giảm số lượng cá vì cá có thể ăn tôm nhỏ hoặc cạnh tranh thức ăn với tôm.
Ruộng có vuông ương được phơi khô 10 ngày trước khi cấp nước vào. Nước được bơm vào vuông thông qua một túi lọc để loại bỏ địch hại, rong tảo... Sau khi cấp đủ nước, sử dụng phân DAP để bón với liều lượng 2 kg/1.000 m3 nước nhằm kích thích tảo phát triển. Sử dụng chế phẩm vi sinh, liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất (lựa chọn sản phẩm chất lượng, uy tín) nhằm kìm hãm các vi khuẩn có hại, phân hủy hữu cơ tạo thành chất dinh dưỡng cho chuỗi thức ăn tự nhiên trong vuông.
Chuẩn bị giai, thiết bị: Lưới sử dụng để may giai có kích thước mắt lưới 0,3 - 0,5 mm. Chiều cao của giai là 1,2 m, chiều rộng 2 - 2,4 m (tùy theo khổ lưới có sẵn), chiều dài của giai phụ thuộc theo lượng giống thả và diện tích kênh mương trong đầm nuôi, nhưng không quá dài sẽ khó khăn trong thao tác. Giai được cắm dọc theo các mương trong vuông nuôi. Nên chọn các vị trí sâu trên 1,4 m, thông thoáng để đảm bảo lưu thông nước và hàm lượng ôxy hòa tan. Đáy giai cách đáy vuông 30 - 40 cm. Để đảm bảo không bị cua kẹp thủng giai lưới, xung quanh các giai nên cắm thêm các lưới chắn cua.
Máy bơm nước được đặt ở phía ngoài và bơm nước vào trong giai lưới để tạo ôxy hòa tan và đẩy các chất thải, thức ăn dư thừa ra khỏi giai lưới. Máy bơm có công suất 1 HP có thể sử dụng cho 50 m2 diện tích giai, để thuận tiện hơn, người nuôi nên sử dụng máy bơm chìm. Đầu hút nước của máy bơm được đặt trong một túi lưới để ngăn rác hoặc dị vật đi vào làm hỏng buồng bơm.
Chọn tôm giống: Tôm giống được lựa chọn từ các trại giống có uy tín. Tôm cần được xét nghiệm để đảm bảo không mang các mầm bệnh nguy hiểm trước khi thả.
Thả giống: Trước khi thả giống phải tiến hành đo các yếu tố môi trường, đảm bảo nằm trong ngưỡng phù hợp: pH: 7,5 - 8,6; Độ kiềm: 80 - 120; Tổng Ammonia < 1mg/l, hoặc Ammonia gây độc tối đa < 0,01 mg/l; Đo độ mặn để phục vụ việc thuần tôm trước khi thả. Nếu các yếu tố trên chưa đạt thì phải áp dụng một số biện pháp kỹ thuật để cải thiện. Ví dụ như để tăng pH, kiểm thì dùng vôi nông nghiệp, Zeolite, áp dụng các biện pháp bơm đảo nước hoặc tăng cường vi sinh để giảm Amonia. Thả giống vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Mật độ thả giống là 500 - 1.000 con PL 12/m2 tùy theo điều kiện ao hồ và kỹ thuật của từng hộ nuôi.
Cho ăn: Thức ăn công nghiệp được sử dụng với lượng 1 kg/100.000 PL/ ngày. Cho tôm ăn 4 lần/ngày vào các thời điểm: 6h, 11h, 16h và 20h. Lượng thức ăn được tăng lên, nằm trong khoảng 5 - 10% tùy theo khả năng bắt mồi và hoạt động ăn của tôm. Trước khi cho tôm ăn, tắt bơm nước để không làm thức ăn bị trôi ra ngoài giai lưới. Sau khi cho ăn 90 phút bơm nước lại được vận hành để tạo ôxy hòa tan và trao đổi nước trong giai ương.
Chăm sóc: Trong quá trình ương, hằng ngày cần kiểm tra xung quanh để kịp thời phát hiện các lỗ thủng (nếu có) và khắc phục tránh để tôm chui ra ngoài. Thường xuyên vệ sinh bề mặt giai lưới để nước được lưu thông dễ dàng.
Thời gian ương khoảng 15 - 25 ngày, tùy theo tốc độ phát triển của tôm. Khi chiều dài trung bình của tôm đạt 1,8 - 2 cm thì có thể thả ra vuông nuôi. Tỷ lệ sống khi kết thúc giai đoạn ương khoảng 65 - 70%.
Ngoài ra, người nuôi cũng có thể sử dụng bạt đặt trong vuông, tạo thành các bể, giúp đa dạng hóa các hình thức ương.

DKT Biotech-VET- Kỹ thuật ương giống lớn trong nuôi tôm sú hữu cơ

Giải pháp ương tôm sú giống lớn đã giải quyết được tỷ lệ hao hụt nhiều trong các mô hình tôm - lúa, tôm - rừng…, góp phần vào thành công cho vụ nuôi.
Giải pháp tối ưu
Thời gian vừa qua, trong định hướng thị trường ngành tôm, ngoài nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng hình thức nuôi thâm canh, siêu thâm canh, thì tôm sú sinh thái, tôm - rừng, tôm - lúa và tôm quảng canh là thế mạnh của ngành tôm. Trong các mô hình này, tôm giống thường được mua về từ các trại sản xuất giống sau đó thả thẳng xuống các vuông, đầm nuôi. Tuy nhiên, cách thả giống theo truyền thống này tồn tại một số nhược điểm. Tỷ lệ sống của tôm thường thấp do chất lượng tôm giống kém. Hơn nữa, khi thả giống với kích thước nhỏ (cỡ PL 12 - 13) vào các ao nuôi, tôm giống sẽ bị cá ăn gây hao hụt rất lớn. Bởi ở hình thức nuôi này, người nuôi sẽ không tiêu diệt các loài cá vì nó là nguồn thức ăn cho cua - đối tượng thường được nuôi kết hợp với tôm sú. Từ những lí do trên mà đại đa số hộ nuôi đã thả nhiều đợt và tăng số lượng con giống trong các đợt thả với hy vọng số lượng tôm còn lại sẽ đảm bảo sản lượng và thu nhập. Thế nhưng, việc này sẽ làm tăng nguy cơ mất kiểm soát về mật độ thích hợp, dẫn đến tôm chậm lớn, kích thước nhỏ. Trong khi đó, nếu mua tôm giống cỡ lớn thì chi phí quá lớn, giảm hiệu quả kinh tế.
Để giải quyết vấn đề này, các nhà khoa học đã đưa ra giải pháp ương tôm trong giai lưới hoặc các bể bạt đặt ngay trong ao nuôi. Giải pháp này mang lại hiệu quả cao, giảm chi phí cho người nuôi. Trước hết, khi ương giống sẽ ngăn chặn được hiện tượng sốc nhiệt của tôm do sự khác biệt về điều kiện sống như môi trường, thức ăn ở trại sản xuất và ao nuôi. Ngoài ra, trong mô hình nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến, ở giai đoạn 20 - 25 ngày đầu rất khó kiểm tra tỷ lệ sống của tôm nếu người nuôi thả giống trực tiếp xuống vuông nuôi. Nhiều trường hợp khi phát hiện, tôm đã chết hết thì quá trễ, nếu thả giống bù sẽ không kịp thời vụ và giảm hiệu quả kinh tế. Vì vậy, ương tôm sẽ hạn chế được nhược điểm này. Nếu trong quá trình ương, tôm giống xảy ra sự cố sẽ dễ dàng nhận biết và có kế hoạch thả bù. Bên cạnh đó, người nuôi cũng có thể kiểm soát được số tôm sau khi ương, biết được mật độ tôm có trong ao là bao nhiêu, để có điều chỉnh thích hợp đảm bảo đủ thức ăn tự nhiên cho tôm.


Kỹ thuật ương
Xử lý vuông: Tiến hành vệ sinh sạch sẽ vuông ương, đặc biệt là bùn ở đáy phải được loại bỏ để giảm lượng chất hữu cơ và giảm phát sinh khí độc có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tôm. Bờ vuông cũng được sửa chữa để tránh rò rỉ làm thất thoát nước. Sử dụng vôi nông nghiệp CaO, liều lượng 400 - 600 kg/ha để tăng pH và loại bỏ mầm bệnh. Dùng thuốc cá (Saponin) trong các mương với liều lượng 10 kg/ 1.000 m3 để giảm số lượng cá vì cá có thể ăn tôm nhỏ hoặc cạnh tranh thức ăn với tôm.
Ruộng có vuông ương được phơi khô 10 ngày trước khi cấp nước vào. Nước được bơm vào vuông thông qua một túi lọc để loại bỏ địch hại, rong tảo... Sau khi cấp đủ nước, sử dụng phân DAP để bón với liều lượng 2 kg/1.000 m3 nước nhằm kích thích tảo phát triển. Sử dụng chế phẩm vi sinh, liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất (lựa chọn sản phẩm chất lượng, uy tín) nhằm kìm hãm các vi khuẩn có hại, phân hủy hữu cơ tạo thành chất dinh dưỡng cho chuỗi thức ăn tự nhiên trong vuông.
Chuẩn bị giai, thiết bị: Lưới sử dụng để may giai có kích thước mắt lưới 0,3 - 0,5 mm. Chiều cao của giai là 1,2 m, chiều rộng 2 - 2,4 m (tùy theo khổ lưới có sẵn), chiều dài của giai phụ thuộc theo lượng giống thả và diện tích kênh mương trong đầm nuôi, nhưng không quá dài sẽ khó khăn trong thao tác. Giai được cắm dọc theo các mương trong vuông nuôi. Nên chọn các vị trí sâu trên 1,4 m, thông thoáng để đảm bảo lưu thông nước và hàm lượng ôxy hòa tan. Đáy giai cách đáy vuông 30 - 40 cm. Để đảm bảo không bị cua kẹp thủng giai lưới, xung quanh các giai nên cắm thêm các lưới chắn cua.
Máy bơm nước được đặt ở phía ngoài và bơm nước vào trong giai lưới để tạo ôxy hòa tan và đẩy các chất thải, thức ăn dư thừa ra khỏi giai lưới. Máy bơm có công suất 1 HP có thể sử dụng cho 50 m2 diện tích giai, để thuận tiện hơn, người nuôi nên sử dụng máy bơm chìm. Đầu hút nước của máy bơm được đặt trong một túi lưới để ngăn rác hoặc dị vật đi vào làm hỏng buồng bơm.
Chọn tôm giống: Tôm giống được lựa chọn từ các trại giống có uy tín. Tôm cần được xét nghiệm để đảm bảo không mang các mầm bệnh nguy hiểm trước khi thả.
Thả giống: Trước khi thả giống phải tiến hành đo các yếu tố môi trường, đảm bảo nằm trong ngưỡng phù hợp: pH: 7,5 - 8,6; Độ kiềm: 80 - 120; Tổng Ammonia < 1mg/l, hoặc Ammonia gây độc tối đa < 0,01 mg/l; Đo độ mặn để phục vụ việc thuần tôm trước khi thả. Nếu các yếu tố trên chưa đạt thì phải áp dụng một số biện pháp kỹ thuật để cải thiện. Ví dụ như để tăng pH, kiểm thì dùng vôi nông nghiệp, Zeolite, áp dụng các biện pháp bơm đảo nước hoặc tăng cường vi sinh để giảm Amonia. Thả giống vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Mật độ thả giống là 500 - 1.000 con PL 12/m2 tùy theo điều kiện ao hồ và kỹ thuật của từng hộ nuôi.
Cho ăn: Thức ăn công nghiệp được sử dụng với lượng 1 kg/100.000 PL/ ngày. Cho tôm ăn 4 lần/ngày vào các thời điểm: 6h, 11h, 16h và 20h. Lượng thức ăn được tăng lên, nằm trong khoảng 5 - 10% tùy theo khả năng bắt mồi và hoạt động ăn của tôm. Trước khi cho tôm ăn, tắt bơm nước để không làm thức ăn bị trôi ra ngoài giai lưới. Sau khi cho ăn 90 phút bơm nước lại được vận hành để tạo ôxy hòa tan và trao đổi nước trong giai ương.
Chăm sóc: Trong quá trình ương, hằng ngày cần kiểm tra xung quanh để kịp thời phát hiện các lỗ thủng (nếu có) và khắc phục tránh để tôm chui ra ngoài. Thường xuyên vệ sinh bề mặt giai lưới để nước được lưu thông dễ dàng.
Thời gian ương khoảng 15 - 25 ngày, tùy theo tốc độ phát triển của tôm. Khi chiều dài trung bình của tôm đạt 1,8 - 2 cm thì có thể thả ra vuông nuôi. Tỷ lệ sống khi kết thúc giai đoạn ương khoảng 65 - 70%.
Ngoài ra, người nuôi cũng có thể sử dụng bạt đặt trong vuông, tạo thành các bể, giúp đa dạng hóa các hình thức ương.
Đọc thêm
Xê tôn huyết là bệnh rối loạn trao đổi chất (chủ yếu là béo và đạm), trong đó hàm lượng xê tôn tăng cao trong dịch thể (trong máu, sữa, và nước tiểu). Bệnh thường gặp ở bò sữa, đặc biệt là bò sữa cao sản. Bệnh hay xảy ra trên bò sau khi sinh, nhất là giai đoạn từ 2 - 10 tuần (thường trong 6 tuần đầu) và giữa chu kỳ sữa.
Tỷ lệ bệnh này trên thế giới từ 9 - 34%. Ở Việt Nam, tỷ lệ bò bị xê tôn huyết khoảng từ 25 - 50%. Khoảng 4 - 21% tỷ lệ bệnh có triệu chứng lâm sàng và khoảng 30% không có triệu chứng rõ ràng. Bệnh xê tôn làm giảm khả năng đậu thai (từ 20 - 50%), giảm sản lượng sữa (1 - 5 kg/con/ngày), tăng nguy cơ lệch dạ múi khế và viêm tử cung.


Triệu chứng
Bò bị bệnh thường rối loạn tiêu hoá (thích ăn cỏ và không ăn cám, chảy nước dãi, hay nhai, giảm nhu động dạ cỏ và giảm nhai lại, đôi khi tiêu chảy), gầy yếu nhanh và giảm sản lượng sữa. Thân nhiệt bò thường giảm.
Ở giai đoạn đầu của bệnh: Bò thường tăng kích thích và thay đổi hành vi, tăng cảm giác da vùng cổ, lồng ngực và thắt lưng. Sang giai đoạn tiếp theo: bò ủ rũ mệt mỏi, đi loạng choạng, thích nằm lỳ, mắt lim dim, các triệu chứng thần kinh thể hiện rõ (điên cuồng, mắt trợn ngược, hai chân trước bắt chéo hay chạng ra, lưng cong, cơ cổ và cơ ngực co giật). Ở giai đoạn cuối: bò bị liệt hai chân sau (hình 2), phản xạ kém nằm lì một chỗ, đầu gục vào bên sườn
Thể mãn tính thường không có triệu chứng mà chỉ thay đổi thành phần sữa, nhất là tỷ lệ béo và đạm của sữa. Tỷ lệ béo/đạm > 1,33 hoặc tỷ lệ béo trong sữa > 4,8% có nghĩa là bò có nguy cơ bị xê tôn rất cao.

Chẩn đoán
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng (như miêu tả ở trên). Ngoài ra, khi bò bị nặng chúng ta có thể ngửi được mùi xê tôn trong hơi thở, sữa và thậm chí trong nước tiểu.
Ngoài ra, bệnh xê tôn huyết còn có thể được chẩn đoán bằng cách xác định nồng độ thể xê tôn trong huyết thanh, nước tiểu và sữa bằng các que thử nhanh hoặc các máy phân tích sinh hóa.
Phòng bệnh
Cho ăn đủ cỏ chất lượng tốt lúc mới sinh. Sau khi sinh nên tăng thức ăn tinh từ từ (cứ 3 ngày tăng 1 kg). Nên chuyển khẩu phần từ cạn sữa sang cho sữa dần dần khoảng 2 tuần trước khi đẻ
Hạn chế bò quá mập (điểm thể trạng > 4) lúc cạn sữa: duy trì khẩu phần nhiều xơ (cỏ và rơm), giảm thức ăn tinh (cám, hèm bia, xác mì…) để duy trì hoạt động dạ cỏ được tốt.

DKT Biotech-VET- Nhận biết và phòng bệnh xê tôn huyết ở bò sữa

Xê tôn huyết là bệnh rối loạn trao đổi chất (chủ yếu là béo và đạm), trong đó hàm lượng xê tôn tăng cao trong dịch thể (trong máu, sữa, và nước tiểu). Bệnh thường gặp ở bò sữa, đặc biệt là bò sữa cao sản. Bệnh hay xảy ra trên bò sau khi sinh, nhất là giai đoạn từ 2 - 10 tuần (thường trong 6 tuần đầu) và giữa chu kỳ sữa.
Tỷ lệ bệnh này trên thế giới từ 9 - 34%. Ở Việt Nam, tỷ lệ bò bị xê tôn huyết khoảng từ 25 - 50%. Khoảng 4 - 21% tỷ lệ bệnh có triệu chứng lâm sàng và khoảng 30% không có triệu chứng rõ ràng. Bệnh xê tôn làm giảm khả năng đậu thai (từ 20 - 50%), giảm sản lượng sữa (1 - 5 kg/con/ngày), tăng nguy cơ lệch dạ múi khế và viêm tử cung.


Triệu chứng
Bò bị bệnh thường rối loạn tiêu hoá (thích ăn cỏ và không ăn cám, chảy nước dãi, hay nhai, giảm nhu động dạ cỏ và giảm nhai lại, đôi khi tiêu chảy), gầy yếu nhanh và giảm sản lượng sữa. Thân nhiệt bò thường giảm.
Ở giai đoạn đầu của bệnh: Bò thường tăng kích thích và thay đổi hành vi, tăng cảm giác da vùng cổ, lồng ngực và thắt lưng. Sang giai đoạn tiếp theo: bò ủ rũ mệt mỏi, đi loạng choạng, thích nằm lỳ, mắt lim dim, các triệu chứng thần kinh thể hiện rõ (điên cuồng, mắt trợn ngược, hai chân trước bắt chéo hay chạng ra, lưng cong, cơ cổ và cơ ngực co giật). Ở giai đoạn cuối: bò bị liệt hai chân sau (hình 2), phản xạ kém nằm lì một chỗ, đầu gục vào bên sườn
Thể mãn tính thường không có triệu chứng mà chỉ thay đổi thành phần sữa, nhất là tỷ lệ béo và đạm của sữa. Tỷ lệ béo/đạm > 1,33 hoặc tỷ lệ béo trong sữa > 4,8% có nghĩa là bò có nguy cơ bị xê tôn rất cao.

Chẩn đoán
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng (như miêu tả ở trên). Ngoài ra, khi bò bị nặng chúng ta có thể ngửi được mùi xê tôn trong hơi thở, sữa và thậm chí trong nước tiểu.
Ngoài ra, bệnh xê tôn huyết còn có thể được chẩn đoán bằng cách xác định nồng độ thể xê tôn trong huyết thanh, nước tiểu và sữa bằng các que thử nhanh hoặc các máy phân tích sinh hóa.
Phòng bệnh
Cho ăn đủ cỏ chất lượng tốt lúc mới sinh. Sau khi sinh nên tăng thức ăn tinh từ từ (cứ 3 ngày tăng 1 kg). Nên chuyển khẩu phần từ cạn sữa sang cho sữa dần dần khoảng 2 tuần trước khi đẻ
Hạn chế bò quá mập (điểm thể trạng > 4) lúc cạn sữa: duy trì khẩu phần nhiều xơ (cỏ và rơm), giảm thức ăn tinh (cám, hèm bia, xác mì…) để duy trì hoạt động dạ cỏ được tốt.
Đọc thêm
Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc gà trong thời gian từ lúc mới nở đến khi đẻ trứng quyết định tuổi đẻ trứng đầu, số trứng đẻ ra và trọng lượng trứng…

Khi nuôi gà hậu bị cần chú ý đến:

  • Giữ cho tốc độ sinh trưởng của gà ở mức trải đều trong suốt quá trình sống, đảm bảo cho sự phát triển các đặc tính sinh lý hài hòa và cân bằng.
  • Lựa chọn đúng các giống gà có thiên hướng sinh sản tốt, sản lượng trứng cao và bền.
  • Đặc điểm sinh trưởng theo từng hướng sản xuất: gà hướng chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng cao, khả năng tích lũy mỡ cao nên dễ mập mỡ và giảm khả năng đẻ trứng; và ngược lại đối với gà hướng trứng. Vì vậy khi nuôi gà hậu bị hướng thịt cần theo dõi chặt chẽ lượng thức ăn và mức tăng trọng của gà hàng tuần.
- Lúc gà mới nở: Lựa chọn gà con theo tiêu chuẩn nhất định (đã được trình bày ở quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc gà con)
- Lúc gà 6 tuần tuổi:
+ Đối với gà hướng trứng: Chọn những gà mái có ngoại hình đạt tiêu chuẩn giống như vóc dáng cân đối, xương ức thẳng, không dị tật ở mỏ, ngón chân. Trong đàn gà giống, số gà trống chọn sẽ bằng 10% số gà mái.
+ Đối với gà giống hướng thịt: Chọn gà mái có trọng lượng trung bình gần sát với trọng lượng trung bình của giống, chọn gà trống có trọng lượng từ cao trở xuống với ngoại hình cân đối, ức lớn, rộng, thế đứng hùng dũng, ức dốc ở góc khoảng 450 sẽ là những gà trống cho tỷ lệ thụ tinh cao hơn so với gà trống có ức nằm ngang.
- Lúc gà 19 tuần tuổi: Dựa vào các đặc điểm sinh dục thứ cấp như, mồng tích phát triển, màu đỏ tươi, lông óng mượt, cánh ép sát thân.
2. Chế độ chiếu sáng của gà hậu bị
- Thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn hậu bị ảnh hưởng lớn đến tuổi đẻ trứng đầu tiên. Tăng thời gian chiếu sáng trong giai đoạn hậu bị sẽ dẫn đến tình trạng phát dục sớm. Gà đẻ quá sớm khi cơ thể chưa phát triển đầy đủ về thể chất nên trứng sẽ nhỏ và thời gian khai thác trứng ngắn, năng suất trứng không đạt đỉnh cao, gây tổn hại về kinh tế.
- Chế độ chiếu sáng cho gà trong giai đoạn hậu bị trung bình là 10 giờ /ngày. Nếu ánh sáng tự nhiên tăng hay giảm không phù hợp với chế độ chiếu sáng thì phải dùng rèm che hoặc chiếu sáng bổ sung cho đủ.

3. Chế độ định mức ăn cho gà hậu bị
- Nhu cầu dinh dưỡng: Năng lượng trao đổi tối thiểu từ 2750 Kcal/kg đến 2850 Kcal/kg; Đạm từ 16 – 18%
- Thay thức ăn dần (trong 1 tuần) từ thức ăn của gà con sang thức ăn gà dò, và từ thức ăn của gà dò sang thức ăn gà đẻ vào các tuần tuổi thích hợp.
- Hạn chế số lượng thức ăn hàng ngày từ 5 tuần tuổi. Khống chế thức ăn để gà đạt khối lượng chuẩn. Thức ăn hàng ngày có thể giảm 20 – 30% tùy vào mức sinh trưởng của gà.
- Thường Xuyên bổ xung 
chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái nhằm tăng lượng khoáng chất, giúp cho gà hậu bị sẵn sàng tham gia quá trình sinh sản.

4. Chăm sóc và nuôi dưỡng
- Nhiệt độ: Nhiệt độ chuồng nuôi ảnh hưởng đến lượng thức ăn hàng ngày và mức độ sinh trưởng của đàn gà, từ đó sẽ ảnh hưởng đến tuổi thành thục và năng suất trứng sau này. Nhiệt độ thích hợp cho gà giống hậu bị sau 2 -3 tuần úm ở khoảng 21 – 270C, tùy theo điều kiện khí hậu mà có thể tăng hoặc giảm.
- Ẩm độ: Ẩm độ thích hợp cho sự phát triển của gà hậu bị trong khoảng 50 – 75%. Với mức ẩm độ này sẽ dễ cho việc quản lý điều kiện vệ sinh chuồng trại, gà khỏe mạnh.
- Mật độ:
Mật độ nuôi dưỡng gà hậu bị
5. Quy trình phòng bệnh
- Phòng bệnh bằng kháng sinh: nên sử dụng định kỳ để phòng một số bệnh thường gặp đối với gia cầm như thương hàn, CRD, tụ huyết trùng, E.coli và bệnh cầu trùng nếu nuôi nền. Nên sử dụng kháng sinh đặc hiệu trộn trong thức ăn hoặc hòa vào nước uống trong thời gian 3 -5 ngày.
- Phòng bệnh bằng vacxin: Quy trình mẫu sau đây được áp dụng rộng rãi để phòng ngừa một số bệnh truyền nhiễm thường gặp:
Quy trình phòng bệnh cho gà hậu bị

DKT Biotech-VET- Hướng dẫn kỹ thuật nuôi và chăm sóc gà hậu bị

Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc gà trong thời gian từ lúc mới nở đến khi đẻ trứng quyết định tuổi đẻ trứng đầu, số trứng đẻ ra và trọng lượng trứng…

Khi nuôi gà hậu bị cần chú ý đến:

  • Giữ cho tốc độ sinh trưởng của gà ở mức trải đều trong suốt quá trình sống, đảm bảo cho sự phát triển các đặc tính sinh lý hài hòa và cân bằng.
  • Lựa chọn đúng các giống gà có thiên hướng sinh sản tốt, sản lượng trứng cao và bền.
  • Đặc điểm sinh trưởng theo từng hướng sản xuất: gà hướng chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng cao, khả năng tích lũy mỡ cao nên dễ mập mỡ và giảm khả năng đẻ trứng; và ngược lại đối với gà hướng trứng. Vì vậy khi nuôi gà hậu bị hướng thịt cần theo dõi chặt chẽ lượng thức ăn và mức tăng trọng của gà hàng tuần.
- Lúc gà mới nở: Lựa chọn gà con theo tiêu chuẩn nhất định (đã được trình bày ở quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc gà con)
- Lúc gà 6 tuần tuổi:
+ Đối với gà hướng trứng: Chọn những gà mái có ngoại hình đạt tiêu chuẩn giống như vóc dáng cân đối, xương ức thẳng, không dị tật ở mỏ, ngón chân. Trong đàn gà giống, số gà trống chọn sẽ bằng 10% số gà mái.
+ Đối với gà giống hướng thịt: Chọn gà mái có trọng lượng trung bình gần sát với trọng lượng trung bình của giống, chọn gà trống có trọng lượng từ cao trở xuống với ngoại hình cân đối, ức lớn, rộng, thế đứng hùng dũng, ức dốc ở góc khoảng 450 sẽ là những gà trống cho tỷ lệ thụ tinh cao hơn so với gà trống có ức nằm ngang.
- Lúc gà 19 tuần tuổi: Dựa vào các đặc điểm sinh dục thứ cấp như, mồng tích phát triển, màu đỏ tươi, lông óng mượt, cánh ép sát thân.
2. Chế độ chiếu sáng của gà hậu bị
- Thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn hậu bị ảnh hưởng lớn đến tuổi đẻ trứng đầu tiên. Tăng thời gian chiếu sáng trong giai đoạn hậu bị sẽ dẫn đến tình trạng phát dục sớm. Gà đẻ quá sớm khi cơ thể chưa phát triển đầy đủ về thể chất nên trứng sẽ nhỏ và thời gian khai thác trứng ngắn, năng suất trứng không đạt đỉnh cao, gây tổn hại về kinh tế.
- Chế độ chiếu sáng cho gà trong giai đoạn hậu bị trung bình là 10 giờ /ngày. Nếu ánh sáng tự nhiên tăng hay giảm không phù hợp với chế độ chiếu sáng thì phải dùng rèm che hoặc chiếu sáng bổ sung cho đủ.

3. Chế độ định mức ăn cho gà hậu bị
- Nhu cầu dinh dưỡng: Năng lượng trao đổi tối thiểu từ 2750 Kcal/kg đến 2850 Kcal/kg; Đạm từ 16 – 18%
- Thay thức ăn dần (trong 1 tuần) từ thức ăn của gà con sang thức ăn gà dò, và từ thức ăn của gà dò sang thức ăn gà đẻ vào các tuần tuổi thích hợp.
- Hạn chế số lượng thức ăn hàng ngày từ 5 tuần tuổi. Khống chế thức ăn để gà đạt khối lượng chuẩn. Thức ăn hàng ngày có thể giảm 20 – 30% tùy vào mức sinh trưởng của gà.
- Thường Xuyên bổ xung 
chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái nhằm tăng lượng khoáng chất, giúp cho gà hậu bị sẵn sàng tham gia quá trình sinh sản.

4. Chăm sóc và nuôi dưỡng
- Nhiệt độ: Nhiệt độ chuồng nuôi ảnh hưởng đến lượng thức ăn hàng ngày và mức độ sinh trưởng của đàn gà, từ đó sẽ ảnh hưởng đến tuổi thành thục và năng suất trứng sau này. Nhiệt độ thích hợp cho gà giống hậu bị sau 2 -3 tuần úm ở khoảng 21 – 270C, tùy theo điều kiện khí hậu mà có thể tăng hoặc giảm.
- Ẩm độ: Ẩm độ thích hợp cho sự phát triển của gà hậu bị trong khoảng 50 – 75%. Với mức ẩm độ này sẽ dễ cho việc quản lý điều kiện vệ sinh chuồng trại, gà khỏe mạnh.
- Mật độ:
Mật độ nuôi dưỡng gà hậu bị
5. Quy trình phòng bệnh
- Phòng bệnh bằng kháng sinh: nên sử dụng định kỳ để phòng một số bệnh thường gặp đối với gia cầm như thương hàn, CRD, tụ huyết trùng, E.coli và bệnh cầu trùng nếu nuôi nền. Nên sử dụng kháng sinh đặc hiệu trộn trong thức ăn hoặc hòa vào nước uống trong thời gian 3 -5 ngày.
- Phòng bệnh bằng vacxin: Quy trình mẫu sau đây được áp dụng rộng rãi để phòng ngừa một số bệnh truyền nhiễm thường gặp:
Quy trình phòng bệnh cho gà hậu bị
Đọc thêm
Chẩn đoán bệnh viêm vú là giai đoạn quyết định để khống chế sự nhiễm trùng trên bầu vú. Chẩn đoán sớm sẽ giúp điều trị nhanh chóng, gia súc mau lành bệnh và hạn chế thiệt hại do các biến chứng của bệnh viêm vú. Để chẩn đoán và xác định bệnh viêm vú, cần phải:
– Kiểm tra sữa và dịch tiết trong sữa: được đánh giá qua các chỉ tiêu về màu sắc, mùi và sản lượng sữa giảm để xác định thể viêm và mức độ viêm.
– Kiểm tra qua triệu chứng lâm sàng trên bầu vú: là biện pháp đơn giản, ít tốn kém nhưng rất quan trọng để xác định bệnh viêm vú trên bò sữa.
Cách làm: kiểm tra những biến đổi bất thường về màu sắc, hình dáng, kích thước của bầu vú, đầu núm vú, lổ tiết sữa, sự phát triển hệ thống mạch máu trên bầu vú qua việc quan sát bằng mắt, sờ nắn bầu vú để sớm phát hiện các ổ viêm trên bầu vú.
Tuy nhiên, đối với trường hợp viêm vú tiềm ẩn hoặc viêm vú lâm sàng thể nhẹ rất khó phát hiện bằng mắt thường hoặc thông qua việc sờ khám bầu vú. Các nông hộ chăn nuôi có thể áp dụng các phương pháp sau đây để chẩn đoán nhanh bệnh viêm vú tiềm ẩn trên bò sữa:

1. Phương pháp thử cồn 70-75 độ: dựa vào nguyên tắc chất đạm trong môi trường acid sẽ bị tủa bởi cồn. Tỷ lệ cồn và sữa là 1:1.
Cách tiến hành:
Bước 1: cho 2ml sữa vào 2ml cồn 70 chứa trong ống nghiệm.
Bước 2: lắc nhẹ, sau đó quan sát trên thành ống nghiệm.
Bước 3: đọc kết quả:
– Có mãng bám lợn cợn trên thành ống nghiệm: khả năng bò bị nhiễm bệnh.
– Dung dịch đồng nhất: bò không có bệnh.

2. Phương pháp thử CMT ( California Mastitis Test): là phương pháp nhằm phát hiện bệnh viêm vú qua số lượng tế bào bạch cầu trong 1ml sữa. Tỷ lệ sữa và dung dịch CMT là 1:1.
Cách tiến hành:
Bước 1: lau sạch núm vú trước khi vắt sữa.
Bước 2: vắt sữa của 4 núm vú vào 4 đĩa Pétri khác nhau, mỗi đĩa lấy 2ml sữa.
Bước 3: cho 2ml dung dịch CMT vào từng đĩa.
Bước 4: xoay tròn đĩa, đặt đĩa Pétri trên nền hơi tối để quan sát.
Bước 5: đọc kết quả dựa trên sự đóng vón và thay đổi màu sắc của hỗn hợp.
Kết quả:
– Bò bị nhiễm bệnh: trên 800.000 tế bào bạch cầu/ 1ml sữa.
– Bò khỏe mạnh: dưới 300.000 tế bào bạch cầu/ 1ml sữa.

3. Phương pháp thử Blue Methylen: dựa vào nguyên tắc nếu cho chất màu vào sữa thì chất màu sẽ thay đổi, tùy theo thời gian đổi màu có thể ước tính độ nhiễm vi sinh của sữa.
Cách tiến hành:
Bước 1: cho 10ml sữa và 1ml dung dịch Blue methylen vào trong ống nghiệm.
Bước 2: lắc nhẹ cho dung dịch trộn đều sau đó để vào tủ ấm 37C. Sau mỗi 1 giờ lắc nhẹ một lần.
Bước 3: đọc kết quả qua thời gian mất màu của dung dịch Blue methylen như sau:
+ Nếu mất màu trước 15 phút, sữa bị nhiễm vi sinh rất nặng.
+ Nếu mất màu sau 15 phút – 1 giờ, sữa bị nhiễm nặng.
+ Nếu mất màu sau 1 giờ – 3 giờ, sữa bị nhiễm nhẹ.
+ Nếu mất màu sau hơn 3 giờ, sữa xem là đạt trên tiêu chuẩn vi sinh.
Tuy nhiên phương pháp này chỉ xác định mức độ nhiễm vi sinh trong sữa. Để có thể xác định bò có bị bệnh viêm vú hay không, cần kết hợp với 2 phương pháp xét nghiệm trên.

Khi thấy kết quả khả nghi bệnh, nên cách ly bò bệnh để tránh sự lây lan cho bò khỏe, mời bác sĩ thú y đến để điều trị kịp thời.

DKT Biotech-VET- Chẩn đoán bệnh viêm vú trên bò sữa

Chẩn đoán bệnh viêm vú là giai đoạn quyết định để khống chế sự nhiễm trùng trên bầu vú. Chẩn đoán sớm sẽ giúp điều trị nhanh chóng, gia súc mau lành bệnh và hạn chế thiệt hại do các biến chứng của bệnh viêm vú. Để chẩn đoán và xác định bệnh viêm vú, cần phải:
– Kiểm tra sữa và dịch tiết trong sữa: được đánh giá qua các chỉ tiêu về màu sắc, mùi và sản lượng sữa giảm để xác định thể viêm và mức độ viêm.
– Kiểm tra qua triệu chứng lâm sàng trên bầu vú: là biện pháp đơn giản, ít tốn kém nhưng rất quan trọng để xác định bệnh viêm vú trên bò sữa.
Cách làm: kiểm tra những biến đổi bất thường về màu sắc, hình dáng, kích thước của bầu vú, đầu núm vú, lổ tiết sữa, sự phát triển hệ thống mạch máu trên bầu vú qua việc quan sát bằng mắt, sờ nắn bầu vú để sớm phát hiện các ổ viêm trên bầu vú.
Tuy nhiên, đối với trường hợp viêm vú tiềm ẩn hoặc viêm vú lâm sàng thể nhẹ rất khó phát hiện bằng mắt thường hoặc thông qua việc sờ khám bầu vú. Các nông hộ chăn nuôi có thể áp dụng các phương pháp sau đây để chẩn đoán nhanh bệnh viêm vú tiềm ẩn trên bò sữa:

1. Phương pháp thử cồn 70-75 độ: dựa vào nguyên tắc chất đạm trong môi trường acid sẽ bị tủa bởi cồn. Tỷ lệ cồn và sữa là 1:1.
Cách tiến hành:
Bước 1: cho 2ml sữa vào 2ml cồn 70 chứa trong ống nghiệm.
Bước 2: lắc nhẹ, sau đó quan sát trên thành ống nghiệm.
Bước 3: đọc kết quả:
– Có mãng bám lợn cợn trên thành ống nghiệm: khả năng bò bị nhiễm bệnh.
– Dung dịch đồng nhất: bò không có bệnh.

2. Phương pháp thử CMT ( California Mastitis Test): là phương pháp nhằm phát hiện bệnh viêm vú qua số lượng tế bào bạch cầu trong 1ml sữa. Tỷ lệ sữa và dung dịch CMT là 1:1.
Cách tiến hành:
Bước 1: lau sạch núm vú trước khi vắt sữa.
Bước 2: vắt sữa của 4 núm vú vào 4 đĩa Pétri khác nhau, mỗi đĩa lấy 2ml sữa.
Bước 3: cho 2ml dung dịch CMT vào từng đĩa.
Bước 4: xoay tròn đĩa, đặt đĩa Pétri trên nền hơi tối để quan sát.
Bước 5: đọc kết quả dựa trên sự đóng vón và thay đổi màu sắc của hỗn hợp.
Kết quả:
– Bò bị nhiễm bệnh: trên 800.000 tế bào bạch cầu/ 1ml sữa.
– Bò khỏe mạnh: dưới 300.000 tế bào bạch cầu/ 1ml sữa.

3. Phương pháp thử Blue Methylen: dựa vào nguyên tắc nếu cho chất màu vào sữa thì chất màu sẽ thay đổi, tùy theo thời gian đổi màu có thể ước tính độ nhiễm vi sinh của sữa.
Cách tiến hành:
Bước 1: cho 10ml sữa và 1ml dung dịch Blue methylen vào trong ống nghiệm.
Bước 2: lắc nhẹ cho dung dịch trộn đều sau đó để vào tủ ấm 37C. Sau mỗi 1 giờ lắc nhẹ một lần.
Bước 3: đọc kết quả qua thời gian mất màu của dung dịch Blue methylen như sau:
+ Nếu mất màu trước 15 phút, sữa bị nhiễm vi sinh rất nặng.
+ Nếu mất màu sau 15 phút – 1 giờ, sữa bị nhiễm nặng.
+ Nếu mất màu sau 1 giờ – 3 giờ, sữa bị nhiễm nhẹ.
+ Nếu mất màu sau hơn 3 giờ, sữa xem là đạt trên tiêu chuẩn vi sinh.
Tuy nhiên phương pháp này chỉ xác định mức độ nhiễm vi sinh trong sữa. Để có thể xác định bò có bị bệnh viêm vú hay không, cần kết hợp với 2 phương pháp xét nghiệm trên.

Khi thấy kết quả khả nghi bệnh, nên cách ly bò bệnh để tránh sự lây lan cho bò khỏe, mời bác sĩ thú y đến để điều trị kịp thời.
Đọc thêm
Chăm sóc heo nái trước, trong và sau khi đẻ có vai trò quan trọng với việc nâng cao năng suất chăn nuôi.
Chuẩn bị trước khi nái đẻ
– Trước sinh 2 – 3 ngày phải giảm thức ăn xuống còn 1 kg/nái/ngày. Tắm heo nái sạch sẽ 2 – 3 ngày trước ngày đẻ. Dọn sạch và sát trùng kỹ lưỡng chuồng nái đẻ. Đặt các tấm lót vào ô úm heo con và chuẩn bị bóng đèn sưởi ấm.
– Nên cắt sạch lông đuôi heo nái 3 – 4 ngày trước đẻ để giữ vệ sinh.
– Chuẩn bị những tấm vải sạch để lau heo con khi mới sinh,thuốc sát trùng, thuốc thú y, kềm bấm răng, kéo cắt rốn, chỉ buộc rốn, tất cả dụng cụ phải được sát trùng kỹ lưỡng.

Can thiệp khi heo đẻ

– Thông thường mỗi 15 – 20 phút nái đẻ 1 con hoặc có khi nái đẻ liên tiếp nhiều con rồi ngưng một thời gian mới đẻ tiếp. Khoảng từ 3 – 4 giờ nái sẽ sinhxong. Nhau được tống ra sau cùng, số heo con bằng với số cuống nhau.
– Nái sắp sinh thường bồn chồn, đi lại không nằm yên, hay đi tiêu, đi tiểu nhiều lần. Nặn các đầu vú nếu có sữa non bắn thành tia thì khoảng 2 giờ nữa là nái sinh. Khi có nước nhờn và phân su chảy ra từ âm hộ thì khoảng nửa giờ sau nái sẽ sinh. Khi nái nằm nghiêng, rặn từng con dài, ngoắc đuôi liên tục thì chỉ vài phút là con heo đầu tiên được sinh ra. Phải giữ thật yên tĩnh trong chuồng nái sinh để tránh gây ra stress làm heo nái ngưng rặn.
– Kinh nghiệm thực tế: Khi nái cho con bú mà đuôi buông thòng xuống thì xem như không bị sót con hoặc sót nhau. Trái lại, khi cho con bú, heo nái vẫn cong đuôi và có những cơn rặn thì còn sót con hoặc sót nhau. Thường là sót con nhiều hơn sót nhau.
– Dùng khăn vải mềm lau khô dịch nhờn cho heo con ngay sau khi sinh, xách hai chân sau dốc ngược đầu xuống dưới cho nước nhờn trong xoang miệng và mũi chảy ra ngoài.
– Dùng chỉ cột rốn cách thành bụng 2,5 – 3 cm và cắt rốn cách chỗ cột 1 cm. Chỉ cột rốn và kéo phải được sát trùng bằng thuốc sát trùng trước. Sau khi cắt rốn phải kiểm tra xem có rỉ máu hay không, nếu có thì phải cột lại. Nếu có bột ủ ấm thì nhúng heo con vào để ủ ấm.


– Trường hợp heo con sinh ra đã bị đứt cuống rốn trước thì phải nắm chặt cuống rốn để tránh chảy máu rồi mới cột rốn sau.
– Heo nái sinh khó do xương chậu hẹp, heo con quá lớn, do thai chết hoặc nái rặn yếu… ở nái đẻ lứa đầu hoặc những nái già. Nái già thường đẻ chậm do rặn yếu hoặc nằm ngủ khi đẻ. Nếu do khô thai, thai quá lớn thì thường quá ngày dự sinh trên 2 ngày. Khi nước ối và phân su chảy ra trên nửa giờ và heo nái rặn từng cơn dài mà vẫn chưa sinh thì đó là biểu hiện của sinh khó. Phải thăm khám để kiểm tra và dùng tay để phụ kéo thai ra, nếu xương chậu hẹp thì đừng cố can thiệp nữa mà phải nhờ thú y có tay nghề mổ bắt con ra.
– Heo con đẻ ra còn nằm trong bọc, cần nhanh chóng xé bọc để không bị chết ngạt. Nếu heo con bị ngạt, phải nhanh chóng lau sạch nhớt trong miệng, mở rộng miệng và dùng tay xoa bóp lồng ngực 60 lần/phút để hỗ trợ hô hấp
Chăm sóc heo con theo mẹ

– Sưởi ấm cho heo con: Nhiệt độ thích hợp cho heo con sơ sinh ngày đầu lọt lòng mẹ là 350C. Cứ mỗi ngày sau đó giảm đi 20C, đến ngày thứ 8 trở đi nhiệt độ trong ô úm chỉ còn 23 – 250C.
– Dùng khăn ấm lau sạch bầu vú trước khi cho heo con bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Những heo nhỏ nên cho bú các hàng vú phía trước để heo con phát triển đồng đều.
– Một ngày sau khi sinh heo được cắt bỏ 8 răng nhằm tránh gây đau vú mẹ khi bú và cắt đuôi để ngăn ngừa heo cắn đuôi.
– Tiêm chất sắt cho heo con để ngừa bệnh thiếu máu và tiêu chảy lúc heo con được 3 ngày tuổi
– Ngừa bệnh hô hấp cho heo con: Tiêm vắc-xin ngừa các bệnh hô hấp cho heo con
– Lúc heo con được 3 – 5 ngày tuổi cho uống 1 ml thuốc phòng bệnh cầu trùng.
– Đối với những heo đực không để làm giống thì thiến lúc 7 ngày tuổi.
– Tập ăn sớm cho heo con lúc 10 – 15 ngày tuổi và cai sữa cho heo con khi được 28 ngày tuổi.

Những trục trặc trên heo nái sau khi sinh và cách can thiệp

– Xuất huyết làm sưng mép âm hộ: Thỉnh thoảng xảy ra ở nái đẻ lứa đầu, đôi khi cũng thấy ở lứa đẻ thứ hai.
– Heo nái cắn con, không cho con bú: Can thiệp bằng cách tiêm một mũi thuốc an thần, dùng một trong các loại thuốc sau: Combistress: 0,1 – 0,2ml/10kg thể trọng, tiêm bắp, hoặc Komiserastress: 1 – 2ml/100kg thể trọng, tiêm bắp hoặc thuốc Acepril 10: 0,25 – 0,50ml/50kg thể trọng, tiêm bắp. Heo nái sẽ nằm yên trong vòng 15 – 30 phút sau khi tiêm, thả heo con vào để cho bú.

- Cách can thiệp: Tiêm cho heo nái một mũi thuốc an thần, khớp mõm heo nái lại, vệ sinh sạch sẽ vùng âm hộ, sau đó tiêm thuốc tê kết hợp với Epinephrine chung quanh âm hộ. Dùng gạc xếp nhỏ thành sợi dây đặt giữa hai mép âm hộ rồi quấn quanh về phía trước vùng mép có bọc máu và cột chặt theo kiểu cột ga-rô. Một thời gian thì máu sẽ ngưng chảy. Nếu không hiệu quả thì dùng chỉ không tiêu và kim cong để may đường may nệm nằm phía sau bọc máu và buộc chặt lại. Nếu máu vẫn còn chảy thì phải mổ bọc máu ra, lau sạch bên trong để tìm xem chỗ mạch máu đứt rồi dùng chỉ tiêu để cột lại, may vết mổ trên âm hộ với chỉ ny lông, tiêm kháng sinh

DKT Biotech-VET- Chăm sóc heo nái mới sinh đúng kỹ thuật

Chăm sóc heo nái trước, trong và sau khi đẻ có vai trò quan trọng với việc nâng cao năng suất chăn nuôi.
Chuẩn bị trước khi nái đẻ
– Trước sinh 2 – 3 ngày phải giảm thức ăn xuống còn 1 kg/nái/ngày. Tắm heo nái sạch sẽ 2 – 3 ngày trước ngày đẻ. Dọn sạch và sát trùng kỹ lưỡng chuồng nái đẻ. Đặt các tấm lót vào ô úm heo con và chuẩn bị bóng đèn sưởi ấm.
– Nên cắt sạch lông đuôi heo nái 3 – 4 ngày trước đẻ để giữ vệ sinh.
– Chuẩn bị những tấm vải sạch để lau heo con khi mới sinh,thuốc sát trùng, thuốc thú y, kềm bấm răng, kéo cắt rốn, chỉ buộc rốn, tất cả dụng cụ phải được sát trùng kỹ lưỡng.

Can thiệp khi heo đẻ

– Thông thường mỗi 15 – 20 phút nái đẻ 1 con hoặc có khi nái đẻ liên tiếp nhiều con rồi ngưng một thời gian mới đẻ tiếp. Khoảng từ 3 – 4 giờ nái sẽ sinhxong. Nhau được tống ra sau cùng, số heo con bằng với số cuống nhau.
– Nái sắp sinh thường bồn chồn, đi lại không nằm yên, hay đi tiêu, đi tiểu nhiều lần. Nặn các đầu vú nếu có sữa non bắn thành tia thì khoảng 2 giờ nữa là nái sinh. Khi có nước nhờn và phân su chảy ra từ âm hộ thì khoảng nửa giờ sau nái sẽ sinh. Khi nái nằm nghiêng, rặn từng con dài, ngoắc đuôi liên tục thì chỉ vài phút là con heo đầu tiên được sinh ra. Phải giữ thật yên tĩnh trong chuồng nái sinh để tránh gây ra stress làm heo nái ngưng rặn.
– Kinh nghiệm thực tế: Khi nái cho con bú mà đuôi buông thòng xuống thì xem như không bị sót con hoặc sót nhau. Trái lại, khi cho con bú, heo nái vẫn cong đuôi và có những cơn rặn thì còn sót con hoặc sót nhau. Thường là sót con nhiều hơn sót nhau.
– Dùng khăn vải mềm lau khô dịch nhờn cho heo con ngay sau khi sinh, xách hai chân sau dốc ngược đầu xuống dưới cho nước nhờn trong xoang miệng và mũi chảy ra ngoài.
– Dùng chỉ cột rốn cách thành bụng 2,5 – 3 cm và cắt rốn cách chỗ cột 1 cm. Chỉ cột rốn và kéo phải được sát trùng bằng thuốc sát trùng trước. Sau khi cắt rốn phải kiểm tra xem có rỉ máu hay không, nếu có thì phải cột lại. Nếu có bột ủ ấm thì nhúng heo con vào để ủ ấm.


– Trường hợp heo con sinh ra đã bị đứt cuống rốn trước thì phải nắm chặt cuống rốn để tránh chảy máu rồi mới cột rốn sau.
– Heo nái sinh khó do xương chậu hẹp, heo con quá lớn, do thai chết hoặc nái rặn yếu… ở nái đẻ lứa đầu hoặc những nái già. Nái già thường đẻ chậm do rặn yếu hoặc nằm ngủ khi đẻ. Nếu do khô thai, thai quá lớn thì thường quá ngày dự sinh trên 2 ngày. Khi nước ối và phân su chảy ra trên nửa giờ và heo nái rặn từng cơn dài mà vẫn chưa sinh thì đó là biểu hiện của sinh khó. Phải thăm khám để kiểm tra và dùng tay để phụ kéo thai ra, nếu xương chậu hẹp thì đừng cố can thiệp nữa mà phải nhờ thú y có tay nghề mổ bắt con ra.
– Heo con đẻ ra còn nằm trong bọc, cần nhanh chóng xé bọc để không bị chết ngạt. Nếu heo con bị ngạt, phải nhanh chóng lau sạch nhớt trong miệng, mở rộng miệng và dùng tay xoa bóp lồng ngực 60 lần/phút để hỗ trợ hô hấp
Chăm sóc heo con theo mẹ

– Sưởi ấm cho heo con: Nhiệt độ thích hợp cho heo con sơ sinh ngày đầu lọt lòng mẹ là 350C. Cứ mỗi ngày sau đó giảm đi 20C, đến ngày thứ 8 trở đi nhiệt độ trong ô úm chỉ còn 23 – 250C.
– Dùng khăn ấm lau sạch bầu vú trước khi cho heo con bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Những heo nhỏ nên cho bú các hàng vú phía trước để heo con phát triển đồng đều.
– Một ngày sau khi sinh heo được cắt bỏ 8 răng nhằm tránh gây đau vú mẹ khi bú và cắt đuôi để ngăn ngừa heo cắn đuôi.
– Tiêm chất sắt cho heo con để ngừa bệnh thiếu máu và tiêu chảy lúc heo con được 3 ngày tuổi
– Ngừa bệnh hô hấp cho heo con: Tiêm vắc-xin ngừa các bệnh hô hấp cho heo con
– Lúc heo con được 3 – 5 ngày tuổi cho uống 1 ml thuốc phòng bệnh cầu trùng.
– Đối với những heo đực không để làm giống thì thiến lúc 7 ngày tuổi.
– Tập ăn sớm cho heo con lúc 10 – 15 ngày tuổi và cai sữa cho heo con khi được 28 ngày tuổi.

Những trục trặc trên heo nái sau khi sinh và cách can thiệp

– Xuất huyết làm sưng mép âm hộ: Thỉnh thoảng xảy ra ở nái đẻ lứa đầu, đôi khi cũng thấy ở lứa đẻ thứ hai.
– Heo nái cắn con, không cho con bú: Can thiệp bằng cách tiêm một mũi thuốc an thần, dùng một trong các loại thuốc sau: Combistress: 0,1 – 0,2ml/10kg thể trọng, tiêm bắp, hoặc Komiserastress: 1 – 2ml/100kg thể trọng, tiêm bắp hoặc thuốc Acepril 10: 0,25 – 0,50ml/50kg thể trọng, tiêm bắp. Heo nái sẽ nằm yên trong vòng 15 – 30 phút sau khi tiêm, thả heo con vào để cho bú.

- Cách can thiệp: Tiêm cho heo nái một mũi thuốc an thần, khớp mõm heo nái lại, vệ sinh sạch sẽ vùng âm hộ, sau đó tiêm thuốc tê kết hợp với Epinephrine chung quanh âm hộ. Dùng gạc xếp nhỏ thành sợi dây đặt giữa hai mép âm hộ rồi quấn quanh về phía trước vùng mép có bọc máu và cột chặt theo kiểu cột ga-rô. Một thời gian thì máu sẽ ngưng chảy. Nếu không hiệu quả thì dùng chỉ không tiêu và kim cong để may đường may nệm nằm phía sau bọc máu và buộc chặt lại. Nếu máu vẫn còn chảy thì phải mổ bọc máu ra, lau sạch bên trong để tìm xem chỗ mạch máu đứt rồi dùng chỉ tiêu để cột lại, may vết mổ trên âm hộ với chỉ ny lông, tiêm kháng sinh
Đọc thêm