Hội chứng MMA ở heo nái

Bệnh mất sữa
Nguyên nhân:
Do kế phát bệnh viêm tử cung, sót nhau gây sốt, kế phát bệnh viêm vú.
Do cơ thể mẹ bị thiếu dinh dưỡng.
Do cơ quan nội tiết hoạt động kém.
Triệu chứng:
Vú không trương to, vắt sữa không thấy chảy ra. Khi bú heo con la nhiều, chạy qua chạy lại.
Phòng bệnh: Thức ăn đầy đủ dinh dưỡng Phòng bệnh viêm tử cung, viêm vú. Catosal 10%: 10 – 20ml/nái trước khi sinh 10 – 14 ngày.
Điều trị: Catosal 10%: 20ml/nái, 3 lần, mỗi lần cách nhau 3 ngày.
Truyền nước sinh lý ngọt Glucose 5% pha thêm vitamin B12 … cấp thuốc bằng đường xoang bụng hay tĩnh mạch. Gluconate Calci 10% Bomgalactogen: 10ml/con/ngày hoặc Thyroxin: 2mg/ngày, kết hợp với oxytocin: 10 UI/nái/ngày.

Bệnh viêm vú:
Thường xảy ra sau khi đẻ 4 – 5 giờ trở đi.
Nguyên nhân:
Do kế phát bệnh viêm tử cung, sót nhau sau khi đẻ.
Do nhiễm trùng từ môi trường vào vú gây viêm (thường do heo con làm sây sát núm vú và gây nhiễm trùng).
Do sữa quá nhiều, con bú không hết hoặc hàng vú bị che khuất dưới nền heo con bú ít làm căng sữa gây viêm.
Sau khi sinh hàm lượng Canxi huyết của heo mẹ quá thấp dẫn đến bị sốt sữa.
Triệu chứng:
Sau khi đẻ 1 – 2 ngày thấy xuất hiện những vú sưng đỏ, thường thấy đối xứng giữa hai hàng vú, sờ có cảm giác nóng, ấn vào nái có phản ứng đau. Nếu viêm nặng nái bỏ ăn, không cho con bú, sốt 40,5oC – 42 oC, vắt sữa ở những vú viêm thấy sữa bị vón cục. Vú viêm lan sang các vú khác rất nhanh. Nếu không điều trị kịp thời sẽ làm mất sữa và xơ hoá nang tuyến, mất khả năng tạo sữa.
Trong trường hợp canxi huyết thấp dẫn đến bị sốt sữa, lúc này thấy tất cả các vú đều bị viêm sưng đỏ.
Phòng bệnh:
Bấm răng heo con lúc mới sinh Multibio: 1ml/10 kg trọng lượng, không quá 15ml/nái/lần/ngày (2 ngày) sau khi sinh.
Vệ sinh chuồng trại, vệ sinh bầu vú sạch cho nái trước khi sinh bằng virkon tỷ lệ 1:400. chích Catosal 10% với 20ml/nái 10 – 14 ngày trước khi sinh để phòng MMA.
Bơm rửa tử cung sau khi sinh: khoảng 5 – 6 lần trong 3 ngày.
Thức ăn có chất lượng tốt (tránh hiện tượng thiếu canxi).
Điều trị: Chọn một trong những loại kháng sinh sau đây: Baytril 5%: 1ml/20 kg trọng lượng Codexin: 1ml/10 kg trọng lượng Genta – Tylosin: 1ml/20 kg trọng lượng.
Bệnh viêm tử cung
Nguyên nhân: Do sây sát niêm mạc tử cung khi sinh đẻ, hay do thao tác đỡ đẻ, do sót nhau, nhau bị thối rữa.
Triệu chứng:
Sau khi sinh 1 – 2 ngày, nái ít ăn, sốt cao 40,5 oC - 41 oC, nằm một chỗ, có dịch trắng chảy ra ở âm hộ, có khi lợn cợn màu hồng mùi hôi tanh.
Phòng bệnh:
Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ bằng virkon tỷ lệ 1:400.
Khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng tay thật kỹ.
Sau khi đẻ thụt rữa tử cung 5 – 6 lần, trong vòng 3 ngày với dung dịch thuốc tím 1% hoặc 10ml Terravet/2 lít/lần rửa.
Điều trị:
Dùng nước có pha thuốc tím 1% thụt rửa tử cung.
Lưu ý: Tuỳ diễn biến của bệnh, sử dụng các loại thuốc sau đây để điều trị: Hạ sốt: Analgine C Kháng viêm: Dexamethasol, Hydrocortisol Dùng 1 liều nhẹ oxytocin 10 – 15 UI/nái.
Kháng sinh: các loại kháng sinh giống phần bệnh viêm vú.  

BiotechVET tổng hợp

DKT Biotech-VET- Hội chứng MMA ở heo nái

 Hội chứng MMA ở heo nái

Bệnh mất sữa
Nguyên nhân:
Do kế phát bệnh viêm tử cung, sót nhau gây sốt, kế phát bệnh viêm vú.
Do cơ thể mẹ bị thiếu dinh dưỡng.
Do cơ quan nội tiết hoạt động kém.
Triệu chứng:
Vú không trương to, vắt sữa không thấy chảy ra. Khi bú heo con la nhiều, chạy qua chạy lại.
Phòng bệnh: Thức ăn đầy đủ dinh dưỡng Phòng bệnh viêm tử cung, viêm vú. Catosal 10%: 10 – 20ml/nái trước khi sinh 10 – 14 ngày.
Điều trị: Catosal 10%: 20ml/nái, 3 lần, mỗi lần cách nhau 3 ngày.
Truyền nước sinh lý ngọt Glucose 5% pha thêm vitamin B12 … cấp thuốc bằng đường xoang bụng hay tĩnh mạch. Gluconate Calci 10% Bomgalactogen: 10ml/con/ngày hoặc Thyroxin: 2mg/ngày, kết hợp với oxytocin: 10 UI/nái/ngày.

Bệnh viêm vú:
Thường xảy ra sau khi đẻ 4 – 5 giờ trở đi.
Nguyên nhân:
Do kế phát bệnh viêm tử cung, sót nhau sau khi đẻ.
Do nhiễm trùng từ môi trường vào vú gây viêm (thường do heo con làm sây sát núm vú và gây nhiễm trùng).
Do sữa quá nhiều, con bú không hết hoặc hàng vú bị che khuất dưới nền heo con bú ít làm căng sữa gây viêm.
Sau khi sinh hàm lượng Canxi huyết của heo mẹ quá thấp dẫn đến bị sốt sữa.
Triệu chứng:
Sau khi đẻ 1 – 2 ngày thấy xuất hiện những vú sưng đỏ, thường thấy đối xứng giữa hai hàng vú, sờ có cảm giác nóng, ấn vào nái có phản ứng đau. Nếu viêm nặng nái bỏ ăn, không cho con bú, sốt 40,5oC – 42 oC, vắt sữa ở những vú viêm thấy sữa bị vón cục. Vú viêm lan sang các vú khác rất nhanh. Nếu không điều trị kịp thời sẽ làm mất sữa và xơ hoá nang tuyến, mất khả năng tạo sữa.
Trong trường hợp canxi huyết thấp dẫn đến bị sốt sữa, lúc này thấy tất cả các vú đều bị viêm sưng đỏ.
Phòng bệnh:
Bấm răng heo con lúc mới sinh Multibio: 1ml/10 kg trọng lượng, không quá 15ml/nái/lần/ngày (2 ngày) sau khi sinh.
Vệ sinh chuồng trại, vệ sinh bầu vú sạch cho nái trước khi sinh bằng virkon tỷ lệ 1:400. chích Catosal 10% với 20ml/nái 10 – 14 ngày trước khi sinh để phòng MMA.
Bơm rửa tử cung sau khi sinh: khoảng 5 – 6 lần trong 3 ngày.
Thức ăn có chất lượng tốt (tránh hiện tượng thiếu canxi).
Điều trị: Chọn một trong những loại kháng sinh sau đây: Baytril 5%: 1ml/20 kg trọng lượng Codexin: 1ml/10 kg trọng lượng Genta – Tylosin: 1ml/20 kg trọng lượng.
Bệnh viêm tử cung
Nguyên nhân: Do sây sát niêm mạc tử cung khi sinh đẻ, hay do thao tác đỡ đẻ, do sót nhau, nhau bị thối rữa.
Triệu chứng:
Sau khi sinh 1 – 2 ngày, nái ít ăn, sốt cao 40,5 oC - 41 oC, nằm một chỗ, có dịch trắng chảy ra ở âm hộ, có khi lợn cợn màu hồng mùi hôi tanh.
Phòng bệnh:
Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ bằng virkon tỷ lệ 1:400.
Khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng tay thật kỹ.
Sau khi đẻ thụt rữa tử cung 5 – 6 lần, trong vòng 3 ngày với dung dịch thuốc tím 1% hoặc 10ml Terravet/2 lít/lần rửa.
Điều trị:
Dùng nước có pha thuốc tím 1% thụt rửa tử cung.
Lưu ý: Tuỳ diễn biến của bệnh, sử dụng các loại thuốc sau đây để điều trị: Hạ sốt: Analgine C Kháng viêm: Dexamethasol, Hydrocortisol Dùng 1 liều nhẹ oxytocin 10 – 15 UI/nái.
Kháng sinh: các loại kháng sinh giống phần bệnh viêm vú.  

BiotechVET tổng hợp
Đọc thêm
Là một trong những giống heo cho chất lượng thịt ngon, năng suất cao mà lại ít mắc phải bệnh tật, làm giàu từ chăn nuôi heo đen đang là mô hình được nhiều bà con nông dân tìm đến. Vậy kỹ thuật chăn nuôi heo đen đòi hỏi những yêu cầu gì?

1. Lựa chọn giống
Trước khi bắt tay vào mô hình làm giàu từ chăn nuôi heo đen, bà con cần tìm hiểu một vài thông tin về loài heo này.
Theo đó, đây là một trong những giống heo có sức đề kháng tốt, không kén thức ăn, dễ nuôi, dễ thích nghi với mọi điều kiện sống, nhất là những nơi rộng rãi, thoáng mát.
Khi chọn giống nuôi, bà con cần chú ý lựa chọn những con có đầu nhỏ, lưng thẳng, ngực sâu, hông to, lông mịn, nhanh nhẹn và đặc biệt là có màu đen đặc trưng. Tốt nhất bà con nên lựa chọn giống heo ở những cơ sở uy tín, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

2. Xây dựng chuồng trại
Với bất cứ mô hình làm giàu từ chăn nuôi heo nào, khâu xây dựng chuồng trại cũng cần được quan tâm đúng mức. Với heo đen, bà con cần chú ý đến những nét thiết kế mang đặc trưng rất riêng.
Đầu tiên, do quen sống trong môi trường tự nhiên nên khi xây chuồng nuôi heo đen, bà con cần chú ý đến việc lựa chọn địa điểm sao cho đảm bảo rộng rãi, thoáng mát, giúp heo có điều kiện sinh trưởng, phát triển tốt nhất. Chuồng nuôi cần có mái che, các chuồng liền kề nhau, có khoảng trống giúp heo có thể có không gian sưởi nắng. Ngoài ra, bà con có thể thiết kế một hồ nước nhỏ trong sân, giúp heo có thể tắm và vui chơi.
3. Chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng
Khi thực hiện mô hình làm giàu từ chăn nuôi heo đen, bà con nên chú ý đến chế độ dinh dưỡng cho heo. Mặc dù là loài động vật không kén ăn, tuy nhiên nếu chế độ ăn không đảm bảo, heo sẽ dễ mắc bệnh, nhất là tiêu chảy.
Thức ăn cho heo đen gồm có các loại rau xanh, ngô, sắn… Ngoài ra, bà con có thể bổ sung men ủ vi sinh NN1 để làm chín thức ăn tự nhiên, giúp heo hấp thụ thức ăn tốt nhất. Khi cho heo ăn, bà con nên chia thành 2 bữa với lượng thức ăn cân đối với độ tuổi heo.
4. Phòng bệnh trong chăn nuôi heo đen
Mô hình làm giàu từ chăn nuôi heo đen có thể thất bại nếu heo mắc phải dịch bệnh. Do đó, bà con cần lên một kế hoạch chăm sóc rõ ràng để đảm bảo sức khỏe cho heo một cách tốt nhất. Khi bắt tay vào việc chăn nuôi, bà con cần sắm một cuốn sổ để theo dõi tình trạng heo, lịch tiêm phòng, lịch tẩy giun… Nếu phát hiện heo có dấu hiệu bất thường, bà con cần tìm hiểu bệnh để chữa trị kịp thời, tránh tình trạng dịch bệnh lây lan trên diện rộng.
Thực tế, việc làm giàu từ chăn nuôi heo đen là điều không hề khó. Bà con chỉ cần tìm hiểu những kỹ thuật cơ bản, áp dụng hợp lý là sẽ có được đàn heo với chất lượng cao nhất, mang lại hiệu quả kinh tế như mong đợi.

DKT Biotech-VET- Kỹ thuật chăn nuôi heo đen

Là một trong những giống heo cho chất lượng thịt ngon, năng suất cao mà lại ít mắc phải bệnh tật, làm giàu từ chăn nuôi heo đen đang là mô hình được nhiều bà con nông dân tìm đến. Vậy kỹ thuật chăn nuôi heo đen đòi hỏi những yêu cầu gì?

1. Lựa chọn giống
Trước khi bắt tay vào mô hình làm giàu từ chăn nuôi heo đen, bà con cần tìm hiểu một vài thông tin về loài heo này.
Theo đó, đây là một trong những giống heo có sức đề kháng tốt, không kén thức ăn, dễ nuôi, dễ thích nghi với mọi điều kiện sống, nhất là những nơi rộng rãi, thoáng mát.
Khi chọn giống nuôi, bà con cần chú ý lựa chọn những con có đầu nhỏ, lưng thẳng, ngực sâu, hông to, lông mịn, nhanh nhẹn và đặc biệt là có màu đen đặc trưng. Tốt nhất bà con nên lựa chọn giống heo ở những cơ sở uy tín, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

2. Xây dựng chuồng trại
Với bất cứ mô hình làm giàu từ chăn nuôi heo nào, khâu xây dựng chuồng trại cũng cần được quan tâm đúng mức. Với heo đen, bà con cần chú ý đến những nét thiết kế mang đặc trưng rất riêng.
Đầu tiên, do quen sống trong môi trường tự nhiên nên khi xây chuồng nuôi heo đen, bà con cần chú ý đến việc lựa chọn địa điểm sao cho đảm bảo rộng rãi, thoáng mát, giúp heo có điều kiện sinh trưởng, phát triển tốt nhất. Chuồng nuôi cần có mái che, các chuồng liền kề nhau, có khoảng trống giúp heo có thể có không gian sưởi nắng. Ngoài ra, bà con có thể thiết kế một hồ nước nhỏ trong sân, giúp heo có thể tắm và vui chơi.
3. Chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng
Khi thực hiện mô hình làm giàu từ chăn nuôi heo đen, bà con nên chú ý đến chế độ dinh dưỡng cho heo. Mặc dù là loài động vật không kén ăn, tuy nhiên nếu chế độ ăn không đảm bảo, heo sẽ dễ mắc bệnh, nhất là tiêu chảy.
Thức ăn cho heo đen gồm có các loại rau xanh, ngô, sắn… Ngoài ra, bà con có thể bổ sung men ủ vi sinh NN1 để làm chín thức ăn tự nhiên, giúp heo hấp thụ thức ăn tốt nhất. Khi cho heo ăn, bà con nên chia thành 2 bữa với lượng thức ăn cân đối với độ tuổi heo.
4. Phòng bệnh trong chăn nuôi heo đen
Mô hình làm giàu từ chăn nuôi heo đen có thể thất bại nếu heo mắc phải dịch bệnh. Do đó, bà con cần lên một kế hoạch chăm sóc rõ ràng để đảm bảo sức khỏe cho heo một cách tốt nhất. Khi bắt tay vào việc chăn nuôi, bà con cần sắm một cuốn sổ để theo dõi tình trạng heo, lịch tiêm phòng, lịch tẩy giun… Nếu phát hiện heo có dấu hiệu bất thường, bà con cần tìm hiểu bệnh để chữa trị kịp thời, tránh tình trạng dịch bệnh lây lan trên diện rộng.
Thực tế, việc làm giàu từ chăn nuôi heo đen là điều không hề khó. Bà con chỉ cần tìm hiểu những kỹ thuật cơ bản, áp dụng hợp lý là sẽ có được đàn heo với chất lượng cao nhất, mang lại hiệu quả kinh tế như mong đợi.
Đọc thêm

Bệnh Newcastle (dịch tả gà)
Bệnh do siêu vi trùng thuộc nhóm Paramysovirus là ARN Virus gây bệnh cho gà mọi lứa tuổi, đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết, viêm loét đường tiêu hóa. Bệnh lây lan nhanh gây thiệt hại nghiêm trọng, có thể đến 100% trên đàn gà bệnh.
Virus dễ bị diệt bởi thuốc sát trùng thông thường nhưng có thể tồn tại nhiều năm trong môi trường mát. Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp, tiêu hóa, do tiếp xúc gà bệnh.
Triệu chứng bệnh:
Thời kỳ nung bệnh thường là 5 ngày, nhưng có thể biến động từ 5 – 12 ngày.
+Thể quá cấp tính:
Thường xảy ra đầu ổ dịch, bệnh tiến triển nhanh, gà ủ rũ sau vài giờ rồi chết, không thể hiện triệu chứng của bệnh.
+Thể cấp tính:
Gà ủ rũ, ăn ít, uống nước nhiều, lông xù, gà bị sốt cao 42 – 43oC, hắt hơi, sổ mũi, thở khó trầm trọng, mào và yếm tím bầm, mũi chảy chất nhớt. 
Ở gà trưởng thành triệu chứng hô hấp không thấy rõ như gà giò. Ở gà đẻ sản lượng trứng giảm hoặc ngừng đẻ hoàn toàn sau khi nhiễm bệnh 7 – 21 ngày.
+ Thể mãn tính:
Xảy ra ở cuối dịch. Gà có triệu chứng thần kinh, cơ quan vận động bị tổn thương nặng. Con vật vặn đầu ra sau, đi thụt lùi, vòng tròn, mổ không đúng thức ăn, những cơn co giật thường xảy ra khi có kích thích. Chăm sóc tốt gà có thể khỏi, nhưng triệu chứng thần kinh vẫn còn, gà khỏi bệnh miễn dịch suốt đời.
Phòng trị bệnh 
Không có thuốc điều trị đặc hiệu. Nên bổ sung thêm vitamin C và vitamin nhóm B, cải thiện khẩu phần thức ăn có thể làm giảm bớt tỉ lệ tử vong trong giai đoạn cuối ổ dịch.

Bệnh viêm hô hấp mãn tính
Bệnh gây ra do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum. Bệnh không làm chết nhanh và nhiều, nhưng làm cho gà chậm lớn, giảm đẻ, trứng gà bệnh không ấp nở được, gây chết phôi. Bệnh lây lan qua đường hô hấp và đường sinh dục. Khi gà khỏi bệnh chúng mang trùng suốt đời nên gọi là hô hấp mãn tính.
Gà 2 – 4 tháng tuổi mắc bệnh nhiều nhất, gà nuôi công nghiệp hoặc nuôi mật độ cao dễ mắc bệnh hơn gà nuôi gia đình, mật độ nuôi thấp.
Triệu chứng:
Bệnh thường phát ra vào mùa đông, gà trống thường bị nhiễm nhẹ, tỉ lệ mắc bệnh lên đến 100%, nhưng tử số rất thấp. Bệnh thường nặng hơn khi nhiễm thêm các bệnh khác như Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm và E.Coli, tử số có thể lên đến 30%.
– Niêm mạc mắt đỏ, sung huyết, chảy nước mắt, nước mắt đặc dần, đóng dày khóe mắt, tích tụ fibrin ngày càng nhiều tạo thành những khối to bằng hạt đậu trong mắt có thể làm cho gà bị mù.
– Viêm mũi, chảy nước mũi, lúc đầu loãng sau đó đặc có màu trắng sữa bám đầy khóe mũi làm gà nghẹt thở.
– Vách các xoang nhất là xoang dưới mắt sưng làm cho mặt gà biến dạng. Đây là triệu chứng điển hình của bệnh. 
– Niêm mạc họng, hầu hết các túi khí bị viêm làm cho con vật khó thở, mào và yếm tím bầm, kiệt sức rồi chết.
Ngoài ra một số trường hợp gà bị viêm khớp, viêm bao màng hoạt dịch. Ngoài ra cũng có một số trường hợp gà có triệu chứng thần kinh. Trứng bị nhiễm khuẩn thì phôi bị chết trước khi nở ra, thường khoảng 10 – 30%.
Phòng bệnh:
Có thể sử dụng vaccine chết MG để phòng bệnh cho gà bằng cách tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Nhưng để thực hiện qui trình phòng bệnh bằng vaccine thì trại ấp phải nhận trứng từ những trại gà được kiểm tra là không bị nhiễm bệnh. Do đó việc phòng bằng vaccine tỏ ra không hiệu quả về mặt kinh tế mà ta nên dùng kháng sinh đặc trị cho gà trong vòng 10 ngày khi nở.

DKT Biotech-VET- Một số bệnh thường gặp ở gà mùa mưa


Bệnh Newcastle (dịch tả gà)
Bệnh do siêu vi trùng thuộc nhóm Paramysovirus là ARN Virus gây bệnh cho gà mọi lứa tuổi, đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết, viêm loét đường tiêu hóa. Bệnh lây lan nhanh gây thiệt hại nghiêm trọng, có thể đến 100% trên đàn gà bệnh.
Virus dễ bị diệt bởi thuốc sát trùng thông thường nhưng có thể tồn tại nhiều năm trong môi trường mát. Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp, tiêu hóa, do tiếp xúc gà bệnh.
Triệu chứng bệnh:
Thời kỳ nung bệnh thường là 5 ngày, nhưng có thể biến động từ 5 – 12 ngày.
+Thể quá cấp tính:
Thường xảy ra đầu ổ dịch, bệnh tiến triển nhanh, gà ủ rũ sau vài giờ rồi chết, không thể hiện triệu chứng của bệnh.
+Thể cấp tính:
Gà ủ rũ, ăn ít, uống nước nhiều, lông xù, gà bị sốt cao 42 – 43oC, hắt hơi, sổ mũi, thở khó trầm trọng, mào và yếm tím bầm, mũi chảy chất nhớt. 
Ở gà trưởng thành triệu chứng hô hấp không thấy rõ như gà giò. Ở gà đẻ sản lượng trứng giảm hoặc ngừng đẻ hoàn toàn sau khi nhiễm bệnh 7 – 21 ngày.
+ Thể mãn tính:
Xảy ra ở cuối dịch. Gà có triệu chứng thần kinh, cơ quan vận động bị tổn thương nặng. Con vật vặn đầu ra sau, đi thụt lùi, vòng tròn, mổ không đúng thức ăn, những cơn co giật thường xảy ra khi có kích thích. Chăm sóc tốt gà có thể khỏi, nhưng triệu chứng thần kinh vẫn còn, gà khỏi bệnh miễn dịch suốt đời.
Phòng trị bệnh 
Không có thuốc điều trị đặc hiệu. Nên bổ sung thêm vitamin C và vitamin nhóm B, cải thiện khẩu phần thức ăn có thể làm giảm bớt tỉ lệ tử vong trong giai đoạn cuối ổ dịch.

Bệnh viêm hô hấp mãn tính
Bệnh gây ra do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum. Bệnh không làm chết nhanh và nhiều, nhưng làm cho gà chậm lớn, giảm đẻ, trứng gà bệnh không ấp nở được, gây chết phôi. Bệnh lây lan qua đường hô hấp và đường sinh dục. Khi gà khỏi bệnh chúng mang trùng suốt đời nên gọi là hô hấp mãn tính.
Gà 2 – 4 tháng tuổi mắc bệnh nhiều nhất, gà nuôi công nghiệp hoặc nuôi mật độ cao dễ mắc bệnh hơn gà nuôi gia đình, mật độ nuôi thấp.
Triệu chứng:
Bệnh thường phát ra vào mùa đông, gà trống thường bị nhiễm nhẹ, tỉ lệ mắc bệnh lên đến 100%, nhưng tử số rất thấp. Bệnh thường nặng hơn khi nhiễm thêm các bệnh khác như Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm và E.Coli, tử số có thể lên đến 30%.
– Niêm mạc mắt đỏ, sung huyết, chảy nước mắt, nước mắt đặc dần, đóng dày khóe mắt, tích tụ fibrin ngày càng nhiều tạo thành những khối to bằng hạt đậu trong mắt có thể làm cho gà bị mù.
– Viêm mũi, chảy nước mũi, lúc đầu loãng sau đó đặc có màu trắng sữa bám đầy khóe mũi làm gà nghẹt thở.
– Vách các xoang nhất là xoang dưới mắt sưng làm cho mặt gà biến dạng. Đây là triệu chứng điển hình của bệnh. 
– Niêm mạc họng, hầu hết các túi khí bị viêm làm cho con vật khó thở, mào và yếm tím bầm, kiệt sức rồi chết.
Ngoài ra một số trường hợp gà bị viêm khớp, viêm bao màng hoạt dịch. Ngoài ra cũng có một số trường hợp gà có triệu chứng thần kinh. Trứng bị nhiễm khuẩn thì phôi bị chết trước khi nở ra, thường khoảng 10 – 30%.
Phòng bệnh:
Có thể sử dụng vaccine chết MG để phòng bệnh cho gà bằng cách tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Nhưng để thực hiện qui trình phòng bệnh bằng vaccine thì trại ấp phải nhận trứng từ những trại gà được kiểm tra là không bị nhiễm bệnh. Do đó việc phòng bằng vaccine tỏ ra không hiệu quả về mặt kinh tế mà ta nên dùng kháng sinh đặc trị cho gà trong vòng 10 ngày khi nở.

Đọc thêm
Gà tam hoàng có những đặc điểm nổi bật là: Tỷ lệ nuôi sống cao, chống chịu bệnh tật, chịu khó kiếm mồi, phẩm chất thịt và trứng thơm ngon. Sản lượng trứng và thịt cao. Dưới đây Biotech-VET chia sẻ với bà con kỹ thuật nuôi gà Tam Hoàng
I. Đặc điểm ngoại hình giống gà tam hoàng 
Gà tam hoàng có màu lông vàng, mỏ vàng, chân vàng, có thân hình chắc: Ngực nở, bầu bĩnh, nhanh nhẹn, thích kiếm mồi, thịt thơm ngon.Tính chống chịu bệnh tật cao. Lông gà con mới nở không đồng nhất về màu sắc, màu lông biểu hiện chính là màu vàng (62%) sau đó đến màu xám (23%) và một số màu khác với tỷ lệ ít, khoảng cách sai khác giữa màu lông mất dần theo tuổi. Gà trưởng thành chủ yếu là màu vàng. Da chân vàng, mào đơn đỏ, ngực nở, đùi to.
II. Chuẩn bị điều kiện nuôi:
- Chuồng nuôi phải đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông.
- Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày.
- Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10cm được phun sát trùng trước khi sử dụng.
 1. Chuồng trại:
- Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
- Mặt trước cửa chuồng hướng về phía Đông Nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5m để tạo độ thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.

 2. Lồng úm gà con:
- Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75W dùng cho 100 con gà).
- Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải thức ăn trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
- Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.
Đặt hoặc treo xen kẽ các máng uống với máng ăn trong chuồng hoặc vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.
- Gà rất thích tắm cát.
- Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.
- Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.
3. Chọn giống:
- Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.
- Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.
- Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.
- Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.
- Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6-1,7 kg thì rất tốt.
- Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc VitamineC, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
- Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rũ cần cách ly ngay để theo dõi.
- Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.
- Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.
- Ánh sáng: Dùng ánh sáng tự nhiên ban ngày, ban đêm thắp đèn cho gà ăn tự do, dùng máng ăn tự động hình trụ 50 con/máng đổ đầy thức ăn cho 1 ngày đêm, sáng sớm trước khi cho ăn nên kiểm tra và loại bỏ thức ăn thừa hoặc phân trấu dính vào máng ăn. Không thả rèm (chỉ thả khi trời mưa bão lạnh). Cứ 2 tuần 1 lần cân 10% tổng số gà để tính trọng lượng bình quân.
- Phân gà được hốt dọn thường xuyên (nếu nuôi lồng) hoặc cuối đợt (nếu nuôi trên nền trấu) và phải được đem ủ kỹ với vôi bột 3 tháng sau mới đem dùng.
- Phải đưa gà đến các cơ sở giết mổ tập trung và phải có dấu của thú y mới được bán.
4. Thức ăn cho gà:
- Có thể sử dụng thức ăn viên hoặc tận dụng các phụ phụ phẩm nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và Vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.
- Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn viên. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.
- Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.
- Vệ sinh phòng bệnh là công tác chủ yếu, đảm bảo "Ăn sạch, ở sạch, uống sạch". Nền chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.
5. Bệnh thường gặp và cách điều trị:

 * Bệnh thương hàn
Triệu chứng: Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối. Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo.
+ Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn.
Phòng bệnh: Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh: Oxytetracyclin: 50-80mg/gà/ngày, dùng trong 5 ngày. Chloramphenical: 1gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày.
* Bệnh gumboro
Triệu chứng: Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu.
- Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày).
- Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy.
- Ngày thứ 5, 6, 7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm.
- Phòng bệnh bằng vệ sinh: Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi
* Bệnh cầu trùng
Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác.
Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi. Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm.
Phòng bệnh: Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt.
- Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày): Anticoc 1gr/1 lít nước, Baycoc 1ml/ 1 lít nước.
* Bệnh dịch tả
Triệu chứng: Thường biểu hiện ở 2 thể: Cấp tính và mãn tính.
- Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở).
- Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi. Tích, mào tím xanh.
+ Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ.... Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%.
 Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine.

DKT Biotech-VET- Kỹ thuật nuôi gà Tam Hoàng

Gà tam hoàng có những đặc điểm nổi bật là: Tỷ lệ nuôi sống cao, chống chịu bệnh tật, chịu khó kiếm mồi, phẩm chất thịt và trứng thơm ngon. Sản lượng trứng và thịt cao. Dưới đây Biotech-VET chia sẻ với bà con kỹ thuật nuôi gà Tam Hoàng
I. Đặc điểm ngoại hình giống gà tam hoàng 
Gà tam hoàng có màu lông vàng, mỏ vàng, chân vàng, có thân hình chắc: Ngực nở, bầu bĩnh, nhanh nhẹn, thích kiếm mồi, thịt thơm ngon.Tính chống chịu bệnh tật cao. Lông gà con mới nở không đồng nhất về màu sắc, màu lông biểu hiện chính là màu vàng (62%) sau đó đến màu xám (23%) và một số màu khác với tỷ lệ ít, khoảng cách sai khác giữa màu lông mất dần theo tuổi. Gà trưởng thành chủ yếu là màu vàng. Da chân vàng, mào đơn đỏ, ngực nở, đùi to.
II. Chuẩn bị điều kiện nuôi:
- Chuồng nuôi phải đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông.
- Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày.
- Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10cm được phun sát trùng trước khi sử dụng.
 1. Chuồng trại:
- Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
- Mặt trước cửa chuồng hướng về phía Đông Nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5m để tạo độ thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.

 2. Lồng úm gà con:
- Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75W dùng cho 100 con gà).
- Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải thức ăn trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
- Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.
Đặt hoặc treo xen kẽ các máng uống với máng ăn trong chuồng hoặc vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.
- Gà rất thích tắm cát.
- Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.
- Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.
3. Chọn giống:
- Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.
- Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.
- Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.
- Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.
- Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6-1,7 kg thì rất tốt.
- Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc VitamineC, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
- Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rũ cần cách ly ngay để theo dõi.
- Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.
- Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.
- Ánh sáng: Dùng ánh sáng tự nhiên ban ngày, ban đêm thắp đèn cho gà ăn tự do, dùng máng ăn tự động hình trụ 50 con/máng đổ đầy thức ăn cho 1 ngày đêm, sáng sớm trước khi cho ăn nên kiểm tra và loại bỏ thức ăn thừa hoặc phân trấu dính vào máng ăn. Không thả rèm (chỉ thả khi trời mưa bão lạnh). Cứ 2 tuần 1 lần cân 10% tổng số gà để tính trọng lượng bình quân.
- Phân gà được hốt dọn thường xuyên (nếu nuôi lồng) hoặc cuối đợt (nếu nuôi trên nền trấu) và phải được đem ủ kỹ với vôi bột 3 tháng sau mới đem dùng.
- Phải đưa gà đến các cơ sở giết mổ tập trung và phải có dấu của thú y mới được bán.
4. Thức ăn cho gà:
- Có thể sử dụng thức ăn viên hoặc tận dụng các phụ phụ phẩm nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và Vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.
- Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn viên. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.
- Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.
- Vệ sinh phòng bệnh là công tác chủ yếu, đảm bảo "Ăn sạch, ở sạch, uống sạch". Nền chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.
5. Bệnh thường gặp và cách điều trị:

 * Bệnh thương hàn
Triệu chứng: Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối. Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo.
+ Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn.
Phòng bệnh: Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh: Oxytetracyclin: 50-80mg/gà/ngày, dùng trong 5 ngày. Chloramphenical: 1gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày.
* Bệnh gumboro
Triệu chứng: Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu.
- Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày).
- Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy.
- Ngày thứ 5, 6, 7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm.
- Phòng bệnh bằng vệ sinh: Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi
* Bệnh cầu trùng
Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác.
Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi. Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm.
Phòng bệnh: Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt.
- Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày): Anticoc 1gr/1 lít nước, Baycoc 1ml/ 1 lít nước.
* Bệnh dịch tả
Triệu chứng: Thường biểu hiện ở 2 thể: Cấp tính và mãn tính.
- Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở).
- Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi. Tích, mào tím xanh.
+ Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ.... Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%.
 Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine.
Đọc thêm
Bệnh phù thủng trên heo do vi khuẩn E. coli gây ra (dòng E. coli sản xuất độc tố hướng mạch máu).
Nguyên nhân của bệnh phù thủng ở heo
Do vi khuẩn E. coli gây ra (dòng E. coli sản xuất độc tố hướng mạch máu).  
Điều kiện gây bệnh phù thủng ở heo
Chuồng trại dơ bẩn do thiếu vệ sinh
Stress: do tách mẹ, chuyển chuồng, thay đổi thức ăn đột ngột…
Heo ăn nhiều, chưa quen tiêu hóa, protein còn thứa không hấp thu là môi trường thuận lợi để E. coli phát triển mạnh.  
Nguồn nước bị ô nhiễm Sự tiêu hóa thức ăn kém nhất là giai đoạn cai sữa.


Triệu chứng của bệnh phù thủng ở heo
Heo mệt mỏi, biếng ăn trong vài ngày, rải rác trong bầy, nặng nhẹ khác nhau.
Triệu chứng thần kinh: mất thăng bằng, xiêu vẹo, co giật, liệt trước khi chết.
Triệu chứng tiêu hóa: kém ăn, khó nuốt, tiêu chảy thông thường hoặc tiêu chảy ra máu kèm theo (do phụ nhiễm).
Triệu chứng tuần hoàn: phù thủng ở mí mắt, vùng cổ họng da trở nên đỏ, có thể xuất huyết ở những vùng da mỏng.
Triệu chứng hô hấp: khó thở Chú ý: thân nhiệt heo bình thường  

Bệnh tích:
Tràn dịch xoang bụng, xoang ngực.
Thuỷ thủng: dưới da, niêm mạc dày, ruột non, thanh quản, quanh hạch bạch huyết. Xuất huyết điểm ở thận. 

Điều trị bệnh phù thủng ở heo
Ngưng cho ăn thức ăn trong 2 ngày. Uống nước sạch tự do.
Sử dụng kháng sinh:  Colistin, Gentamycin, Baytril. Chích multibio 1ml/ 10 kg trọng lượng.
Cung cấp các chất thay thế thức ăn: Diet scour Trợ sức, trợ lực: Vitamin C, gluconat Ca bảo vệ mạch máu.  

Phòng bệnh phù thủng ở heo
Khắc phục các nguyên nhân điều kiện gây bệnh.
Trong đó có yếu tố vệ sinh chuồng trại, thức ăn, nước uống cũng mang tính quyết định nhằm hạn chế sự có mặt của dòng E. coli sản xuất độc tố lây nhiễm nhiều vào đường tiêu hoá.
Đối với heo cai sữa, không nên cho heo ăn nhiều trong những ngày đầu tách mẹ, vì sau cai sữa heo con sẽ ăn nhiều hơn do thiếu nguồn sữa mẹ dẫn đến tình trạng dư thừa đạm, một nguyên nhân thường gây ra bệnh phù thủng heo con này. Khẩu phần cho heo con cai sữa được tăng dần và ăn bình thường trong những ngày sau kèm theo việc trộn thêm vào một số kháng sinh hạn chế sự phát triển của một số vi khuẩn có hại trong đường ruột để phòng tiêu chảy.

DKT Biotech-VET- Phòng trị bệnh phù thủng ở heo

Bệnh phù thủng trên heo do vi khuẩn E. coli gây ra (dòng E. coli sản xuất độc tố hướng mạch máu).
Nguyên nhân của bệnh phù thủng ở heo
Do vi khuẩn E. coli gây ra (dòng E. coli sản xuất độc tố hướng mạch máu).  
Điều kiện gây bệnh phù thủng ở heo
Chuồng trại dơ bẩn do thiếu vệ sinh
Stress: do tách mẹ, chuyển chuồng, thay đổi thức ăn đột ngột…
Heo ăn nhiều, chưa quen tiêu hóa, protein còn thứa không hấp thu là môi trường thuận lợi để E. coli phát triển mạnh.  
Nguồn nước bị ô nhiễm Sự tiêu hóa thức ăn kém nhất là giai đoạn cai sữa.


Triệu chứng của bệnh phù thủng ở heo
Heo mệt mỏi, biếng ăn trong vài ngày, rải rác trong bầy, nặng nhẹ khác nhau.
Triệu chứng thần kinh: mất thăng bằng, xiêu vẹo, co giật, liệt trước khi chết.
Triệu chứng tiêu hóa: kém ăn, khó nuốt, tiêu chảy thông thường hoặc tiêu chảy ra máu kèm theo (do phụ nhiễm).
Triệu chứng tuần hoàn: phù thủng ở mí mắt, vùng cổ họng da trở nên đỏ, có thể xuất huyết ở những vùng da mỏng.
Triệu chứng hô hấp: khó thở Chú ý: thân nhiệt heo bình thường  

Bệnh tích:
Tràn dịch xoang bụng, xoang ngực.
Thuỷ thủng: dưới da, niêm mạc dày, ruột non, thanh quản, quanh hạch bạch huyết. Xuất huyết điểm ở thận. 

Điều trị bệnh phù thủng ở heo
Ngưng cho ăn thức ăn trong 2 ngày. Uống nước sạch tự do.
Sử dụng kháng sinh:  Colistin, Gentamycin, Baytril. Chích multibio 1ml/ 10 kg trọng lượng.
Cung cấp các chất thay thế thức ăn: Diet scour Trợ sức, trợ lực: Vitamin C, gluconat Ca bảo vệ mạch máu.  

Phòng bệnh phù thủng ở heo
Khắc phục các nguyên nhân điều kiện gây bệnh.
Trong đó có yếu tố vệ sinh chuồng trại, thức ăn, nước uống cũng mang tính quyết định nhằm hạn chế sự có mặt của dòng E. coli sản xuất độc tố lây nhiễm nhiều vào đường tiêu hoá.
Đối với heo cai sữa, không nên cho heo ăn nhiều trong những ngày đầu tách mẹ, vì sau cai sữa heo con sẽ ăn nhiều hơn do thiếu nguồn sữa mẹ dẫn đến tình trạng dư thừa đạm, một nguyên nhân thường gây ra bệnh phù thủng heo con này. Khẩu phần cho heo con cai sữa được tăng dần và ăn bình thường trong những ngày sau kèm theo việc trộn thêm vào một số kháng sinh hạn chế sự phát triển của một số vi khuẩn có hại trong đường ruột để phòng tiêu chảy.
Đọc thêm
Gà tam hoàng có màu lông vàng, mỏ vàng, chân vàng, có thân hình chắc: ngực nở, bầu bĩnh, nhanh nhẹn, thích kiếm mồi, thịt thơm ngon. Tính chống chịu bệnh tật cao. Lông gà con mới nở không đồng nhất về màu sắc, màu lông biểu hiện chính là màu vàng (62%) sau đó đến màu xám (23%) và một số màu khác với tỷ lệ ít, khoảng cách sai khác giữa màu lông mất dần theo tuổi. Gà trưởng thành chủ yếu là màu vàng. Da chân vàng, mào đơn đỏ, ngực nở, đùi to.
Khối lượng cơ thể lúc mới sinh là 35g (Theo sử An Ninh và đồng nghiệp- 2003). Dòng 882 màu lông vàng hoặc lốm đốm đen, đa số có cườm cổ, ở 11 tuần tuổi trống nặng 1,4 - 1,45 kg, mái nặng 1,2 kg. Dòng Jiangcun lông màu vàng tuyền, ở 11 tuần tuổi con trống 1,3 kg; con mái nặng trên dưới 1kg ( Theo hội chăn nuôi Việt nam - 2002).
 Nếu được nuôi tốt dòng Jiangcun đạt 1,8 kg/ con/ 11- 12 tuần tuổi (Theo Nguyễn Thiện - 1999) gà mái lúc 5 tháng tuổi đã đẻ bói, lúc gần 7 tháng tuổi tỷ lệ đẻ đạt trên 60%. Sản lượng trứng dòng Jiangcun đạt 170 quả/ mái/ năm, dòng 882 đạt 156 quả/ mái/ năm. (Theo Hội chăn nuôi Việt nam - 2002). Khối lượng trứng 51 - 52 g/ quả, tỷ lệ trứng có phôi đạt 95%, tỷ lệ nở so với trứng có phôi đạt 83% ( Theo Nguyễn Thiện -1999). Tỷ lệ nuôi sống đến 2 tuần tuổi là 95%.
Gà Tam Hoàng có những đặc điểm nổi bật là: tỷ lệ nuôi sống cao, chống chịu bệnh tật, chịu khó kiêm mồi, phẩm chất thịt và trứng thơm ngon, sản lượng trứng và thịt cao hơn các giống gà nội Việt Nam, hợp với thị hiêu của người nuôi và tiêu dùng ở Việt nam. Do đó, gà Tam Hoàng được nuôi khắp 3 miền: Bắc - Trung - Nam với số lượng trên triệu con để lấy thịt và trứng.

DKT Biotech-VET- Đặc điểm của giống gà Tam Hoàng

Gà tam hoàng có màu lông vàng, mỏ vàng, chân vàng, có thân hình chắc: ngực nở, bầu bĩnh, nhanh nhẹn, thích kiếm mồi, thịt thơm ngon. Tính chống chịu bệnh tật cao. Lông gà con mới nở không đồng nhất về màu sắc, màu lông biểu hiện chính là màu vàng (62%) sau đó đến màu xám (23%) và một số màu khác với tỷ lệ ít, khoảng cách sai khác giữa màu lông mất dần theo tuổi. Gà trưởng thành chủ yếu là màu vàng. Da chân vàng, mào đơn đỏ, ngực nở, đùi to.
Khối lượng cơ thể lúc mới sinh là 35g (Theo sử An Ninh và đồng nghiệp- 2003). Dòng 882 màu lông vàng hoặc lốm đốm đen, đa số có cườm cổ, ở 11 tuần tuổi trống nặng 1,4 - 1,45 kg, mái nặng 1,2 kg. Dòng Jiangcun lông màu vàng tuyền, ở 11 tuần tuổi con trống 1,3 kg; con mái nặng trên dưới 1kg ( Theo hội chăn nuôi Việt nam - 2002).
 Nếu được nuôi tốt dòng Jiangcun đạt 1,8 kg/ con/ 11- 12 tuần tuổi (Theo Nguyễn Thiện - 1999) gà mái lúc 5 tháng tuổi đã đẻ bói, lúc gần 7 tháng tuổi tỷ lệ đẻ đạt trên 60%. Sản lượng trứng dòng Jiangcun đạt 170 quả/ mái/ năm, dòng 882 đạt 156 quả/ mái/ năm. (Theo Hội chăn nuôi Việt nam - 2002). Khối lượng trứng 51 - 52 g/ quả, tỷ lệ trứng có phôi đạt 95%, tỷ lệ nở so với trứng có phôi đạt 83% ( Theo Nguyễn Thiện -1999). Tỷ lệ nuôi sống đến 2 tuần tuổi là 95%.
Gà Tam Hoàng có những đặc điểm nổi bật là: tỷ lệ nuôi sống cao, chống chịu bệnh tật, chịu khó kiêm mồi, phẩm chất thịt và trứng thơm ngon, sản lượng trứng và thịt cao hơn các giống gà nội Việt Nam, hợp với thị hiêu của người nuôi và tiêu dùng ở Việt nam. Do đó, gà Tam Hoàng được nuôi khắp 3 miền: Bắc - Trung - Nam với số lượng trên triệu con để lấy thịt và trứng.
Đọc thêm
Nguyên nhân gây bệnh lở mồm long móng gia súc.
Bệnh lở mồm, long móng gia súc (LMLM) là bệnh truyền nhiễm, lây lan nhanh, gây ra bởi 1 trong 7 type vi rút: Type A, O, C, Asia1, SAT1, SAT2, SAT3, với hơn 60 phân type. ở Việt Nam đã phát hiện bệnh gây ra bởi 3 type A, O và  Asia1. Bệnh LMLM lây lan qua đường tiếp xúc giữa động vật khoẻ với động vật, sản phẩm động vật, thức ăn, nước uống, không khí, chất thải, dụng cụ, phương tiện vận chuyển, có măng mầm bệnh. Bệnh lây lan từ vùng này sang vùng khác, tỉnh này sang tỉnh khác, nước này sang nước khác theo đường vận chuyển động vật, sản phẩm động vật ở dạng tươi sống (kể cả thịt ướp đông, da, xương, sừng, móng, sữa, lông,... ). Động vật mắc bệnh LMLM là các loài động vật có móng guốc chẵn như: trâu, bò, lợn, dê, cừu, hưu, nai,...
Theo Tổ chức Thú y thế giới (OIE), đây là bệnh dịch xếp đầu tiên ở bảng A (gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất cho chăn nuôi và hạn chế thương mại đối với động vật, sản phẩm động vật).
Triệu chứng bệnh lở mồm long móng gia súc.
Thời kỳ ủ bệnh LMLM gia súc thường từ 2 -5 ngày (đối với trâu, bò) và 5- 7 ngày (đối với lợn), nhiều nhất là 21 ngày. Khi phát bệnh gia súc có triệu chứng: trong 2 - 3 ngày đầu gia súc sốt cao trên 40oC, mệt mỏi, lông dựng, mũi khô, da nóng; đứng lên, nằm xuống khó khăn, kém ăn; miệng chảy nhiều nước dãi có bọt; bị viêm dạng mụn nước ở lợi, vành mũi, vành móng, kẽ móng chân, đầu vú. Khi mụn nước vỡ ra sẽ làm lở, loét ở mồm, móng chân; bệnh nặng có thể làm long móng, nhất là ở lợn. Con vật đi lại khó khăn, thường đi khập khiễng, run rẩy. Ngoài ra, đối với bò khi bị bệnh thường hay nâng chân lên rồi lại hạ chân xuống nhiều lần, ở lợn thì thường hay ở tư thế ngồi hoặc quỳ hai đầu gối chân trước.
Sau phát bệnh từ 10 đến 15 ngày, con vật có thể khỏi về triệu chứng lâm sàng, nhưng mầm bệnh vẫn tồn tại trong con vật từ 3-4 tuần (đối với lợn), 4 tháng (đối với dê), 9 tháng đối với cừu, 2-3 năm (đối với trâu, bò) và tiếp tục thải mầm bệnh ra môi trường làm phát sinh và lây lan dịch bệnh.
Phòng bệnh lở mồm long móng.
Bợ̀nh LMLM có thể hạn chế được thiệt hại đáng kể bằng các biện pháp  vệ sinh phòng dịch, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, tiêm phòng vắcxin.
- Tăng cường công tác tuyên truyền để mọi người hiểu biết về nguyên nhân, triệu chứng, tác hại và cách phòng, chống bệnh bệnh LMLM.
- Thực hiện tiêm phòng vắcxin, nhất là vùng khống chế, vùng đệm, vùng có dịch xảy ra trong vòng 2 năm gần đây. Thực hiện tiêm phòng hai lần trong một năm, lần thứ nhất cách lần thứ hai 6 tháng, lần thứ nhất nên tiêm vào tháng 3 - 4 trong năm, lần thứ hai nên tiêm vào tháng 9 - 10  trong năm.
- Vận động mọi người chăn nuôi gia súc cam kết thực hiện “5 không”: không dấu dịch; không mua gia súc, sản phẩm gia súc mắc bệnh; không bán chạy gia súc mắc bệnh; không thả rông gia súc, không vận chuyển gia súc bị bệnh ra khỏi vùng dịch; không vứt xác gia súc bừa bãi ra môi trường.
- Cách ly triệt để gia súc ốm, không cho chăn thả tập trung; thường xuyên thực hiện vệ sinh chuồng trại, bãi chăn thả, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, diệt loài gậm nhấm,... thực hiện tiêu độc, khử trùng khu vực có gia súc bị ốm, chết. Có thể dùng một trong các hoá chất sau để tiêu độc, khử trùng: Formol  2%, NaOH 2%, Crezin 5%, nước vôi 20%, vôi bột và một số hoá chất khác được sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, cán bộ thú y.
- Con giống đưa vào chăn nuôi phải khoẻ mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, đã được tiêm phòng LMLM; trước khi nhập đàn phải được nuôi cách ly 21 ngày. Thức ăn, nước uống dùng trong chăn nuôi phải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y. Người vào thăm quan, nhân viên thú y,... trước khi ra, vào khu vực chăn nuôi phải phải được vệ sinh, khử trùng và trang bị bảo hộ.
- Thực hiện kiểm dịch động vật nghiêm ngặt để khỏi bị lây lan theo địa lý.
- Khi phát hiện có dịch phải công bố dịch theo qui định và thực hiện các biện pháp hành chính, kỹ thuật kịp thời, triệt để nhằm ngăn chặn sự lây lan.
Chữa bệnh lở mồm long móng gia súc.
Vi rút LMLM dễ bị bởi ánh nắng mặt trời, nhiệt độ cao (như nước đun sôi 100oC), các chất có độ toan cao như quả khế chua (pH ³ 3) và các chất kiềm mạnh như xút (pH ³ 9). Vi rút có thể sống nhiều ngày trong chất thải hữu cơ ở chuồng nuôi, các chất có độ kiềm nhẹ (pH từ 7,2 - 7,8); trong thịt ướp đông vi rút có thể sống trong nhiều tháng.
Khi bị nhiễm bệnh LMLM, nếu không được điều trị kịp thời, gia súc non thường bị chết ở tỷ lệ từ 20 – 50%, gia súc trưởng thành thường bị chết từ 2 – 5%, tỷ lệ mắc bệnh trong một đàn thường là 100%. Đến nay, bợ̀nh LMLM chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu, chỉ có thuốc chữa triệu chứng. Chữa triệu chứng nhằm làm cho vết thương nhanh chóng lành thành sẹo và không gây ra các biến chứng nguy hiểm làm chết gia súc.
- Chữa miệng: Dùng các chất sát trùng nhẹ, các loại quả chua như khế, chanh bóp mền, rưới nước (hoặc bơm xịt nước), trà đi, sát lại ở lưỡi, mặt trong má, hàm trên, lợi, bỏ bã vào miệng cho con vật nhai. Dùng vải mỏng thấm nước nói trên xoa vào vùng vết thương 2 – 3 lần/ngày và xoa trong vòng 4 – 5 ngày. Có thể dùng một trong các chất như: xanh Methylen 1%, thuốc tím 1%, Formol  1%, phèn chua 3%, axit acetic 3% hoặc dùng thuốc mỡ Tetracilin, Penicilin bôi vào vết thương.
- Chữa móng: Rửa sạch chân gia súc bằng nước muối, nước lá chát, hoặc thuốc tím, phèn chua, dấm ăn; sau đó bôi các chất sát trùng hút mủ, nhanh lên da non lên vùng móng bị bệnh (bột xoan trộn với dầu lạc, diêm sinh). Để đề phòng ruồi nhặng đẻ trứng vào kẽ móng, có thể dùng Cresin pha loãng hoặc dùng thuốc lào, một ít băng phiến đắp vào vết thương.
- Chữa vú: Rửa mụn loét bằng nước muối ấm, dung dịch axit boric 2-3% hoặc nước xà phòng, sau đó bôi dầu cá, các thuốc sát trùng vào vết thương.
- Chăm sóc cho gia súc, đảm bảo giữ chuồng khô ráo, sạch sẽ, lót chuồng dày cho gia súc nằm, cho ăn cỏ tươi, cỏ mền; bổ sung cho gia súc ăn cháo khi bị bệnh nặng.
Cùng với việc điều trị bệnh, cần tiến hành tiêu độc khử trùng chuồng trại, môi trường xung quanh khu vực có gia súc bị bệnh và các vật dụng có liên quan đến gia súc ốm, chết; thực hiện nuôi nhốt, cách ly gia súc,... theo hướng dẫn của cán bộ thú y. Đối với vùng lần đầu tiên phát hiện có dịch, diện dịch hẹp, số lượng gia súc mắc bệnh ít hoặc mắc bệnh do vi rút type mới gây ra, thì biện pháp hiệu quả nhất là tiêu huỷ toàn bộ gia súc nhiễm bệnh, để nhanh chóng dập tắt ổ dịch./.

DKT Biotech-VET- Chữa bệnh lở mồm long móng gia súc

Nguyên nhân gây bệnh lở mồm long móng gia súc.
Bệnh lở mồm, long móng gia súc (LMLM) là bệnh truyền nhiễm, lây lan nhanh, gây ra bởi 1 trong 7 type vi rút: Type A, O, C, Asia1, SAT1, SAT2, SAT3, với hơn 60 phân type. ở Việt Nam đã phát hiện bệnh gây ra bởi 3 type A, O và  Asia1. Bệnh LMLM lây lan qua đường tiếp xúc giữa động vật khoẻ với động vật, sản phẩm động vật, thức ăn, nước uống, không khí, chất thải, dụng cụ, phương tiện vận chuyển, có măng mầm bệnh. Bệnh lây lan từ vùng này sang vùng khác, tỉnh này sang tỉnh khác, nước này sang nước khác theo đường vận chuyển động vật, sản phẩm động vật ở dạng tươi sống (kể cả thịt ướp đông, da, xương, sừng, móng, sữa, lông,... ). Động vật mắc bệnh LMLM là các loài động vật có móng guốc chẵn như: trâu, bò, lợn, dê, cừu, hưu, nai,...
Theo Tổ chức Thú y thế giới (OIE), đây là bệnh dịch xếp đầu tiên ở bảng A (gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất cho chăn nuôi và hạn chế thương mại đối với động vật, sản phẩm động vật).
Triệu chứng bệnh lở mồm long móng gia súc.
Thời kỳ ủ bệnh LMLM gia súc thường từ 2 -5 ngày (đối với trâu, bò) và 5- 7 ngày (đối với lợn), nhiều nhất là 21 ngày. Khi phát bệnh gia súc có triệu chứng: trong 2 - 3 ngày đầu gia súc sốt cao trên 40oC, mệt mỏi, lông dựng, mũi khô, da nóng; đứng lên, nằm xuống khó khăn, kém ăn; miệng chảy nhiều nước dãi có bọt; bị viêm dạng mụn nước ở lợi, vành mũi, vành móng, kẽ móng chân, đầu vú. Khi mụn nước vỡ ra sẽ làm lở, loét ở mồm, móng chân; bệnh nặng có thể làm long móng, nhất là ở lợn. Con vật đi lại khó khăn, thường đi khập khiễng, run rẩy. Ngoài ra, đối với bò khi bị bệnh thường hay nâng chân lên rồi lại hạ chân xuống nhiều lần, ở lợn thì thường hay ở tư thế ngồi hoặc quỳ hai đầu gối chân trước.
Sau phát bệnh từ 10 đến 15 ngày, con vật có thể khỏi về triệu chứng lâm sàng, nhưng mầm bệnh vẫn tồn tại trong con vật từ 3-4 tuần (đối với lợn), 4 tháng (đối với dê), 9 tháng đối với cừu, 2-3 năm (đối với trâu, bò) và tiếp tục thải mầm bệnh ra môi trường làm phát sinh và lây lan dịch bệnh.
Phòng bệnh lở mồm long móng.
Bợ̀nh LMLM có thể hạn chế được thiệt hại đáng kể bằng các biện pháp  vệ sinh phòng dịch, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, tiêm phòng vắcxin.
- Tăng cường công tác tuyên truyền để mọi người hiểu biết về nguyên nhân, triệu chứng, tác hại và cách phòng, chống bệnh bệnh LMLM.
- Thực hiện tiêm phòng vắcxin, nhất là vùng khống chế, vùng đệm, vùng có dịch xảy ra trong vòng 2 năm gần đây. Thực hiện tiêm phòng hai lần trong một năm, lần thứ nhất cách lần thứ hai 6 tháng, lần thứ nhất nên tiêm vào tháng 3 - 4 trong năm, lần thứ hai nên tiêm vào tháng 9 - 10  trong năm.
- Vận động mọi người chăn nuôi gia súc cam kết thực hiện “5 không”: không dấu dịch; không mua gia súc, sản phẩm gia súc mắc bệnh; không bán chạy gia súc mắc bệnh; không thả rông gia súc, không vận chuyển gia súc bị bệnh ra khỏi vùng dịch; không vứt xác gia súc bừa bãi ra môi trường.
- Cách ly triệt để gia súc ốm, không cho chăn thả tập trung; thường xuyên thực hiện vệ sinh chuồng trại, bãi chăn thả, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, diệt loài gậm nhấm,... thực hiện tiêu độc, khử trùng khu vực có gia súc bị ốm, chết. Có thể dùng một trong các hoá chất sau để tiêu độc, khử trùng: Formol  2%, NaOH 2%, Crezin 5%, nước vôi 20%, vôi bột và một số hoá chất khác được sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, cán bộ thú y.
- Con giống đưa vào chăn nuôi phải khoẻ mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, đã được tiêm phòng LMLM; trước khi nhập đàn phải được nuôi cách ly 21 ngày. Thức ăn, nước uống dùng trong chăn nuôi phải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y. Người vào thăm quan, nhân viên thú y,... trước khi ra, vào khu vực chăn nuôi phải phải được vệ sinh, khử trùng và trang bị bảo hộ.
- Thực hiện kiểm dịch động vật nghiêm ngặt để khỏi bị lây lan theo địa lý.
- Khi phát hiện có dịch phải công bố dịch theo qui định và thực hiện các biện pháp hành chính, kỹ thuật kịp thời, triệt để nhằm ngăn chặn sự lây lan.
Chữa bệnh lở mồm long móng gia súc.
Vi rút LMLM dễ bị bởi ánh nắng mặt trời, nhiệt độ cao (như nước đun sôi 100oC), các chất có độ toan cao như quả khế chua (pH ³ 3) và các chất kiềm mạnh như xút (pH ³ 9). Vi rút có thể sống nhiều ngày trong chất thải hữu cơ ở chuồng nuôi, các chất có độ kiềm nhẹ (pH từ 7,2 - 7,8); trong thịt ướp đông vi rút có thể sống trong nhiều tháng.
Khi bị nhiễm bệnh LMLM, nếu không được điều trị kịp thời, gia súc non thường bị chết ở tỷ lệ từ 20 – 50%, gia súc trưởng thành thường bị chết từ 2 – 5%, tỷ lệ mắc bệnh trong một đàn thường là 100%. Đến nay, bợ̀nh LMLM chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu, chỉ có thuốc chữa triệu chứng. Chữa triệu chứng nhằm làm cho vết thương nhanh chóng lành thành sẹo và không gây ra các biến chứng nguy hiểm làm chết gia súc.
- Chữa miệng: Dùng các chất sát trùng nhẹ, các loại quả chua như khế, chanh bóp mền, rưới nước (hoặc bơm xịt nước), trà đi, sát lại ở lưỡi, mặt trong má, hàm trên, lợi, bỏ bã vào miệng cho con vật nhai. Dùng vải mỏng thấm nước nói trên xoa vào vùng vết thương 2 – 3 lần/ngày và xoa trong vòng 4 – 5 ngày. Có thể dùng một trong các chất như: xanh Methylen 1%, thuốc tím 1%, Formol  1%, phèn chua 3%, axit acetic 3% hoặc dùng thuốc mỡ Tetracilin, Penicilin bôi vào vết thương.
- Chữa móng: Rửa sạch chân gia súc bằng nước muối, nước lá chát, hoặc thuốc tím, phèn chua, dấm ăn; sau đó bôi các chất sát trùng hút mủ, nhanh lên da non lên vùng móng bị bệnh (bột xoan trộn với dầu lạc, diêm sinh). Để đề phòng ruồi nhặng đẻ trứng vào kẽ móng, có thể dùng Cresin pha loãng hoặc dùng thuốc lào, một ít băng phiến đắp vào vết thương.
- Chữa vú: Rửa mụn loét bằng nước muối ấm, dung dịch axit boric 2-3% hoặc nước xà phòng, sau đó bôi dầu cá, các thuốc sát trùng vào vết thương.
- Chăm sóc cho gia súc, đảm bảo giữ chuồng khô ráo, sạch sẽ, lót chuồng dày cho gia súc nằm, cho ăn cỏ tươi, cỏ mền; bổ sung cho gia súc ăn cháo khi bị bệnh nặng.
Cùng với việc điều trị bệnh, cần tiến hành tiêu độc khử trùng chuồng trại, môi trường xung quanh khu vực có gia súc bị bệnh và các vật dụng có liên quan đến gia súc ốm, chết; thực hiện nuôi nhốt, cách ly gia súc,... theo hướng dẫn của cán bộ thú y. Đối với vùng lần đầu tiên phát hiện có dịch, diện dịch hẹp, số lượng gia súc mắc bệnh ít hoặc mắc bệnh do vi rút type mới gây ra, thì biện pháp hiệu quả nhất là tiêu huỷ toàn bộ gia súc nhiễm bệnh, để nhanh chóng dập tắt ổ dịch./.
Đọc thêm